I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH THU H
áP DụNG PHáP LUậT
TRONG GIảI QUYếT áN HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH QUA THựC TIễN TòA áN NHÂN DÂN THị Xã PHổ YÊN
TỉNH THáI NGUYÊN
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. PHM TH DUYEN THO
HA NI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Hà
1.3.1. Giai đoạn phân tích những tình tiết khách quan của vụ án HN&GĐ
và các đặc trưng pháp lý của vụ án .............. Error! Bookmark not defined.
1.3.2. Giai đoạn làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL hôn nhân gia
đình và lựa chọn các QPPL về dân sự, tố tụng dân sự tương ứng để
giải quyết vụ án HN&GĐ ............................ Error! Bookmark not defined.
1.3.3. Giai đoạn ra quyết định ADPL hoặc ra một bản án để giải quyết vụ
án HN&GĐ .................................................. Error! Bookmark not defined.
1.4.
Hiệu quả của hoạt động ADPL ................. Error! Bookmark not defined.
1.4.1. Các yếu tố tác động đến hiệu quả ADPL trong giải quyến vụ án HN&GĐError! Bookmark
1.4.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động ADPL trong giải quyết vụ
án HN&GĐ .................................................. Error! Bookmark not defined.
Kết luận chương 1 ................................................... Error! Bookmark not defined.
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TÒA
ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
(GIAI ĐOẠN TỪ 2011 – 2015) ................. Error! Bookmark not defined.
2.1.
Đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội và cơ cấu tổ chức của TAND
thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên............. Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội của thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái NguyênError! Bookmark
2.1.2. Đặc điểm về dân số và phong tục, tập quán HN&GĐ của thị xã Phổ
Yên ở tỉnh Thái Nguyên ............................... Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức hoạt động của TAND thị xã Phổ YênError! Bookmark not defined.
2.2.
Thực trạng ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của
TAND thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Khái quát thực trạng ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của
TAND trong giải quyết án HNGĐ ............... Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Tăng cường cơ chế chịu trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán và các
thành viên HĐXX trong quá trình ra bản án, quyết định ADPL giải
quyết các vụ án hôn nhân gia đình ............... Error! Bookmark not defined.
3.2.3. Tăng cường công tác giám đốc kiểm tra đối với việc giải quyết các vụ
án HN&GĐ của TAND cấp trên đối với cấp huyệnError! Bookmark not defined.
3.3.
Các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ADPL giải
quyết án HN&GĐ ở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, Thái NguyênError! Bookmark
3.3.1. Nâng cao năng lực, kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán phụ trách
giải quyết các vụ án về HN&GĐ của TAND thị xã Phổ Yên ở tỉnh
Thái Nguyên ................................................. Error! Bookmark not defined.
3.3.2. Sự cần thiết lựa chọn Hội thẩm nhân dân tham gia hòa giải, xét xử vụ
án HN&GĐ là những thành viên đang công tác tại các khối cơ quan,
đoàn thể ........................................................ Error! Bookmark not defined.
3.3.3. Hoàn thiện cơ chế và tăng cường việc áp dụng các tập quán tích cực
của TAND thị xã Phổ Yên trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐError! Bookmark
3.3.4. Nâng cao sự phối hợp của tòa án thị xã Phổ Yên với các cơ quan, tổ
chức hữu quan trong quá trình hòa giải các vụ án hôn nhân gia đình
nhằm tăng số lượng các vụ việc hòa giải thành, thuận tình ly hôn
trong quá trình giải quyết các vụ án HN&GĐError! Bookmark not defined.
3.3.5. Phát huy tinh thần chủ động của các thẩm phán trực tiếp phụ trách
giải quyết các vụ án HN&GĐ ở Thái Nguyên trong việc kiến nghị
giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất và hoàn thiện các quy định
pháp luật liên quan đến án HN&GĐ ............ Error! Bookmark not defined.
3.3.6. Đảm bảo cơ chế hoạt động hiệu quả của các cơ quan tiến hành tố
tụng, chính quyền địa phương, tổ chức bổ trợ tư pháp, cơ quan thi
hành án dân sự, nhằm tạo sự đồng bộ với việc nâng cao hiệu quả hoạt
động ADPL giải quyết án HN&GĐ ở TAND thị xã Phổ Yên ở tỉnh
Thái Nguyên ................................................. Error! Bookmark not defined.
