LỢI ÍCH CỦA NÔNG DÂN TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC NINH
HIỆN NAY
Sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay đã và đang đặt
con người vào vị trí trung tâm vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Trong hệ thống các nhân tố tạo nên động lực phát
triển xã hội, lợi ích là nhân tố quyết định và xuyên suốt quá trình chuyển
hóa những yêu cầu khách quan thành động cơ, hành vi của con người và
của mọi thành viên trong xã hội tạo nên động lực thúc đẩy sự phát triển của
xã hội. C.Mác đã coi lợi ích là tính tất yếu của tự nhiên, là nhu cầu cơ bản
của con người, là cái liên kết các thành viên trong xã hội với nhau. Việc
nhận thức và giải quyết vấn đề lợi ích trong xã hội ta có tác động trực tiếp
mạnh mẽ đến con người nói chung và nông dân nói riêng.
Việt Nam là đất nước có một nền nông nghiệp truyền thống lâu đời
với hơn 70% dân số làm nông nghiệp, vì thế dù ờ thời kỳ nào người nông
dân luôn có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển chung của đất
nước. Nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng này, trong quá trình
CNH, HĐH đất nước Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến lợi ích
của người nông dân. Thực tiễn hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới
toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, lợi ích nông dân đã được
Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, từ đó cuộc sống của người nông dân
ngày càng được cải thiện, nông dân đã vươn lên làm chủ cuộc sống, đóng
góp công, sức, trí tuệ của mình vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, với
mục tiêu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại.
Thực hiện lợi ích của nông dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện
2
nay. Vì vậy, cần có sự nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề lợi ích
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI ÍCH NÔNG
DÂN TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
1.1. Biểu hiện và vai trò lợi ích nông dân trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
1.1.1. Quan niệm lợi ích nông dân trong công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
* Một số đặc điểm chung của tỉnh Bắc Ninh và của nông dân ở tỉnh
Bắc Ninh hiện nay
Đặc điểm chung của tỉnh Bắc Ninh
Về tự nhiên, Bắc Ninh là tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, nằm gọn trong
vùng châu thổ sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam giáp tỉnh Hưng
Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp thủ đô Hà Nội. Bắc Ninh có
vị trí gần cảng hàng không Nội Bài, cảng biển Cái Lân, Hải Phòng và gần các
nguồn năng lượng lớn như thủy điện Hòa Bình, nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí.
Với vị trí thuận lợi được coi như ngã ba trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và
Đông Bắc với Hà Nội đã tạo điều kiện cho việc giao lưu, hợp tác kinh tế, mở
rộng thị trường để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Với tổng diện tích đất tự
nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 807,6km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 64,7%,
đất lâm nghiệp chiếm 0,7%, đất chuyên dùng và đất ở chiếm 23,5%. Các điều
kiện địa hình, địa lý đã đề cập ở trên là điều kiện thuận lợi để nông dân phát triển
sản xuất nông nghiệp, lưu thông hàng hóa và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Về kinh tế - sản xuất, cùng với sự phát triển của cả nước, trong những
năm qua, kinh tế Bắc Ninh có những bước phát triển đáng kể. Năm 2010,
tổng sản phẩm GDP trong tỉnh đạt 35.963,4 tỷ đồng tăng 17,86% so với năm
4
2009, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Bắc Ninh hiện có hệ
định, Đảng bộ và chính quyền địa phương luôn vững mạnh, luôn quan tâm
đến phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, sản xuất, văn hóa và xã hội của tỉnh mang
lại nhiều lợi thế cho sự phát triển CNH, HĐH ở địa phương và nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho người nông dân. Hiện nay tỉnh đã thu hút hàng trăm dự án
với số vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD. Đặc biệt, đã thu hút được các dự
án đầu tư hạ tầng của các tập đoàn lớn như VSIP Bắc Ninh (Singgapore), ORIX
(Nhật Bản), IGS (Hàn Quốc), Poxconn (Đài Loan)…Đến nay, Bắc Ninh đã trở
thành một trong những tỉnh có tốc độ phát triển CNH, HĐH nhanh nhất miền
Bắc, cả về tốc độ, phạm vi và thể hiện rõ tính vượt trước, đi tắt đón đầu, mở ra
triển vọng lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Bên cạnh đó, Bắc Ninh
phải đối mặt với một số khó khăn, là một tỉnh thuần nông, cơ cấu kinh tế không
đồng đều giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, đời sống của nông dân còn
nhiều khó khăn. Từ thực tế đó tất yếu đặt ra phải đẩy mạnh CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh nhằm bảo đảm lợi ích cho người nông dân.
