1
BÀI GIẢNG
DÂN SỐ VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1. Đặt vấn đề
Quan hệ giữa dân số với môi trường là một trong những yếu tố quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, đối với mỗi quốc gia cần phải
quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân số với môi trường. Bản tuyên bố
Amxtecdam năm 1989 đã khẳng định: “Dân số, môi trường và tài nguyên là
một thể liên kết khăng khít” và nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo “Mối liên
hệ bền vững giữa số lượng người, nguồn tài nguyên và sự phát triển”.
Hiện nay chúng ta đang đứng trước tình trạng quá tải dân số, nguy cơ
môi trường bị huỷ hoại, ô nhiễm và khan hiếm tài nguyên do tình trạng khai
thác bừa bãi… Chất lượng cuộc sống và sức khoẻ của con người ngày càng bị
đe doạ. Đứng trước tình hình đó đòi hỏi con người phải có sự thay đổi hành vi
đối với vấn đề môi trường và kiểm soát tốc độ tăng dân số.
Nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên môi
trường trong sự phát triển bền vững, thực hiện tốt chính sách bảo vệ, tái tạo sử
dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên môi trường là đòi hỏi hết sức cấp bách đối
với các cấp, các ngành, đối với mọi người và đặc biệt là đối với đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý.
2. Mục đích, yêu cầu
Trang bị cho người học một số vấn đề cơ bản về thực trạng tác động
của dân số với tài nguyên môi trường trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay.
Nhận thức về sự cân bằng dân số với tài nguyên môi trường đối với sự phát
triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.
3. Nội dung
I. THỰC TRẠNG DÂN SỐ VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Một số khái niệm liên quan.
tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”1.
Khái niệm môi trường theo định nghĩa của Luật bảo vệ môi trường bao
hàm môi trường tự nhiên và môi trường sinh thái.
Môi trường tự nhiên: là các điều kiện tự nhiên bao quanh sinh vật có
ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật
1
Luật bảo vệ môi trường và Nghị định hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 5 - 6.
3
(không khí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp sự sống cho mọi sinh
vật,…)
Môi trường tự nhiên có các yếu tố cơ bản cấu thành như: khí hậu, địa
hình, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật (động vật và thực vật). Các yếu tố này
luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động quy định lẫn nhau, tạo nên
một hệ thống cân bằng hoàn chỉnh.
Môi trường sinh thái: Là môi trường tự nhiên khi có sự tác động của
con người.
Nếu con người tác động đúng hướng sẽ tạo nên sự cân bằng sinh thái;
và ngược lại, nếu tác động sai sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái.
Ví dụ, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cuộc sống của con
người, Việc khai phá các khu vực thiên nhiên xây dựng khu sinh thái song
quá nặng về kinh doanh gây tổn hại đến môi trường,…
1.2. Tài nguyên
Tài nguyên theo nghĩa rộng là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử
dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người.
Có nhiều cách phân loại tài nguyên:
- Theo qua hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội
Khái niệm: Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu
cầu trong hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng làm thoả mãn nhu cầu
của các thế hệ trong tương lai.
Thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XX,
nhận được chú ý của giới nghiên cứu về môi trường và phát triển nhờ sự ra
đời của công trình “chiến lược bảo tồn thế giới”.
Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển bền vững tại Rio Janiero (Brazil) tháng 6/1992 đã đưa ra ý kiến thống nhất của 170 quốc gia về
sự cần thiết phải xây dựng một xã hội phát triển bền vững trên trái đất. Hội
nghị đã đề ra 8 nguyên tắc xây dựng một xã hội phát triển bền vững.
Nguyên tắc 1. Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng.
Nguyên tắc 2. Cải thiện chất lượng cuộc sống con người.
Nguyên tắc 3. Bảo vệ sức sống và sự đa dạng của trái đất.
Nguyên tắc 4. Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của trái đất.
Nguyên tắc 5. Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân.
Nguyên tắc 6. Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình.
Nguyên tắc 7. Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi
cho việc phát triển và bảo vệ.
Nguyên tắc 8. Xây dựng một khối liên minh toàn cầu.
