ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
----------
TRẦN THỊ THÙY DƯƠNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “CẢM ỨNG
ĐIỆN TỪ” VẬT LÝ 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA THÍ NGHIỆM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1
HUẾ, KHÓA HỌC 2012 - 2016
2
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
----------
TRẦN THỊ THÙY DƯƠNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “CẢM ỨNG
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận.
- Ban
Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm Huế,
Phòng Đào Tạo Đại Học & Sau Đại học, Khoa
Vật lý, quý Thầy Cô giáo đã tận tình giảng
dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận tốtnghiệp.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến
gia đình, bạn bè thân hữu đã dành tình cảm,
động viên và giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu
để hoàn thành khóa luận này.
Huế, tháng 4 năm
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
2016
Tác giả khóa
luận
Trần Thị Thùy
Dương
BẢNG GHI CHÚ VIẾT TẮT
Viết tắt
SGK
Sách Giáo Khoa
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục đích dạy học ngày nay ở nước ta và trên thế giới không chỉ dừng lại ở
việc truyền thụ cho học sinh (HS) những tri thức, kỹ năng mà loài người đã tích lũy
được trước đây, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cho HS năng lực sáng
tạo ra những tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới phù hợp
với hoàn cảnh của mỗi đất nước, mỗi dân tộc.
Theo Luật giáo dục năm 2005 điều 28.2 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ
Khóa luận tốt nghiệp
Vật lý gắn liền với thực nghiệm vì vậy việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học
là một biện pháp dạy học phù hợp và không thể thiếu, như trong chương “cảm ứng
điện từ” xuất hiện những kiến thức khá trừu tượng, khó hiểu thì GV dạy viên dạy
chương này cần cho học sinh được tiến hành thí nghiệm kiểm chứng lại để học sinh
hiểu sâu kiến thức hơn, chủ động chiếm lĩnh tri thức.xong ở một số trường phổ
thông hiện nay việc sử dụng thí nghiệm để dạy học Vật lý và việc học sinh tự thực
hành thí nghiệm càng ngày càng hạn chế. Vì vậy dạy học nâng cao năng lực tự học
của học sinh với việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lý là một trong những
PPDH tích cực đã, đang và sẽ được sử dụng nhiều hơn trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do đó, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Tổ chức dạy
học chương “Cảm ứng điện từ” Vật lý 11 theo định hướng phát triển năng lực
tự học của học sinh với sự hỗ trợ của thí nghiệm” nhằm kích thích hứng thú học
tập của học sinh, tạo cho học sinh lòng tin với khoa học.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Sử dụng thí nghiệm như thế nào trong dạy học chương “Cảm ứng điện từ” Vật
lý 11, qua đó phát triển năng lực tư học của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả
dạy học.
3. Đối tượng nghiên cứu
-
Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học chương “Cảm ứng điện từ” Vật lý
-
11 với sự hỗ trợ của thí nghiệm.
Kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” Vật lý 11.
Phần mềm hỗ trợ thiết kế thí nghiệm.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được quy trình của việc sử dụng thí nghiệm (thí nghiệm học
huy tính tích cực hóa nhận thức, phát triển năng lực tự học của HS trong hoạt động
-
dạy học.
Nghiên cứu các luận văn, các bài nghiên cứu khoa học, Tạp chí chuyên ngành, sách
-
báo có liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu chương trình, SGK, sách bài tập, tài liệu tham khảo liên quan đến
-
chương “Cảm ứng điện từ” Vật lý 11.
Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm qua tài liệu, trên internet và trên truyền hình.
Tổng hợp và lựa chọn các thí nghiệm phù hợp với nội dung và kiến thức của
-
chương và từng bài cụ thể trong chương.
Xây dựng quy trình tiến hành thí nghiệm dựa trên tài liệu đã nghiên cứu.
Nghiên cứu một số phần mềm hỗ trợ cho việc thiết kế thí nghiệm.