Đặc điểm của nông dân Bắc Ninh trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn hiện nay
Về cơ cấu, lao động, những năm trước đây nông dân trong tỉnh chủ yếu sinh
sống bằng sản xuất nông nghiệp, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn đã làm cho cơ cấu lao động nông dân Bắc Ninh có sự biến đổi, tỷ
lệ lao động trong nông nghiệp giảm, tỷ lệ lao động trong công nghiệp, dịch vụ và
các ngành nghề nông thôn tăng. Trong cơ cấu giai cấp - xã hội của tỉnh, nông dân
chiếm một tỷ lệ lớn, năm 2009 dân số sống ở nông thôn chiếm 82,5% số dân và
chiếm 70,5% tổng số lao động trong toàn tỉnh. Cơ cấu hộ nông dân đa dạng, có
nông dân cá thể, nông dân trong các hợp tác xã, các làng nghề, trang trại, các ngành
sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp dưới nhiều hình thức và trình độ khác nhau. Thực tế
ở các thôn, xã đã xuất hiện nhiều ngành nghề sản xuất phi nông nghiệp như công
nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, nhất là ở những xã có các ngành nghề truyền thống
tốc độ biến đổi cơ cấu lao động sang các ngành phi nông nghiệp nhanh hơn.
7
nông nghiệp, thương nghiệp... Lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm,
phần lớn chuyển sang lao động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp, trở thành công
nhân trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Bên cạnh đó nông dân đã tiếp thu
nhanh những thành tựu khoa học - công nghệ, áp dụng vào sản xuất nông nghiệp,
cung cấp nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm trực tiếp cho các khu công
nghiệp. Từ đó đời sống của nông dân được cải thiện, vấn đề việc làm được giải
quyết tại địa phương, cơ sở hạ tầng nông thôn được nâng lên.
Về văn hóa, tâm lý, lối sống, Bắc Ninh là vùng đất có bề dày lịch sử lâu
đời, cho nên nông dân Bắc Ninh vừa mang trong mình bản sắc chung của dân
tộc Việt Nam, vừa mang những nét riêng truyền thống của vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng. Là những người dân của quê hương Kinh Bắc sống trọn
nghĩa, vẹn tình, cần cù, bền bỉ trong lao động, say mê sáng tạo trong học tập,
kiên cường tài trí trong đấu tranh, chất phác giản dị trong cuộc sống, bao dung,
nghĩa khí trong ứng xử. Nông dân Bắc Ninh đoàn kết trong tình làng nghĩa xóm,
tộc họ, yêu thương quê hương đất nước để xây dựng và giữ gìn cuộc sống.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh những truyền thống và đức tính đó
ngày càng được phát huy, nhất là trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn hiện nay. Nông dân Bắc Ninh ngày càng được phát huy tính cố
kết cộng đồng tối lửa tắt đèn có nhau với tinh thần “tương thân, tương ái”, “lá lành
đùm lá rách”, từng bước khắc phục tâm lý của người tiểu nông làm ăn manh mún,
nhỏ lẻ, dần dần đổi mới nếp nghĩ, cách nhìn, mạnh dạn sáng tạo, linh hoạt, nhanh
nhạy, cởi mở trong sản xuất, chăn nuôi, làm giàu cho bản thân và quê hương.