2. Những biến đổi về dân số, tài nguyên và môi trường trên thế giới
2.1. Phát triển dân số và đô thị hoá
- Tốc độ về quy mô phát triển dân số của thế giới thay đổi theo từng
thời gian và giai đoạn sau bao giờ cũng nhanh hơn giai đoạn trước. Chẳng
5
hạn, dân số thế giới năm 1950 mới có 2,5 tỉ người, thì năm 1990 đã là 5,2 tỉ
người và hiện nay tính đến thời điểm 2009 là 6,777 tỉ người, đến năm 2025 dự
đoán là 8,5 tỉ người.
- Sự gia tăng các đô thị và tốc độ gia tăng dân số chóng mặt đã tạo nên
một số vấn đề thách thức về môi trường ở phạm vi quốc gia và địa phương.
Điểm 3.24; 3.25; 3.26 “Chương trình hành động Cairo” 1994.
6
Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người. Đất có hai nghĩa:
Đất đai (land) là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng
(soil) là mặt bằng để sản xuất nông, lâm nghiệp. Đất nghĩa thổ nhưỡng là là
vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều
yếu tố: đá gốc, động vật, thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian.
Hiện nay quỹ đất cả thế giới là 14.777 triệu ha với mật độ trung bình 43
người/km2. Trong đó đất do con người sử dụng chiếm 37%.
Diện tích đất bình quân đầu người ở các khu vực khác nhau: châu Á: 0,8
ha, châu Âu: 0,91 ha. Mặc dù đất trồng trọt trong thập kỷ vừa qua tăng 1,8%/
năm, nhưng do tăng trưởng dân số quá cao nên diện tích bình quân trên đầu
người ngày càng suy giảm. Mặt khác đất trồng trọt thường do phá rừng mà có
nên đã gây nên tác hại khôn lường về môi trường như rửa trôi, bạc màu, xói
mòn, nhiễm mặn, nhiễm phèn, ô nhiễm, lũ lụt… Hiện nay trên 10% đất có tiềm
năng nông nghiệp bị xa mạc hoá, tốc độ xa mạc hoá ở xa mạc Sahara là
100m/năm, hoặc 100.000ha/năm. Diện tích đất bị thoái hoá của Trung Quốc là
280 triệu ha, chiếm 30% diện tích lãnh thổ, trong đó 36,67 triệu ha đất đồi bị
xói mòn nặng; 6,67 triệu ha bị chua măn; 4 triệu ha úng lầy. Ấn Độ hàng năm
bị mất khoảng 3,7 triệu ha đất canh tác do các nguyên nhân trên.
Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nên hệ sinh thái đất thường bị ô
nhiễm bởi các hoạt động của con người. Ô nhiễm đất có thể phân loại theo
nguồn gốc phát sinh thành ô nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh
hoạt, chất thải của các hoạt động nông nghiệp, ô nhiễm nước và không khí từ
các khu dân cư tập trung.
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ
vai trò to lớn đối với con người: cung cấp nguồn gỗ, củi; điều hoà khí hậu, tạo
ra ôxy; điều hoà nước; nơi cư trú của các loài động thực vật và tàng trữ nguồn
tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn nước.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất
mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều
hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể
nói sự sống của con người và sinh vật trên trái đất đều phụ thuộc vào nước.
Trên toàn thế giới 27% lượng nước là nước biển, trong số này có tới
69% ở dạng băng, tuyết. Lượng nước để con người sử dụng từ các hồ, sông,
suối chỉ chiếm 0,008% tổng lượng nước của toàn thế giới. Nông nghiệp và
công nghiệp đều cần một lượng nước rất lớn. Chỉ trong một thế kỷ, lượng
nước dùng cho nông nghiệp tăng từ 50 tỷ m 3 lên 3.250 tỷ m3 (năm 2000),
dùng cho công nghiệp cũng tương tự như trên, dùng cho sinh hoạt tăng từ 20
tỷ m3 lên 40 tỷ m3.
Do sự phân bố không đều của tài nguyên nước, con người đã cho xây
dựng các hồ chứa nhân tạo và làm thuỷ điện. Năm 2000 lượng nước trong hơn
40.000 hồ chứa trên toàn thế giới là 7.500 tỷ m3.