7.2. Phương pháp thực tiễn
-
Nghiên cứu nội dung kiến thức của chương “Cảm ứng điện từ” Vật lý 11.
Nghiên cứu một số thí nghiệm hỗ trợ trong quá trình dạy học chương “Cảm ứng
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
1.1. Năng lực
1.1.1. Khái niệm năng lực
Theo quan điểm của các nhà tâm lý học: Năng lực là tổ hợp các đặc điểm,
thuộc tính tâm lý của cá nhân (như hứng thú, niềm tin, ý chí,…) phù hợp với yêu cầu
đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu
quả cao.
Các năng lực được hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá
nhân nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do
tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do học tập và rèn luyện mà hình thành. Ngoài
ra, các năng lực có đặc điểm như là: thường hình thành và bộc lộ trong các hoạt
động; nó gắn liền với một hoạt động cụ thể; chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như
môi trường và hoạt động của bản thân.
1.1.2. Năng lực học sinh
1.1.2.1. Khái niệm
Theo Nguyễn Thị Minh Phương: “Năng lực cần đạt của học sinh THPT là tổ hợp
nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả”
[8].
Như vậy, năng lực của học sinh trung học phổ thông chính là khả năng vận
dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập,
giải quyết hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em.
1.1.2.2. Hệ thống năng lực chung
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm
việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều
môn học và liên quan đến nhiều môn học. Vì vậy, có thể gọi là năng lực xuyên chương
Là cách tiếp cận nêu rõ kết quả, những khả năng hoặc kỹ năng mà HS mong
muốn đặt được vào cuối mỗi giai đoạn, hiện tượng trong nhà trường ở mỗi môn học
nào đó. Nói cách khác cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: “chúng ta muốn HS
biết và có thể làm được những gì?” [5].
1.1.3.3. Tiếp cận năng lực
Thực chất tiếp cận năng lực chính là cách tiếp cận đầu ra, tuy nhiên tiếp cận
kết quả đầu ra ở đây người ta tập trung vào hệ thống năng lực cần có của HS.
Người ta yêu cầu HS trả lời câu hỏi: “Biết là gì?”. Tiếp cận năng lực luôn đặt ra câu
hỏi: “Biết làm gì từ những điều đã biết?” [5].
1.2. Năng lực tự học
1.2.1. Khái niệm năng lực tư học
Theo PGS. TS. Lê Công Triêm: “Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi,
nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng
cao” [12, mục 4].
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
13
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất tâm sinh lí của con
người, vừa như là cái tự nhiên bẩm sinh “vốn có”, vừa như là sản phẩm của lịch sử,
hơn nữa là sản phẩm của lịch sử phát triển xã hội. Năng lực tự học là cái vốn có của
mỗi con người nhưng phải được đào tạo, phải được rèn luyện trong hoạt động thực
tiễn mới trở nên một sức mạnh thật sự của người học.
Như vậy, năng lực tự học có thể được hiểu là: phẩm chất sinh lí và tâm lí tạo
cho con người khả năng hoàn thành hoạt động học tập với chất lượng cao.
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
14
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
Kĩ năng có bản chất tâm lí nhưng có hình thức vật chất là hành vi hoặc hành
động. Vì vậy dựa vào kĩ năng tự học của HS có thể thấy rằng có nhiều hình thức tự
học khác nhau như [9]:
-Tự học giáp mặt: Những hoạt động học như nghe giảng, ghi chép bài, thảo
luận nhóm, làm việc với sách, làm thí nghiệm, quan sát…của HS, được HS thực hiện
một cách chủ động, tích cực thì đều được gọi là hoạt động tự học, hoạt động này
diễn ra ngay trong quá trình dạy học với sự điều khiển trực tiếp của GV đứng lớp
nên gọi là tự học giáp mặt.
-Tự học không giáp mặt: Đó là sự tự học không có sự điều khiển trực tiếp của
GV mà do HS tự mình độc lập tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện học tập
để tự mình chiếm lĩnh tri thức và tự mình đạt được các mục đích, nhiệm vụ học tập.