Những đặc điểm của nông dân tỉnh Bắc Ninh hiện nay đã phản ánh
cả thuận lợi và khó khăn nên việc chăm lo lợi ích cho họ là rất cần thiết
trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh. B ên cạnh
những giá trị được thụ hưởng do CNH, HĐH tạo ra thì người nông dân Bắc Ninh
còn phải đối mặt với những tác động tiêu cực của quá trình này; vấn đề việc làm,
9
Ở Việt Nam có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề lợi ích dưới góc độ tiếp
cận khác nhau. Trong cuốn sách xây dựng CNXH ở Việt Nam - vấn đề nguồn gốc
và động lực” tác giả Lê Hữu Tầng trình bày khá sâu sắc về vấn đề lợi ích, theo
ông lợi ích là cái đáp ứng nhu cầu, là cái thoả mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu
cầu. Nhu cầu quyết định cái đối với chủ thể là lợi ích, do đó nó là cơ sở của
lợi ích: “Nhu cầu là những đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của các
nhóm xã hội khác nhau, hay của toàn xã hội muốn có điều kiện tồn tại để phát
triển. Nhu cầu nảy sinh do kết quả tác động qua lại của hoàn cảnh bên ngoài
với trạng thái riêng của từng chủ thể, trong đó hoàn cảnh bên ngoài đóng vai
trò quan trọng và trong phần lớn các trường hợp là quyết định” [39, tr.38].
Tác giả Nguyễn Linh Khiếu quan niệm, lợi ích là biểu hiện mối quan hệ tất
yếu của con người: “Lợi ích là một sự vật hay một hiện tượng khách quan
biểu hiện những mối quan hệ tất yếu của con người và dùng để thoả mãn
những nhu cầu cấp bách của họ trong một hoàn cảnh sinh sống nhất định”
[22, tr.50]. Còn tác giả Đinh Quang Tuấn cho rằng: “Lợi ích là các giá trị về
vật chất và tinh thần, nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người trong điều
kiện kinh tế - xã hội nhất định” [44, tr.18]. Như vậy có thể quan niệm, lợi ích
là hiện tượng xã hội khách quan tồn tại trong đời sống xã hội con người, gắn
với một chủ thể, trong một điều kiện kinh tế, xã hội nhất định; là cái có lợi,
hữu ích thỏa mãn nhu cầu phong phú, đa dạng của con người, là nguồn gốc
và động lực hoạt động của mỗi con người và cộng đồng xã hội.
Lợi ích là hiện tượng xã hội khách quan tồn tại trong đời sống xã hội, là
động cơ khách quan trong hoạt động sống của con người, là nguyên nhân sâu
xa của sự vận động, phát triển xã hội. Lợi ích chỉ tồn tại trong xã hội có giai
cấp và đấu tranh giai cấp, lợi ích luôn gắn với một chủ thể nhất định, chủ thể
đó có thể là cá nhân, tập thể, tầng lớp, giai cấp hay toàn xã hội. Cơ sở để hình
thành lợi ích là nhu cầu của cuộc sống con người, hoạt động của con người luôn
11
liền với sản xuất nông nghiệp ở trình độ sản xuất nhỏ là phổ biến dưới hình
thức hộ gia đình, dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân, hoặc sở hữu hợp tác xã về
tư liệu sản xuất” [38, tr.25].
