Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở việt nam hiện nay - Pdf 41

VIN HN LM KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

NGUYN VIT THANH

ơ

GIáO DụC ý THứC BảO Vệ MÔI TRƯờng
CHO HọC SINH TIểU HọC ở VIệT NAM HIệN NAY

LUN N TIN S TRIT HC

H NI - 2017


VIN HN LM KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

NGUYN VIT THANH

GIáO DụC ý THứC BảO Vệ MÔI TRƯờng
CHO HọC SINH TIểU HọC ở VIệT NAM HIệN NAY

Chuyờn ngnh: Ch ngha duy vt bin chng v
ch ngha duy vt lch s
Mó s: 62 22 03 02

LUN N TIN S TRIT HC

Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS. TS. BI VN DNG

13

thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam
1.3. Các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng

18

cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
sinh tiểu học ở Việt Nam
Chương 2: Những vấn đề lý luận chung về giáo dục ý thức bảo vệ

25

môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam hiện nay
2.1. Môi trường, bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ

25

môi trường
2.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi

35

trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam hiện nay
2.3. Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh

43

tiểu học ở Việt Nam hiện nay
2.4. Những nhân tố cơ bản tác động đến giáo dục ý thức bảo vệ

Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục

164


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ môi trường đang được cả thế giới quan tâm. Trong 30 năm đổi
mới kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu đó, sự phát triển kinh tế đã tác động tới mối quan hệ giữa
con người với giới tự nhiên theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực.
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta coi việc bảo vệ môi trường vừa là mục
tiêu vừa là nội dung cơ bản trong quá trình phát triển bền vững. Hội nghị
Trung ương lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XI, ngày 03 tháng 6
năm 2013, đã ra Nghị quyết “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng
cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.
Năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng kế hoạch thực hiện
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030.
Kế hoạch nêu rõ, tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận
thức về bảo vệ môi trường cho cộng đồng theo hướng đổi mới nội dung, đa
dạng hóa hình thức tuyên truyền.
Năm 2015 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành công văn số 2029/BGDĐTKHCNMT về việc hướng dẫn các sở Giáo dục và Đào tạo; các đại học, trường đại
học và cao đẳng; các viện và trung tâm nghiên cứu trực thuộc Bộ xây dựng kế
hoạch bảo vệ môi trường năm 2016 để triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi
trường trong các cơ sở giáo dục.
Các văn bản pháp luật cũng như các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng và Nhà nước Việt Nam đều coi sự nghiệp bảo vệ môi trường là sự
nghiệp chung của mọi người, của toàn xã hội. Thiếu sự tham gia của toàn dân

người nhiều thảm họa. Một trong những giải pháp quan trọng, không chỉ có
hiệu quả hiện tại mà còn cả lâu dài là giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
mọi tầng lớp nhân dân, nhất là học sinh tiểu học, những chủ nhân tương lai
của đất nước lại chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, phải xây dựng ý thức


3
bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học là cấp học mà người nào cũng trải qua
từ thời thơ ấu sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết đối với việc bảo vệ
môi trường, cũng có ý nghĩa là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Lứa tuổi tiểu
học là lứa tuổi lần đầu tiên cắp sách đến trường ngoài việc học đọc, học viết và
học làm tính; các em cần phải được giáo dục về đạo đức, giáo dục pháp luật nói
chung, pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng. Giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh tiểu học một cách căn bản, thường xuyên và toàn diện là
vô cùng quan trọng và cấp bách. Làm tốt công tác này chúng ta sẽ có những
chủ nhân tương lai của đất nước ta không chỉ tự giác bảo vệ và làm tươi đẹp
thêm cho môi trường, mà các em có trách nhiệm và tinh thần dũng cảm phê
phán, đấu tranh với những hành động vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
và hủy hoại môi trường.
Tuy nhiên, để có được một chiến lược giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
với lứa tuổi học sinh tiểu học là cả một chặng đường dài phía trước mà để làm
được điều đó nhất thiết cần phải có nghiên cứu căn bản, chuyên sâu của nhiều
khoa học, trong đó có triết học. Với tư cách là khoa học nền tảng mang tính định
hướng, triết học cần phải đi trước một bước trong việc xác lập cơ sở lý luận, thực
tiễn, luận giải những vấn đề đặt ra, từ đó rút ra những giải pháp mang tính định
hướng cho công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học.
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
sinh tiểu học ở Việt Nam hiện nay” để viết luận án Tiến sĩ Triết học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở tư tưởng C.Mác và
Ph.Ăngghen, Hồ Chí Minh về mối quan hệ con người với tự nhiên trong sự
phát triển xã hội, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam,
chính sách pháp luật của Nhà nước và các kết quả điều tra nghiên cứu của
các nhà khoa trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung được đề cập
trong luận án.