Tự học loại này có thể tồn tại ở ba mức:
+Tự học mức cao: Người học tự học qua sách, qua các phương tiện thông tin.
Người học tự học tập một cách độc lập hoàn toàn.
+Tự học với sự hướng dẫn (hay điều khiển từ xa): Người học có sách giáo
khoa, có các tài liệu hướng dẫn học tập hay có sự hướng dẫn thông qua các phương
tiện thông tin như băng ghi hình, ghi tiếng, ti-vi, mạng, các phần mềm dạy học…Sự
hướng dẫn tự học chủ yếu là sự hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức,
hướng dẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn thí nghiệm. Dưới
sự hướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để hoàn
thành các nhiệm vụ học tập. Hiện nay hình thức tự học này rất được khuyến khích
vẫn chưa đạt hiệu quả cao, có nhiều HS vẫn còn lúng túng khi sử dụng các kỹ năng
tự học hay nói khác đi là đại đa số HS cũng còn yếu trong vấn đề tự học, trong việc
vận dụng và sử dụng các kỹ năng tự học. Nguyên nhân một phần là do các em chưa
có ý thức tự giác trong quá trình học tập, một phần khác là do các em chưa được
định hướng một cách cụ thể trong hoạt động tự học của bản thân. Do vậy, vai trò
của người GV trong việc phát triển kỹ năng tự học của HS nhằm góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học ở trường phổ thông là hết sức quan trọng [12, mục 2].
1.4. Phát triển năng lực tự học của HS
1.4.1. Sự cần thiết phát triển năng lực tự học của HS
Đối với người học nói chung và đối với HS nói riêng thì tự học có vai trò rất
quan trọng, tự học là chìa khóa tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học
suốt đời, xã hội học tập. Tự học là phương châm cơ bản, là mục tiêu chiến lược của
giáo dục Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung, nó có vai trò cụ thể như [3],
[5], [9]:
-Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức và
hiệu quả học tập.
-Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học.
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
16
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
-Tự học góp phần rèn luyện kĩ năng, cách học.
-Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy.
-Tự học có vai trò to lớn trong sự sinh tồn của mỗi người.
Ngày nay nguồn cung cấp thông tin rất đa dạng và phong phú, từ sách, mạng
internet, băng, đĩa CD… nên nếu có kĩ năng tự học tốt thì sẽ tận dụng được nguồn
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
b) Dạy cách nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học.
Nghe giảng và ghi chép là những kĩ năng mà ai cũng phải sử dụng trong quá
trình học tập. Trình độ nghe và ghi chép của người học không giống nhau ở những
môn học khác nhau. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập. Tuy nhiên đây là
vấn đề mà xưa nay chưa có ai nghiên cứu. Mỗi người đều phải tự mình rèn luyện
thói quen ghi chép để có thể có được những thông tin cần thiết về môn học. Điều
quan trọng trước tiên là GV cần truyền đạt cho HS những nguyên tắc chính của hoạt
động nghe – ghi chép. Trong nhà trường THPT, các em thường mang lối học thụ
động, quen tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều HS chỉ chờ GV
đọc mới có thể ghi chép được nội dung bài học nếu ngược lại thì đành bỏ trống vở
khiến tâm lí bị ức chế ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến thức. Thực tế đó đòi
hỏi người học phải tập trung tư tưởng cao độ để có khả năng lĩnh hội vấn đề một
cách khoa học nhất. Phải rèn luyện để có khả năng huy động vốn từ, sử dụng tốc độ
ghi chép nhanh bằng các hình thức viết tắt, gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ hình vẽ
những ý chính, các luận điểm quan trọng mà GV nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần là
điều vô cùng cần thiết. Ngoài ra, trong quá trình học tập trên lớp, nếu có vấn đề nào
không hiểu cần đánh dấu để hỏi ngay sau khi GV ngừng giảng nhằm đào sâu kiến
thức và tiết kiệm thời gian. Rất tiếc, trên thực tế đây là điểm yếu mà phần lớn HS
không quan tâm rèn luyện để có được.