Từ những phân tích trên có thể quan niệm giai cấp nông dân Việt
Nam hiện nay, là một giai cấp lao động cơ bản trong xã hội, bao gồm
những người lao động sản xuất trên lĩnh vực nông nghiệp, với những trình
độ và quy mô khác nhau; sống chủ yếu ở nông thôn, có ít hay nhiều tư hữu
với các hình thức sở hữu khác nhau và có vai trò quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn giai cấp nông dân có vai trò to lớn
và hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội cũng như trong cuộc đấu
tranh cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo. Trong tác phẩm: “Vấn đề nông
dân ở Pháp và Đức”, C.Mác và Ăngghen đã khẳng định: “Từ Aidơlen đến Xixin,
từ Anđaludia đến Nga và Bungari, người nông dân đều là một nhân tố rất cơ bản
của dân cư, của nền sản xuất và của lực lượng chính trị” [32, tr.715]. Phát triển
tư tưởng của cả C.Mác và Ăngghen, V.I.Lênin đã khẳng định ý nghĩa chiến lược
của vấn đề nông dân. Trong tác phẩm: “Chủ nghĩa xã hội và nông dân”, Người chỉ
rõ: “Thu hút quần chúng nông dân về phía mình, làm tê liệt tính giao động của giai
cấp tư sản và đánh đổ chế độ chuyên chế” [26, tr.355-356]. Như vậy giai cấp
nông dân không chỉ quan trọng ở giai đoạn giành chính quyền mà còn có ý
nghĩa to lớn trong quá trình giữ chính quyền, xây dựng xã hội mới. Ngay sau
khi nội chiến kết thúc V.I.Lênin đã thực hiện chính sách Kinh tế mới, trong đó
chọn giải pháp “bắt đầu từ nông dân”, khôi phục nông nghiệp, cải thiện đời sống
nông dân để ổn định tình hình đất nước. Lợi ích nông dân là vấn đề cốt tử của
cách mạng vô sản. Điều này đã được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin
khẳng định. Trong tác phẩm, “Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong
cách mạng dân chủ” V.I.Lênin đã luận chứng một cách toàn diện vai trò của
13
quan trọng. C.Mác đã khẳng định, “Người ta phải sống mới làm ra lịch sử. Nhưng
muốn sống được thì trước hết con người phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo,
và một số thứ khác nữa” [31, tr.40]. Hiện nay đất nước đang trong quá trình
CNH, HĐH lợi ích nông dân ngày càng được bảo đảm tốt hơn, luôn có sự kết
hợp hài hòa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, là điều kiện để nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nông dân. Trong nghị quyết Bộ Chính trị về đổi
mới quản lý kinh tế nông nghiệp ngày 5/4/1988 cũng nhấn mạnh: “Bảo đảm lợi ích
chính đáng của người sản xuất, trước hết là đối với người trồng lúa, không ngừng
cải thiện đời sống nhân dân lao động” [12, tr.4].
Từ những phân tích trên tác giả quan niệm, lợi ích nông dân trong CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay là các giá trị đem lại cho
người nông dân về vật chất và tinh thần; nhằm thỏa mãn nhu cầu mọi mặt của
nông dân tỉnh Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Mục đích thực hiện lợi ích nông dân trong CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
của nông dân, bảo đảm mọi người dân đều có việc làm, thu nhập ổn định, có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh; xây
dựng lòng tin của nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước
và bản chất chế độ XHCN mà chúng ta đang xây dựng; tạo lên sự gắn kết bền
chặt khối liên minh chiến lược giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức, là cơ sở xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây
dựng tỉnh Bắc Ninh vững mạnh toàn diện .
Nội dung thực hiện lợi ích nông dân trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay là đáp ứng những nhu cầu mọi mặt của đời sống
người nông dân ngày càng được bảo đảm tốt hơn, trong đó kết hợp hài hòa giữa
lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội, lợi ích trực tiếp trước mắt và lợi
ích cơ bản lâu dài thống nhất chặt chẽ với lợi ích của nhân dân và lợi ích dân tộc;
15
nhỏ lẻ mà phải tạo ra sản phẩm có chất lượng cao và áp dụng khoa học
công nghệ hiện đại vào sản xuất. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn sẽ
tạo ra cơ hội cho nông dân được đào tạo nghề và khi có nghề ổn định,
chuyên sâu họ sẽ kiếm được việc làm, sẽ có thu nhập ổn định và ngày
càng cao. Mặt khác, với kết cấu hạ tầng ngày càng tốt, đầu tư vốn được
ưu tiên, cơ cấu sản xuất đa dạng và những thành tựu khoa học, công
nghệ tiên tiến được vận dụng vào sản xuất tạo ra sản phẩm nông sản đa
dạng, phong phú nông dân sẽ có nhiều điều kiện để nâng cao thu nhập,
ổn định cuộc sống của mình.