5
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin là phương pháp luận chung nhất.
Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như:
- Phương pháp phân tích tài liệu
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu này chúng tôi tiến hành tìm kiếm và
phân tích một số nguồn tài liệu như Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết, Chỉ
thị của Đảng và Nhà nước; Luận án, đề tài khoa học, sách, bài viết đăng trên
các tạp chí có liên quan đến giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
tiểu học. Từ những nguồn tài liệu trên chúng tôi phân tích và rút ra những
thông tin cần thiết để phục vụ cho đề tài của mình.
- Phương pháp điều tra là thu thập thông tin sơ cấp nhưng chiếm một vị
trí chủ đạo trong nghiên cứu bởi tính ưu việt của nó. Đây là một trong những
phương pháp được đề tài vận dụng và triển khai theo quy trình phù hợp với
chuyên ngành.
- Phương pháp khảo sát, phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin
của nghiên cứu xã hội học thông qua việc tác động tâm lý - xã hội trực tiếp
của người đi khảo sát, đi hỏi và người được khảo sát, được hỏi nhằm thu thập
thông tin phù hợp với mục đích nghiên cứu. Việc vận dụng các phương pháp
này trong nghiên cứu nhằm tìm hiểu về các đặc tính, tính chất của đối tượng
nghiên cứu dựa trên những nhận định đánh giá của người được phỏng vấn.



7
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến môi trường, bảo vệ
môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
Từ trước đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức sinh
thái, ý thức sinh thái và giáo dục bảo vệ môi trường của các học giả, nhà khoa
học, nhà triết học trong nước và nước ngoài nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong triết học Mác - Lênin, mối quan hệ giữa tự nhiên, con người và
xã hội, đã được các nhà kinh điển phân tích sâu sắc trong tác phẩm Bản thảo
kinh tế - triết học năm 1844, Chống Đuy rinh và đặc biệt trong tác phẩm Biện
chứng của tự nhiên [107,104]. Các ông đã khẳng định mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, tự nhiên vừa là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu
nhận các hoạt động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành
các giá trị phục vụ sự tồn tại, sự phát triển của con người và của xã hội, do đó,
con người phải tuân theo quy luật của giới tự nhiên, không được phá vỡ mối
quan hệ thống nhất, hài hòa vốn có của tự nhiên. Bên cạnh đó, các ông cũng
cảnh báo chúng ta về hậu quả khôn lường mà con người có thể làm tác hại
đến môi trường tự nhiên.
Trong cuốn sách Các quy luật địa lý chung của trái đất (1970) S.V.Kalesnik
coi “môi trường là một bộ phận của trái đất bao quanh con người” [87, tr.209],
còn tác giả của Quản lý môi trường là D.Keith Denton (1999) thì cho rằng, “môi
trường là mối quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà
sự phân biệt giữa các cá thể con người với môi trường bị xóa nhòa đi” [43, tr.6].
Các bài viết Những tư tưởng của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên trong Biện chứng của tự nhiên và Chủ động đề phòng nạn ô