Muốn tạo điều kiện cho HS nghe giảng và ghi chép tốt, GV cần lưu ý:
-
Nội dung bài giảng phải mới mẻ, thiết thực, cần thiết có thể tạo ra những tình
-
nhàng ăn ý của cả thầy và trò. Trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo trong việc hướng
dẫn tổ chức còn trò với tư cách là chủ thể tích cực chủ động sáng tạo cả trong lĩnh
hội tri thức lẫn rèn luyện kĩ năng và bộc lộ quan điểm, thái độ [9].
c) Dạy cách học bài
Vấn đề mấu chốt theo quan điểm của chúng tôi chính là dạy cách học bài. GV
cần giới thiệu và hướng dẫn cho HS tự học theo mô hình các nấc thang nhận thức
của Bloom. Tức là học cách phân tích, tổng hợp, học vận dụng tri thức vào từng tình
huống thực tiễn, học nhận xét đánh giá, so sánh đối chiếu các kiến thức… Bên cạnh
đó còn phải rèn luyện năng lực tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo để
tìm ra những hướng tiếp cận mới các vấn đề khoa học.
Việc đưa ra các tình huống vấn đề gắn với thực tiễn đời sống xã hội là ưu thế
của việc học Vật lý. GV cần cho những tình huống sau mỗi bài, chương, mục và yêu
cầu HS chuẩn bị trước. Sau đó tùy tình hình để cho từng cá nhân hay từng nhóm (cả
lớp) thảo luận, giải quyết.
Một trong những hình thức giúp HS làm việc nhóm tốt nhất là tạo cơ hội cho
các em diễn ngôn trực tiếp. Từ cách lấy dẫn chứng để chứng minh một vấn đề, giải
thích, phản biện, nêu quan điểm ý tưởng hay thuyết trình, giới thiệu, tổng thuật một
sự kiện, một vấn đề khoa học hoặc đơn giản chỉ là sự bày tỏ chính kiến trước một
hiện tượng. Thông qua đó người dạy cũng có thể nắm được mức độ nhận thức của
HS để có sự bổ sung điều chỉnh hợp lí, kịp thời. Đảm bảo chất lượng giờ giảng luôn
được cải thiện theo hướng tích cực.
d) Dạy cách nghiên cứu
Trước hết là dạy cách xác định đề tài, chủ đề nghiên cứu sao cho phù hợp với
sở trường năng lực của mình và yêu cầu của chuyên ngành đào tạo. Tiếp đến là dạy
cách lựa chọn và tập hợp, phân loại thông tin và cách xử lí thông tin trong khuôn
khổ thời gian cho phép. Trước tình hình thay đổi của đất nước việc xác định nguồn
tài liệu, điều tra, thực nghiệm là một yêu cầu tương đối khó đối với người học. HS
phải quan tâm tài liệu sẽ lấy từ nguồn nào, giới hạn phạm vi bao nhiêu, cách viện
quả của sự tác động [3], [4].
Các thiết bị thí nghiệm có độ chính xác ở mức độ nhất định. Đầu tiên chúng ta
có thể tìm thấy một quy luật sai và rồi chúng ta đưa ra quy luật đúng. Bây giờ, thí
nghiệm có thể sai như thế nào? Đầu tiên, trong một phép thử: nếu điều gì đó sai do
dụng cụ thí nghiệm, chúng ta không để ý đến nó. Nhưng những điều này dễ xác định,
kiểm tra đi, kiểm tra lại, cho đến khi không còn một lỗi nhỏ. Vậy làm sao kết quả của
thí nghiệm có thể sai được? chỉ vì sự thiếu chính xác của dụng cụ đo.
Đảm bảo sự quan sát của các đại lượng biến đổi trong khi tiến hành thí nghiệm.