Đối với Bắc Ninh cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước và đẩy
mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã làm cho cơ cấu kinh tế nông
nghiệp thay đổi toàn diện, thế độc canh cây lúa không còn thay vào đó là nền
nông nghiệp đa dạng, hiện đại với kỹ thuật sản xuất, thâm canh ngày càng cao.
Nhiều ngành nghề mới ra đời, nông dân không chỉ sản suất thuần nông mà đã
chuyển sang các lĩnh vực phi nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp, phát triển kinh
tế làng nghề, kinh tế trang trại. Quá trình CNH, HĐH ở Bắc Ninh đang diễn ra
với tốc độ cao so với một số địa phương khác trên cả nước, đã thu hút được các
dự án đầu tư sản xuất, hạ tầng của các tập đoàn lớn trên thế giới. Nhiều khu công
nghiệp, khu đô thị được xây dựng, nhà máy, xí nghiệp được đầu tư đi vào hoạt
động, nhiều ngành nghề công nghiệp, dịch vụ phát triển. Thực tế những năm gần
đây tỉnh Bắc Ninh đã tạo ra cơ hội cho người nông dân trong tỉnh có nhiều việc
làm, được đào tạo nghề và thu nhập ngày càng cao so với trước đây rất nhiều.
Hai là, trình độ dân trí, trình độ học vấn của nông dân ngày càng
được nâng cao.
Đây là một nội dung biểu hiện quan trọng của lợi ích nông dân
trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Nội dung
cốt lõi của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là làm cuộc cách mạng về cơ sở
17
nhất định. Yếu tố quyết định bảo đảm thực hiện chính sách an sinh xã hội,
tăng phúc lợi xã hội, xích dần khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và
thành thị và xóa đói giảm nghèo là phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế.
Cùng với sự nghiệp CNH, HĐH, những năm qua kinh tế của Bắc Ninh
luôn tăng trưởng khá cao hơn mặt bằng chung của cả nước, thu nhập bình quân
đầu người hàng năm luôn tăng. Đây chính là cơ sở vật chất để tỉnh thực hiện
các chính sách an sinh xã hội đối với nông dân. Thực tế trên địa bàn tỉnh hiện
nay các chính sách an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, trợ giúp
xã hội đối với nông dân; chính sách với những người có công, người nghèo, trẻ
em cơ nhỡ, người khuyết tật…được thực hiện khá tốt. Mặt khác, yếu tố quyết
định bảo đảm thực hiện chính sách an sinh xã hội, tăng phức lợi xã hội, xích
dần khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị và xóa đói giảm nghèo
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế. Mà Bắc Ninh
vẫn là tỉnh có tỷ trọng sản xuất nông nghiệp còn cao, muốn tăng hiệu quả
kinh tế tất yếu phải tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Có như
vậy tỉnh mới tăng nguồn thu nhập, đầu tư cho an sinh xã hội, chính sách xã
hội, chăm lo nâng cao đời sống cho nông dân.
Bốn là, nông dân được sống trong môi trường sinh thái tốt hơn, xóa
bỏ dần những hủ tục lạc hậu.
Đặc điểm nổi bật của nền sản xuất tiểu nông, nhỏ lẻ là nền sản xuất
còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vào may rủi. Cùng với tàn dư xã hội cũ
để lại, người nông dân còn duy trì một số hủ tục, tập quán lạc hậu như tổ chức
ma chay, cưới xin linh đình nhiều ngày, cúng lễ tốn kém, đốt vàng mã nhiều. Do
cơ sở vật chất, phương tiện thông tin truyền thông còn hạn chế, tiếp cận khoa
học kỹ thuật hiện đại chưa nhiều, dân trí thấp, điều đó là mảnh đất màu mỡ để
mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu tồn tại dai dẳng trong cư dân nông thôn. Nhưng
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn diễn ra sâu rộng, ngày càng phát huy hiệu
19
tác động đến giai cấp nông dân và cư dân nông thôn với mục tiêu không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân.
Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân Bắc Ninh hiện nay chính là
tổng hòa các nhu cầu được thỏa mãn về ruộng đất, cơ sở hạ tầng, việc làm,
nâng cao thu nhập; nâng cao chất lượng văn hoá - xã hội, xây dựng môi
trường dân chủ XHCN, nâng cao dân trí cho nông dân...Khi những nhu cầu
này được thực hiện thì cũng có nghĩa là lợi ích của nông dân được bảo
đảm, đời sống về vật chất, tinh thần của nông dân Bắc Ninh trong CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn ngày càng được nâng cao.
1.1.3. Vai trò lợi ích nông dân trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Thứ nhất, phát huy địa vị làm chủ xã hội của người nông dân, giữ gìn bản
sắc văn hóa, truyền thống quê hương Kinh Bắc và của dân tộc.
Quan điểm nhất quán của Đảng ta trong phát triển kinh tế là thực hiện chính
sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước XHCN. Nhờ có đổi mới về kinh tế mà các thành phần kinh tế
trong nông nghiệp, nông thôn đã khẳng định vị trí, vai trò của mình đối với nền
kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có vai trò kinh tế của hộ nông dân. Từ đó tạo
ra sự chuyển biến mạnh mẽ về sản xuất lương thực, thực phẩm, đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng và xuất khẩu, tạo ra nguồn của cải lớn đóng góp vào sự phát triển
nhanh và bền vững của tỉnh, thông qua đó địa vị, vai trò của người nông dân
ngày càng được nâng cao, địa vị làm chủ xã hội của người nông dân ngày
càng được tăng cường.
Với bản sắc văn hóa, truyền thống ngàn đời của quê hương Kinh Bắc,
trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay nông dân Bắc Ninh đã và
đang phát huy truyền thống văn hóa của mình đóng góp vào sự phát triển chung
của của tỉnh. Trong cơ chế mới, người nông dân Bắc Ninh với ý chí vươn lên, bản
21
sản phẩm và lao động nông nghiệp trong tỉnh. Tăng cường việc ứng dụng tiến
bộ khoa học, công nghệ và sản xuất, máy móc, thiết bị trong nông nghiệp
được nông dân đầu tư, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
được áp dụng. Cùng với đó kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, cơ sở vật
chất kỹ thuật bảo đảm cho nông dân sản xuất, kinh doanh được đầu tư xây
dựng, hệ thống trường học, trạm y tế, bưu điện, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường
được đầu tư theo hướng hiện đại. Điều đó sẽ làm cho đời sống kinh tế - xã hội của
nông dân được cải thiện, nông dân sẽ đóng góp công, sức, trí tuệ của mình để phát
triển toàn diện nền nông nghiệp của tỉnh theo hướng hiện đại.
Thứ ba, củng cố khối liên minh giai cấp giữa công nhân với nông dân
và trí thức, xây dựng khối đoàn kết toàn dân nhằm chống lại âm mưu “diễn
biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
Nông dân là lực lượng quan trọng trong khối liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Chính nông dân đã cung cấp một đội ngũ lao động trẻ, có trình độ
chính trị, văn hoá, kỹ thuật và sức khoẻ, kỷ luật bổ xung cho giai cấp công
nhân và đội ngũ trí thức nền tảng vững chắc cho chế độ xã hội mới. Vì vậy,
khi lợi ích nông dân được bảo đảm về vật chất và tinh thần trong quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, một mặt tạo môi trường gắn kết giai cấp
công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức. Mặt khác nâng cao chất lượng
liên minh giai cấp công nhân với nông nông dân và đội ngũ trí thức, xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc lên một bước mới. Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ IX Đảng ta đã khẳng định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất
nước là đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh công nhân với nông
dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể
và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế,
của toàn xã hội” [15, tr.86].