gồm các chính sách, chủ trương, các chỉ thị nhằm ngăn chặn hậu quả xấu của


9
con người đối với môi trường, các sự cố môi trường do con người và thiên
nhiên gây ra. Bảo vệ môi trường còn bao hàm cả ý nghĩa sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên” [4, tr.96-97]. Khái niệm này đã đề cập đến vai trò của
Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường nhưng chưa nói đến sự tham gia của
con người, của cộng đồng, đặc biệt là sự tham gia của học sinh tiểu học trong
việc bảo vệ môi trường.
Theo Nguyễn Văn Phúc trong Bảo vệ môi trường từ góc độ đạo đức
[128] thì ưu thế của bảo vệ môi trường từ phương diện đạo đức là tự giác, đặc
biệt là sự tự nguyện của các cá nhân, tập thể, của xã hội, của cộng đồng và
quốc gia. Từ đó, tác giả cho rằng, cần thiết phải xây dựng đạo đức môi trường
nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ với tự nhiên, thực
hiện đạo đức môi trường là bổn phận của tất cả mọi người, của toàn nhân loại.
Trong Môi trường sinh thái - Vấn đề và giải pháp [152] tác giả Phạm
Thị Ngọc Trầm đã phân tích thực trạng môi trường ở nước ta, đặt vấn đề về
mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường,
từ đó rút ra kết luận rằng, sự phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi phải gắn kết
chặt chẽ hai mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái.
Tập thể tác giả cuốn Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt
Nam [7] đã trình bày những thách thức môi trường trong quá trình toàn cầu
hóa, những vấn đề về môi trường ở nước ta hiện nay, nhất là tình trạng suy
thoái đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường, tác động của tai biến môi trường
đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Tập thể tác giả cuốn Hướng dẫn thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ
môi trường cho trẻ mầm non quan niệm: “Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm
cung cấp cho mọi người những kiến thức, hiểu biết thực tế về môi trường và
tác động của môi trường đến con người, làm sao để mỗi người đều có ý thức,

thân thiện với môi trường.


11
Ngày nay, nạn cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, v.v.
đã trở thành vấn đề nóng bỏng của các quốc gia. Vì vậy, hơn lúc nào hết, giáo
dục ý thức môi trường cho học sinh tiểu học, những công dân tương lai của đất
nước, để các em có những hiểu biết về môi trường và bảo vệ môi trường hết sức
có ý nghĩa. Nhiều tài liệu và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về
vấn đề trên đã được công bố, nhiều hội thảo quốc tế cũng đã được tổ chức.
Hội nghị quốc tế Beograt năm 1975 đã xác định mục tiêu toàn diện
giáo dục môi trường ở trong và ngoài nhà trường là giúp cho cá nhân và cộng
đồng về các mặt sau: có nhận thức nhạy cảm với tình hình môi trường chung
và các vấn đề có liên quan; có hiểu biết cơ bản về môi trường và các vấn đề
có liên quan, sự hiện diện và vai trò, trách nhiệm của loài người; quan tâm đối
với môi trường và động cơ muốn tham gia tích cực vào việc bảo vệ và cải
thiện môi trường; có năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh về môi trường;
phát triển ý thức trách nhiệm và quan tâm sâu sắc đối với vấn đề môi trường
và có hành vi thích đáng đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề đó.
Cuốn Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường [90] do Lê Văn Khoa
chủ biên đã nêu ra vai trò, vị trí của giáo dục tiểu học trong công tác bảo vệ
môi trường; mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục;
phương thức giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học. Đây là tài liệu
quý báu định hướng cho tác giả triển khai đề tài luận án.
Cuốn Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn tiếng Việt cấp tiểu học
[23] của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm giúp cho học sinh tiểu học có sự hiểu
biết và sự nhảy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó. Cuốn sách còn
nêu lên sự thiếu hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường của
con người là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, vì
vậy cần phải giáo dục cho mọi người nhất là học sinh tiểu học hiểu biết về