Có thể làm lại các thí nghiệm nhiều lần và đảm bảo kết quả thu được tương đối giống
nhau.
Tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau mà ta có thể phân thí nghiệm trong
dạy học Vật lý thành nhiều loại khác nhau như [4]:
a) Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
20
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
Là các thí nghiệm GV giới thiệu một cách tương đối nhanh với HS chủ yếu về
mặt định tính các hiện tượng, quá trình và các quy luật nghiên cứu, cấu tạo và hoạt
động của một vài dụng cụ và thiết bị kỹ thuật, những cái mà HS có thể cảm thụ
được bằng tai và mắt.
Thí nghiệm biểu diễn được phân ra làm 3 loại:
Thí nghiệm mở đầu: Được GV sử dụng nhằm mục đích đề xuất vấn đề nghiên cứu.
Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng: GV sử dụng thí nghiệm này nhằm mục đích xây
SVTH: Trần Thị Thùy Dương
Khóa luận tốt nghiệp
1.5.3. Vai trò của thí nghiệm trong phát triển năng lực tự học của HS
Thí nghiệm Vật lý có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của
quá trình dạy học như: đề xuất vấn đề nghiên cứu, hình thành kiến thức kĩ năng
mới, củng cố kiến thức, kĩ năng đã thu được và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng
của HS [10].
Thí nghiệm Vật lý có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển và bồi
dưỡng năng lực tự học của HS trong quá trình dạy học Vật lý. Trong mỗi giai
đoạn khác nhau của quá trình dạy học thì thí nghiệm được sử dụng với mục
đích và vai trò khác nhau như trong các giai đoạn đề xuất vấn đề nghiên cứu,
hình thành kiến thức kĩ năng mới, củng cố kiến thức, kĩ năng đã thu được và kiểm
tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS thì mỗi giai đoạn thí nghiệm Vật lý sẽ có vai
trò khác nhau.
Ở giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu, thí nghiệm Vật lý được sử
dụng để đề xuất vấn đề cần nghiên cứu. Đặc biệt có hiệu quả là việc sử dụng thí
nghiệm Vật lý để tạo tình huống có vấn đề. Kết quả của những thí nghiệm được
sử dụng trong giai đoạn này thường mâu thuẩn với kiến thức, kinh nghiệm có
sẳn của HS, do đó tạo nhu cầu hứng thú tìm tòi kiến thức mới của HS. Trong
giai đoạn hình thành kiến thức mới, thí nghiệm sẽ cung cấp một cách có hệ
thống các cứ liệu thực nghiệm, để từ đó khái quát hóa quy nạp, kiểm tra được
tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả logic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất,
hình thành kiến thức mới. Trong giai đoạn củng cố kiến thức, kĩ năng của HS thí
nghiệm Vật lý có vai trò không những kiểm tra kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn
đánh giá khả năng tự lực, sáng tạo của HS trong quá trình thí nghiệm.
Theo quan điểm của lí luận nhận thức, thí nghiệm là phương tiện của việc thu
nhận tri thức, là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức, và là phương
niệm sai lầm của HS. Bởi như chúng ta biết rằng, HS trước khi đến trường, trước
giờ học đã có những hiểu biết, những quan niệm về các hiện tượng, khái niệm và
quá trình Vật lý sắp được nghiên cứu trong giờ học. Song đa số những hiểu biết,
quan niệm ấy đều sai lệch ra khỏi bản chất Vật lý hoặc nó không có đủ các cơ sở để
hiểu những vấn đề sẽ nghiên cứu trong giờ học.
Đối với các thí nghiệm tự mình tiến hành, HS có nhiều cơ hội để rèn luyện kĩ
năng, kĩ xảo thực hành góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS. Qua
quá trình làm việc tự lực với thí nghiệm của HS sẽ gợi sự hứng thú nhận thức, lòng
ham muốn nghiên cứu, tạo niềm vui của sự thành công khi giải quyết được nhiệm
vụ đặt ra và góp phần phát triển động lực quá trình học tập của HS.