23
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đời sống vật chất được nâng lên rõ rệt, kéo
theo đời sống văn hóa tinh thần của nông dân trong tỉnh cũng được cải thiện.
Các giá trị, truyền thống văn hoá được đề cao, các lễ hội truyền thống được phục
hồi, các di sản văn hoá vật chất được khôi phục và tôn tạo, những hoạt động
thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh, trình độ dân trí, sự hiểu biết của nông
dân về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được nâng lên.
Lợi ích nông dân được thực hiện góp phần tích cực vào nâng cao đời
sống văn hóa tinh thần, giải quyết các vấn đề xã hội của nông dân, nông thôn và
đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của Bắc Ninh
hiện nay. Nông dân tích cực xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hóa, xã văn
hoá, tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, thực hiện nếp
sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, phòng, chống các tệ nạn xã
hội, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan trong nông thôn và nông dân. Bảo đảm an toàn
vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường nông thôn. Từ đó, góp phần nâng cao đời sống
văn hóa tinh thần, giải quyết các vấn đề xã hội của nông dân, nông thôn. Nông dân
tham gia góp tiền, công sức, trí tuệ vào các hoạt động xây dựng nông thôn mới, họ tự
đầu tư, tăng thu nhập trong các hoạt động kinh tế gia đình; giữ gìn nếp sống văn hóa,
gọn nhà, sạch ngõ, đến việc đóng góp, tham gia vào các hoạt động chung của thôn,
xã qua đó đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh.
Thứ năm, xây dựng niềm tin của nông dân vào sự lãnh đạo của cấp ủy
đảng, chính quyền địa phương, vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà
nước và bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay, lợi ích
nông dân có vai trò to lớn là tác nhân kính thích tính tích cực của nông dân
tạo nên động lực to lớn trong cách mạng XHCN. Đúng như Đảng ta đã xác
định: “Chúng ta thấy rõ trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội, động lực
mạnh mẽ nhất thúc đẩy hoạt động tích cực, sáng tạo của nhân dân lao động
25
diện, lịch sử, cụ thể và phải bám sát vào biểu hiện lợi ích nông dân trong
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh để đánh giá cho đúng và
sát, là cơ sở để đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm thực hiện lợi
ích của nông dân trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian tới tốt hơn.
1.2.1. Những ưu điểm thực hiện lợi ích của nông dân trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
và nguyên nhân của ưu điểm đó
* Ưu điểm thực hiện lợi ích nông dân trong công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Một là, nhận thức của cán bộ và nông dân ở Bắc Ninh về lợi ích
nông dân được nâng lên.
Kết quả điều tra có 87,50% ý kiến cho rằng thực hiện lợi ích nông dân
ở Bắc Ninh trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay có vai trò
quan trọng, trong đó 29,16% ý kiến được hỏi cho rằng là rất quan trọng. Như
vậy, nhận thức của cán bộ và nông dân ở Bắc Ninh về vai trò lợi ích nông
dân hiện nay khá cao và đồng đều. Điều đó thể hiện nông dân đã tham gia
thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội và tạo được nhiều việc
làm, có thêm thu nhập, đóng góp cho sự phát triển chung của tỉnh.
Khi được hỏi nhận thức của cán bộ và nông dân ở Bắc Ninh về lợi
ích nông dân hiện nay, có 41,67% số người được hỏi cho rằng chăm lo lợi ích
nông dân là trách nhiệm của HTCT và của chính bản thân nông dân. Lợi ích
nông dân là một vấn đề khó, phức tạp, những kết quả điều tra, nghiên cứu
trên cho thấy nhận thức của cán bộ và nông dân ở Bắc Ninh về lợi ích nông
dân hiện nay khá tốt. Khi nhận thức đúng đắn về lợi ích nông dân thì nông dân
trong tỉnh sẽ tích cực thảo luận, bàn bạc, đề đạt, kiến nghị các ý kiến lên các cấp
ủy, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng cấp trên trong quá trình triển