cứu mình và cứu lấy Trái Đất này. Giáo dục bảo vệ môi trường làm cho con


13
người có sự hiểu biết; có kỹ năng và hành động thiết thực để bảo vệ môi
trường, ngăn chặn những tác hại và sự suy thoái môi trường do con người gây
ra nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân và học sinh.
Hai là, tiểu học là bậc học cơ bản; là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng
của việc giáo dục bảo vệ môi trường; vị trí, vai trò của việc giáo dục bảo vệ
môi trường cho học sinh tiểu học; sự thiếu hiểu biết của học sinh là một trong
những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, v.v.. Tuy nhiên, trong các
công trình đó vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường còn mờ nhạt.
Ý thức của người dân, của học sinh các cấp, trong đó có học sinh tiểu học,
kém, lại thiếu sự hiểu biết pháp luật nên không tố giác những cơ sở gây ô
nhiễm môi trường. Đây cũng là nguyên nhân gây cản trở, không góp phần cho
việc thực thi nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ môi trường.
Các công trình trên là những tri thức quý báu, giúp cho chúng tôi đi sâu
nghiên cứu khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường, giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường; nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học
ở Việt Nam hiện nay; tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh tiểu học; những nhân tố cơ bản tác động đến giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam hiện nay nhằm góp
phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa theo hướng hiện đại đảm bảo sự phát
triển bền vững của đất nước.
1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam
Trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, đời sống vật chất
và tinh thần của con người ngày càng được nâng lên thì tất yếu con người
buộc phải tác động ngày một mạnh hơn vào giới tự nhiên. Do vậy, giới tự
nhiên cũng tác động trở lại con người bằng nhiều cách khác nhau. Con người

nhiều vấn đề khác như sinh thái, ý thức sinh thái, quan hệ giữa giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường với vấn đề phát triển lâu bền ở nước ta. Xây dựng ý


15
thức sinh thái, bảo vệ môi trường là góp phần quan trọng cho công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng hiện đại ở nước ta.
Bài viết Chuyển biến về bảo vệ môi trường phát triển tỉnh Quảng Ninh
[134] của Hoàng Phúc Sinh chỉ rõ tỉnh Quảng Ninh là khu công nghiệp khai thác
than lớn nhất nước ta, nơi có vịnh Hạ Long với rất nhiều lợi thế để phát triển
kinh tế - xã hội. Song, trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Quảng Ninh đang đứng
trước nhiều vấn đề bức xúc, cần có những việc làm thiết thực của các ngành, các
cấp để bảo vệ môi trường, coi đó như là một nhân tố đảm bảo cho sự phát triển
bền vững. Tiếp cận sinh thái trong bảo vệ môi trường [63] là việc làm cần thiết
cho sự phát triển bền vững được đề cập trong bài viết của Phạm Đình Đôn, khi
đề cập đến hướng tiếp cận sinh thái để bảo vệ môi trường ở tỉnh Cà Mau. Hai bài
viết trên chỉ dừng lại việc bảo vệ môi trường ở một tỉnh mà chưa nêu được tầm
quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.
Luận án Vai trò của Nhà nước đối với bảo vệ môi trường trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện
nay [67] của Lê Thị Thanh Hà đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước Việt
Nam đối với bảo vệ môi trường, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao vai trò của Nhà nước Việt Nam đối với bảo vệ môi trường.
Vấn đề bảo vệ môi trường đã mang tính toàn cầu. Việc giáo dục nâng cao
nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi của con người nói chung, đặt biệt là học
sinh tiểu học nói riêng, nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường là rất cần thiết
đã nhiều công trình nghiên cứu:
Nhóm tác giả cuốn Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Giáo dục
công dân Trung học cơ sở [2] trình bày kiến thức cơ bản về môi trường và
tình trạng môi trường của Việt Nam hiện nay và nêu ra một số biện pháp giữ

giảm tài nguyên rừng. Kết quả cho thấy nâng cao nhận thức cho học sinh về
môi trường, giúp học sinh có thái độ và hành vi đúng đắn bảo vệ môi trường.