Tóm lại, thí nghiệm Vật lý giữ vai trò quan trọng trong dạy học Vật lý ở
trường phổ thông có tác dụng lớn trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của
HS. Vì vậy, dạy học Vật lý cần phải gắn với thí nghiệm Vật lý. Thí nghiệm Vật lý
không chỉ là nguồn tri thức, là phương tiện có nhiều sức mạnh trong nghiên cứu Vật
lý, là tiêu chuẩn chân lí của các kiến thức về thế giới tự nhiên mà còn tạo ra kích
thích hứng thú, kích thích tính tích cực, tự giác và sáng tạo của HS đồng thời cũng
là một phương pháp dạy học sát với thực tế giáo dục của Việt Nam: “Học đi đôi với
hành, lí luận gắn với thực tiễn”.
1.5.4. Sử dụng thí nghiệm trong phát triển năng lực tự học của HS
1.5.4.1. Phát triển năng lực tự học của HS qua sự hổ trợ của thí nghiệm trực diện
Thông qua thí nghiệm trực diện HS có thể [4], [12, mục 3 và 4]:
-
Tự lắp ráp thí nghiệm
Năng lực tự học của HS ở khả năng tự lắp ráp thí nghiệm được thể hiện ở các
mức độ khác nhau như:
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
-
liệu cần thiết.
Tự lực xử lí số liệu, kết quả thí nghiệm
Năng lực tự học của HS ở khả năng tự lực xử lí số liệu, kết quả thí nghiệm
được thể hiện ở các mức độ khác nhau như:
+ Mức độ 1: HS xử lí số liệu, kết quả thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của GV.
+ Mức độ 2: HS tự lực xử lí số liệu, rút ra kết luận cần thiết.
1.5.4.2. Phát triển năng lực tự học của HS qua sự hổ trợ của thí nghiệm tự tạo
Thông qua thí nghiệm tự tạo HS có thể:
-
Tự đề xuất phương án
Năng lực tự học của HS được thể hiện ở các mức độ khác nhau như:
+ Mức độ 1: HS tự đề xuất phương án dưới gợi ý của GV.
+ Mức độ 2: HS dựa vào các phương án mà GV đã đề xuất để chọn ra phương
án tối ưu.
+ Mức độ 3: HS tự đề xuất nhiều phương án khác nhau, sau đó tự chọn ra
-
-
phương án tối ưu nhất.
Gia công dụng cụ:
Năng lực tự học của HS được thể hiện ở các mức độ khác nhau như:
+ Mức độ 1: HS tự gia công các dụng cụ thô sơ, đơn giản.
+ Mức độ 2: HS tự gia công các dụng cụ phức tạp.
+ Mức độ 2: HS tự lực xử lí số liệu, rút ra kết luận cần thiết.
1.6. Kết luận chương 1
Qua việc nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống những cơ sở lí luận và
thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho HS ở các trường THPT hiện nay
thông qua việc sử dụng thí nghiệm, cụ thể là:
-
Làm rõ được các khái niệm năng lực, tự học, năng lực tự học, hệ thống các kĩ năng
tự học trong dạy học Vật lý. Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng, kĩ xảo…, kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản
thân người học; đó là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động, tự giác,
phát huy cao độ vai trò của người học với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và các điều
-
kiện học tập.
Phân loại các thí nghiệm trong dạy học Vật lý.
Trong quá trình dạy học Vật lý, thí nghiệm có vai trò rất quan trọng: thí nghiệm là
phương tiện rèn luyện cho HS các kĩ năng như thu thập thông tin; xử lí thông tin;
-
vận dụng tri thức vào thực tiễn; tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh.
Làm rõ được tác dụng của việc sử dụng thí nghiệm trong phát triển năng lực của
HS.
GVHD: PGS.TS. Lê Văn Giáo
25