8
Tuy nhiên, bên cạnh tác dụng điều tiết nước, thì các hồ này cũng còn
gây ra nhiều tác động phức tạp về môi trường như sự biến động về lưu lượng
dòng chảy ở mùa khô, cũng như lũ lụt ở mùa mưa, vấn đề ô nhiễm và biến đổi
nguồn lợi thuỷ sản.
Sự mất dần các khu rừng là nguyên nhân quan trọng gây nên việc hạn hán
do thiếu nước ở mùa khô và gây lũ lụt ở mùa mưa. Những vấn đề ô nhiễm nước
nguồn nước do bị nhiễm bẩn từ các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, nước
thải sinh hoạt với các hoá chất đã gây nên tác hại cho môi trường nguồn nước
ảnh hưởng đến chính bản thân con người và các sinh vật sống dưới nước.
Nước ngọt cũng đang ngày càng khan hiếm do quá trình phát triển dân
số, cũng như do tác động về môi trường kinh tế, xã hội.
Hoạt động nông nghiệp cũng góp phần làm suy thoái chất lượng môi
đó vào khoảng 0,7 - 1,3%/năm và cao hơn tỉ lệ chung của toàn thế giới.
Kết quả khảo sát diện tích mất rừng ở các vùng thời kỳ 1976 - 1995
như sau:
+ Vùng Tây Nguyên mất 552,8 nghìn ha (giảm 14,9%).
+ Vùng Đông Nam Bộ mất 308 nghìn ha (giảm 38,9%).
+ Vùng Bắc khu Bốn cũ mất 286,6 nghìn ha (giảm 23,11%).
- Về tài nguyên nước: Việt Nam có lượng mưa trung bình vào loại cao
1960 mm gấp 2,6 lượng mưa trung bình của lục địa. Tổng lượng mưa trên
toàn bộ lãnh thổ là 650 km3/năm, tạo ra dòng chảy nội địa 324 km3/năm.
Vùng có lưu lượng mưa cao là Bắc Quang 4.000 - 5.000mm, tiếp đó là vùng
núi cao Hoàng Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn, Đèo Cả, Bảo Lộc,
Phú Quốc 3.000 - 4.000mm. Vùng mưa ít nhất là Ninh Thuận và Bình Thuận
600 - 700mm. Ngoài dòng chảy nội địa, hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận
thêm lưu lượng từ nam Trung Quốc và Lào khoảng 550 km3. Dòng chảy sông
Việt Nam với lớp dòng chảy trung bình 980 mm gấp 3 lần mức trung bình thế
giới. Do vậy, tài nguyên nước mặt và nước ngầm Việt Nam rất phong phú,
khoảng 150 km3 nước mặt/năm và 10 triệu m3 nước ngầm/ngày.
Các vấn đề môi trường liên quan đến nguồn tài nguyên nước ở nước ta
bao gồm:
+ Tình trạng thiếu nước mùa khô và lũ lụt mùa mưa đang xảy ra ở
nhiều địa phương, với mức độ ngày càng nghiêm trọng. Ví dụ như việc giảm
trữ lượng nước ở các hồ thuỷ điện lớn (Thác Bà, Trị An, Hoà Bình…) hoặc lũ
quét ở các tỉnh Sơn La, Tuyên Quang, miền Trung…), nguyên nhân chủ yếu
là nạn chặt phá rừng, tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm đang xảy ra ở
nhiều nơi địa phương. Ví dụ như tại các xã Gia Phố, Phú Phong, Hương Long
(huyện Hương Khê); Đức Đồng, Đức Lạng (huyện Đức Thọ), ước tính có trên
4.000 ha đất bị nhiễm xăng. Trong đó, nặng nhất là xã Hương Long và Đức
Lạng với gần hết diện tích đất và nước ngầm bị nhiễm xăng trầm trọng.
nghiệt, bên cạnh đó cùng với ý thức bảo vệ tài nguyên của một bộ phận không
nhỏ nhân dân còn thấp dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi, huỷ hoại tài
nguyên thiên nhiên đã dẫn đến nguồn tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt và suy
thoái nghiêm trọng.