HTND:
Hội thẩm nhân dân
QPPL:
Quy phạm pháp luật
TAND:
Tòa án nhân dân
TANDTC:
Tòa án nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Bảng 2.1: Kết quả nhận đơn khởi kiện của Toà án nhân dân thị xã
Phổ Yên từ năm 2011 – 2015
Trang
Error!
Bookmark
not
đích của việc xây dựng gia đình mà pháp luật đặt ra.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu sự tác động của
nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đã không giữ được ý nghĩa và giá trị như mong
muốn ban đầu, cuộc sống chung của vợ, chồng đã không còn hạnh phúc, nên pháp luật dự
liệu khả năng cho họ quyền được giải phóng khỏi quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn.
Nội dung của điều chỉnh pháp luật không chỉ là các quy định về quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể, mà còn là các phương thức, biện pháp, các nguyên tắc giải quyết các tranh
chấp xảy ra trong quá trình chung sống.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xét
xử các vụ án tranh chấp, trong đó có các tranh chấp về HN&GĐ. Hiến pháp 2013 quy
định:
TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp. TAND gồm TAND tối cao và các Tòa án khác do luật
định. TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [47].
Để đảm bảo xét xử các vụ án HN&GĐ được nghiêm minh, đúng pháp luật, bảo vệ
quyền và lợi ích của các bên đương sự, Tòa án vừa phải áp dụng đúng đường lối, chính
sách pháp luật, vừa phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về tố tụng.
Ở TAND thị xã Phổ Yên của tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua số lượng án về
HN&GĐ có chiều hướng gia tăng, tỷ lệ án về HN&GĐ luôn chiếm hơn ½ lượng án phải giải
quyết. Đối với loại án này, mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũng khác nhau,
nên việc ADPL để giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn trong nhận thức vận dụng
pháp luật cũng như những khó khăn từ khách quan mang lại, bởi quan hệ pháp luật về
HN&GĐ là loại quan hệ đặc thù, về nhận thức, về kinh nghiệm cuộc sống, kiến thức pháp
luật về HN&GĐ nói riêng và pháp luật nói chung của một bộ phận không nhỏ người dân lao
động còn chưa cao, trong khi đó độ tuổi xin ly hôn của các cặp vợ chồng trong những năm
gần đây bị trẻ hóa, hậu quả của những cuộc hôn nhân bị đổ vỡ có tác động tiêu cực, nhiều
nay.
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật trong giải quyết án
Hôn nhân và gia đình - qua thực tiễn TAND thị xã Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên" làm
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật.
Qua đề tài này, tác giả mong muốn góp phần nâng cao chất lượng ADPL trong
hoạt động giải quyết án HN&GĐ của ngành Tòa án nói chung và TAND thị xã Phổ Yên
ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng, góp phần đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách
nền tư pháp ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
ADPL trong việc giải quyết các vụ án nói chung và ADPL trong giải quyết án
HN&GĐ nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm
công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài như:
- Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt
Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học luật Hà Nội; Ngô Vĩnh Bạch Dương (2001), “Vấn
đề áp dụng hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự ở Việt nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, (8), tr.53-60; Nguyễn Minh Đoan (1996), "ADPL- Một số vấn đề cần quan tâm",
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (3), tr.14-18; Lê Thu Hà (1999), “Án dân sự bị kéo dài vài nguyên nhân và giải pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Nguyễn Quang Hiền
(2013), “Kết hôn - Hậu quả pháp lý theo Luật HN&GĐ”, Tạp chí TAND; Bài viết “Một
số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và
gia đình và thực tiễn giải quyết” của tác giả Thu Hương - Duy Kiên (Tạp chí TAND số
5/2013); Thủy Nguyên (2005), “Áp dụng Luật Hôn nhân gia đình khi giải quyết vụ án có
yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Tòa án, (17); Lê Xuân Thân (2004), ADPL trong hoạt động
xét xử của TAND ở Việt nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ Luật, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Mạnh Toàn – luận văn thạc sỹ luật học (2008): "ADPL trong
hoạt động xét xử án hình sự của TAND ở tỉnh Thái Nguyên”. Luận văn đã phân tích cơ sở
lý luận về ADPL trong hoạt động xét xử án hình sự, đánh giá thực trạng ADPL trong xét
xử án hình sự của TAND ở tỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cụ
khác biệt của việc ADPL giải quyết các án hôn nhân gia đình của Tòa án cấp huyện (thị
xã Phổ Yên - Thái Nguyên) với Tòa án các cấp khác và với quá trình ADPL của Tòa án
nói chung; nghiên cứu các giai đoạn của việc ADPL cụ thể trong hoạt động giải quyết án
HN&GĐ ở TAND Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động ADPL trong
giải quyết án HN&GĐ của TAND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên, rút ra các nguyên nhân
khách quan và nguyên nhân chủ quan của kết quả đạt được, hạn chế.
- Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể đảm bảo việc
ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc áp dụng pháp luật, thực trạng ADPL, trong giải quyết án
HN&GĐ, những bất cập trong việc ADPL, từ đó đưa ra những giải pháp đảm bảo cho
ADPL của TAND.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình ADPL để giải quyết vụ án HN&GĐ của
Tòa án nhân dân cấp huyện, qua thực tiễn tại thị xã Phổ Yên, trong khoảng thời gian từ
năm 2011 đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, dựa trên các quan điểm đường lối, chính sách
của Đảng ta về xây dựng chế độ HN&GĐ mới trên cơ sở bình đẳng giới, bảo vệ bà mẹ và
trẻ em, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; đặc biệt là quan điểm
của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp trong thời gian tới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ HN&GĐ.
xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò ADPL trong việc giải quyết các vụ án
HN&GĐ của TAND cấp huyện
1.1.1. Khái niệm vụ án HN&GĐ
Hôn nhân là hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà.
Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn
nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây
dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do
việc kết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan
hệ vợ chồng. Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực chất và ý nghĩa của nó biểu hiện
trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp ứng cho nhau những nhu cầu tinh
thần và vật chất trong đời sống hàng ngày.
Ở nước ta hiện nay, hôn nhân theo Luật HN&GĐ Việt Nam là sự liên kết giữa một
người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy
định của pháp luật để chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ,
hoà thuận và bền vững, khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích: "Hôn nhân là
quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [48, tr.16].
Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau, gia đình là sản
phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Do vậy, gia
đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã
hội khác nhau, tính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau. Gia đình xã hội chủ
nghĩa là hình thái cao nhất trong lịch sử, chế độ xã hội chủ nghĩa quyết định sự xuất hiện
và phát triển của gia đình xã hội chủ nghĩa. Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng
trong gia đình xã hội chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong
1.1.2. Khái niệm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện
Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án là
cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của
Nhà nước Việt Nam độc lập, mặc dù không quy định rõ Tòa án là cơ quan xét xử, nhưng
trên tinh thần của Hiến pháp chúng ta cũng có thể hiểu Tòa án là cơ quan xét xử. Các bản
Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đã quy định rõ về chức năng xét xử của Tòa án, Điều 127,
Hiến pháp 1992 đã quy định: "TAND tối cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự
và các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam" [39, tr.64]. Trên cơ sở Hiến pháp, Điều 1, Luật Tổ chức TAND quy định về
chức năng xét xử của Tòa án: "Tòa án xét xử những vụ án về hình sự, dân sự, HN&GĐ,
lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật"
[49, tr.7].
Trong quá trình giải quyết các vụ án, Tòa án phải ADPL. Đối với các vụ án
HN&GĐ, khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự không tự mình giải quyết được thì theo
quy định của pháp luật, đương sự có quyền gửi đơn đến TAND cấp có thẩm quyền để yêu
cầu giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định của
BLTTDS năm 2004 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sửa đổi, bổ
sung năm 2011, khi nhận được đơn khởi kiện, TAND phải ADPL xem xét nếu thấy đủ
điều kiện thụ lý thì thụ lý vụ án và giải quyết theo trình tự, thủ tục được Bộ luật tố tụng
quy định. Quá trình đó bắt đầu từ khi thụ lý vụ án đến khi ra quyết định hoặc bản án buộc
các đương sự thi hành bằng nhiều hình thức như tự nguyện thi hành hoặc có sự cưỡng
chế thi hành của cơ quan thi hành án dân sự.
Theo quy định của BLTTDS hiện hành thì Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng chủ
yếu trong việc áp dụng các QPPL để giải quyết các vụ án dân sự nói chung, vụ án
HN&GĐ nói riêng. Ngoài ra còn có sự tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu
cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ
án dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Đồng thời tham gia phiên tòa đối với những vụ án
TAND cấp tỉnh. TAND cấp tỉnh có Tòa Dân sự giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án
HN&GĐ; Ủy ban thẩm phán xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với
những bản án, quyết định của TAND cấp huyện đã có hiệu lực bị kháng nghị.