17
Bài viết Giáo dục môi trường ngoài giờ lên lớp [65] của Dương Thị
Thúy Giang đã phân tích những kết quả đạt được như hoạt động ngoài giờ lên
lớp được các nhà trường quan tâm và chỉ đạo tương đối rõ, chỉ ra những hạn
chế, bất cập như cán bộ quản lý và giáo viên chưa có nhận thức đúng đắn và
đầy đủ về giáo dục môi trường ngoài giờ lên lớp, chưa nằm trong kế hoạch
hoạt động của các tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, tổ chức các hoạt động ở
ngoài trời giáo viên chưa chú ý khai thác đầy đủ mục tiêu giáo dục khác, v.v.
ngoài ra tác giả chỉ ra nguyên nhân của thực trạng trên là xuất phát từ việc
thiếu kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết về công tác giáo dục môi trường
và giáo dục môi trường ngoài giờ lên lớp.
Bài viết Giáo dục bảo vệ môi trường qua hoạt động tập thể cho học sinh
lớp 3 [66] của Nguyễn Thị Mai Hà đã chỉ ra những điều cần lưu ý giáo dục bảo
vệ môi trường qua các hoạt động tập thể căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của
học sinh lớp 3 như sau: đối với học sinh lớp 3, chú ý không chủ định vẫn còn
chiếm ưu thế; học sinh lớp 3 chủ yếu vẫn tưởng tượng tái tạo nhưng đã có thể
xây dựng được những hình ảnh thông qua sự mô tả bằng lời hay tranh vẽ với
nội dung cụ thể; trẻ thường so sánh hàng loạt các sự vật, hiện tượng bề ngoài để
tách ra cái chung tương tự, giống nhau bề ngoài; khi tổ chức hoạt động, cần bảo
đảm an toàn và không ảnh hưởng đến sức khỏe của học sinh.
Vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường đã được đông đảo các nhà
khoa học nghiên cứu, từ nhiều góc độ khác nhau.
Một là, làm rõ mối quan hệ giữa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường với
vấn đề phát triển lâu bền ở nước ta; xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho
đồng bào các dân tộc ít người; xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn
trong điều kiện đô thị hóa; xây dựng đạo đức môi trường nhằm điều chỉnh

môi trường đã được đề xuất.
Tác giả Thanh Tâm trong bài viết Môi trường sinh thái: vấn đề của mọi
người [136] khẳng định, trong quá trình sinh sống vì nhiều nguyên nhân khác
nhau như sự phát triển của công nghiệp ồ ạt, đặc biệt là các ngành công


19
nghiệp gây ô nhiễm; nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn
cầu; dân số tăng nhanh đòi hỏi phải khai thác nhiều tài nguyên hơn, chất thải
các loại tăng nhanh hơn dẫn tới phá vỡ cân bằng sinh thái; tình trạng chạy đua
vũ trang bằng các loại vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học cũng là nguyên nhân
vừa gây ô nhiễm môi trường, vừa tạo khả năng huỷ diệt thiên nhiên thông qua
chiến tranh. Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng
ô nhiễm môi trường, trước hết cần phải thay đổi nhận thức, xây dựng ý thức
sinh thái; phải kết hợp mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái; sản xuất xã hội
phải thực hiện chức năng tái sản xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Trong bài Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - Thực trạng và một
số giải pháp khắc phục [73] sau khi làm rõ thực trạng ô nhiễm môi trường ở
nước ta trên các phương diện như ô nhiễm môi trường không khí, đất và
nước, Trần Đắc Hiến đã phân tích một số nguyên nhân khách quan và chủ
quan dẫn tới ô nhiễm môi trường; đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn chặn
có hiệu quả những hành vi gây ô nhiễm môi trường, hướng tới cải thiện,
nâng cao chất lượng môi trường sống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở Việt Nam.
Trong bài viết Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện
nay: khía cạnh môi trường sống [75] Nguyễn Đình Hòa đã chỉ ra những
nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường và nêu ra hướng giải quyết cho vấn
đề ô nhiễm môi trường trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông
thôn ở nước ta hiện nay.
Trong bài viết Sử dụng phương pháp điều tra trong dạy học chủ đề

động giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo vào chương trình
giáo dục học sinh mẫu giáo. Tuy nhiên, cuốn sách chỉ dừng lại ở việc hướng
dẫn tích hợp giáo dục tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển, hải đảo vào
chương trình mẫu giáo. Chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển, cung cấp kiến thức



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status