11
Trước những thách đó đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách dân số với
tài nguyên và môi trường. Chiến lược dân số Việt Nam năm 2001- 2010 Đảng
và Nhà nước đã khẳng định: các yếu tố dân số phải được lồng ghép một cách
đầy đủ vào quy hoạch phát triển, tạo sự phân bố dân cư một cách hợp lý, vừa
khai thác được tiềm năng lao động, vừa đảm bảo giữ gìn môi trường và sử
dụng hợp lý tài nguyên, coi đây là một trong bốn định hướng lớn mang tính
quốc gia lâu dài.
II. SỰ CÂN BẰNG DÂN SỐ VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
- YÊU CẦU TẤT YẾU VÀ CẤP BÁCH CỦA SỰ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG Ở VIỆT NAM.
1. Quy mô và tốc độ gia tăng dân số với tài nguyên và môi trường
Sự gia tăng dân số không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến các
vấn đề về môi trường. Song, nó lại một nhân tố rất quan trọng, bởi nó luôn đi
kèm với mức tiêu thụ nguồn lực và với những công nghệ đáp ứng các nhu cầu
của con người. Ba nhân tố: quy mô dân số, tiêu dùng và công nghệ không bao
giờ tách rời nhau, chúng cùng quyết định sự tác động của con người đối với
môi trường.
Quy mô sử dụng tài nguyên và quy mô ô nhiễm môi trường tỉ lệ thuận
với quy mô dân số; mức độ tài nguyên sử dụng theo đầu người và hệ số ô
nhiễm công nghiệp.
Ở các nước đang phát triển và chậm phát triển thì sự gia tăng quy mô
dân số một cách nhanh chóng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên. Trong khi đó ở các nước phát triển,
19,1%, năm 1985 là 19,3%, năm 1990 là 20%, năm 1999 là 21%, năm 2000 là
25%, đến năm 2008 là 28,11%. So với thế giới thì tốc độ đô thị hoá ở Việt Nam
còn thấp. Song do trình độ phát triển kinh tế xã hội còn thấp, vì vậy quá trình đô
thị hoá đã tác động khá rõ đến tình trạng ô nhiễm môi trường. Chẳng hạn, ở Hà
Nội hiện nay đã và đang đối mặt với vấn đề nhà ở, vệ sinh, nước sinh hoạt, nước
thải, giao thông… Các số liệu mới đây cho thấy, số hộ nghèo nhất ở Hà Nội
chiếm 4,09% tổng số dân. Trong số những hộ này có đến 90% không có nhà vệ
sinh, 87,7% không có nước máy, 32,8% không có hệ thống thoát nước thải.
Suy thoái môi trường càng nghiêm trọng do quá trình di dân. Ở nước ta,
theo kết quả nghiên cứu gần đây, Tây Nguyên là nơi có dòng nhập cư lớn
nhất cả nước thì mức độ phá rừng cũng rất lớn. Đáng chú ý là dòng di cư tự
do của một bộ phận đồng bào các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên và
miền Đông Nam Bộ. Trong dòng di cư tự do lao động chủ yếu là thủ công,
không có trình độ, nghề nghiệp nên vào vùng đất mới chủ yếu là khai hoang,
làm rẫy, phá rừng, chặt gỗ…Trong báo cáo của nước ta tại Hội nghị châu Á Thái Bình Dương tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 12/2002 đã chỉ rõ: “Di dân
tuy đóng góp một phần vào việc giải quyết vấn đề lao động nơi người di cư tự
do đến… Song cũng chính di dân tự do đã tác động không tốt đến môi
13
trường…, đặc biệt là tình trạng chặt phá rừng ở một số tỉnh Trung và Nam
Bộ”.
3. Chất lượng dân số với tài nguyên và môi trường
Chất lượng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề môi trường và tài
nguyên. Những thách thức do tăng trưởng dân số đang đặt ra vấn đề đối với
môi trường ở Việt Nam như sau:
- Quy mô dân số lớn và mức gia tăng cao, trong khi trình độ phát triển
kinh tế - xã hội thấp tạo ra sức ép phải khai thác tài nguyên và tăng cườn hoạt
động công nghiệp nhằm đạt tóc độ tăng trưởng kinh tế cao.
- Chất lượng dân số còn thấp, quy mô dân số lớn và mức gia tăng cao