- Án hôn nhân & gia đình là loại án có nguyên nhân đa dạng, phong phú, tính chất,
hậu quả pháp lý phức tạp, Tuy cùng một loại án về HN&GĐ nhưng tính chất từng vụ án
cũng khác nhau. Có những vụ án các đương sự có thiện chí cùng nhau hướng đến giải
quyết vụ việc đơn giản có thể thực hiện việc giải quyết vụ án trong một thời gian ngắn
bằng thủ tục hòa giải. Nhưng nếu có sự tranh chấp thì vụ việc sẽ kéo dài tuân thủ đầy đủ
theo các bước của Luật Tố tụng dân sự.
- Đối tượng của ADPL giải quyết án HN&GĐ là các chủ thể thuộc quan hệ hôn
nhân gia đình, có mối quan hệ đa dạng, thuộc nhiều đời, nhiều thế hệ. Chủ thể của quan
hệ HN&GĐ là cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ hôn nhân, được Nhà nước thừa nhận có
quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật đó. Quan hệ pháp luật HN&GĐ có nét
riêng biệt: Đó là yếu tố tình cảm gắn bó giữa các chủ thể là một nét đặc trưng, chính yếu
tố này đã quyết định việc các chủ thể, xác lập, duy trì hay chấm dứt quan hệ pháp luật
HN&GĐ.
- Là loại hình ADPL mà chủ thể tiến hành áp dụng - các Thẩm phán - cần phải có
sự thấu hiểu hơn về tâm lý, tình cảm, trạng thái liên quan đến quan hệ hôn nhân & gia
đình của các đương sự trong quá trình áp dụng, có sự chủ động với từng hoàn cảnh, vụ
việc.
- Là hoạt động ADPL có những đặc thù về quy trình áp dụng. Quy trình của hoạt
động ADPL giải quyết vụ án hôn nhân & gia đình về cơ bản gồm các giai đoạn như hoạt
động ADPL nói chung, tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn của hoạt động này lại có những điểm
riêng nhất định. Cụ thể, ở giai đoạn thứ nhất - giai đoạn phân tích những tình tiết khách
quan, các đặc trưng pháp lý của vụ án, các chủ thể có thể thường phải tiến hành hoạt
động xác minh, thu thập chứng cứ. Ở giai đoạn này, có thể đã có một quyết định ADPL
riêng biệt được ban hành nhằm phục vụ cho hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ, đó là
quyết định liên quan đến trưng cầu giám định hoặc định giá tài sản. Quyết định ADPL
HN&GĐ tiến bộ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, thậm
chí ADPL cho ly hôn là một biện pháp giải thoát cho các thành viên trong gia đình khi
mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài.
- Là hoạt động thông qua Tòa án, góp phần giải quyết các tranh chấp liên quan đến
HN&GĐ khi mà các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không tự giải quyết được, góp phần ổn
định trật tự xã hội. Theo quy định của BLTTDS thì: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa
giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ
việc dân sự”. Như vậy, trong việc giải quyết vụ án về HN&GĐ, Tòa án đóng vai trò là trung
gian hòa giải, giúp đỡ các bên đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án. Điều này có nghĩa, hòa
giải là sự tự nguyện thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án
với sự giúp đỡ của Tòa án nhằm hướng sự thỏa thuận giữa các đương sự đúng pháp luật và
chính sách của Nhà nước.
- Là hoạt động góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN&GĐ tiến bộ,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình và quyền con người.
Gia đình được hình thành trước khi Nhà nước và pháp luật ra đời (sự tồn tại của các hình
thái gia đình quần hôn, Pu-na-lu-an, đối ngẫu, một vợ – một chồng cổ điển). Tuy nhiên,
quyền con người về HN&GĐ và sự vi phạm về quyền này chưa đặt ra khi chưa có sự
phân hóa giai cấp và hình thành nhà nước, đồng nghĩa chưa xuất hiện sự áp bức, vi phạm
về quyền. Hay nói cách khác, quyền con người trong lĩnh vực HN&GĐ được đặt ra khi
xuất hiện nhà nước và pháp luật. Nhà nước thông qua pháp luật đã thiết lập nên hệ thống
quyền, nghĩa vụ cho công dân nói chung, thành viên của gia đình nói riêng.
- Là hoạt động góp phần thể hiện vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong quá trình đảm
bảo hiện thực hóa các quy định pháp luật liên quan đến các vụ án HN&GĐ và quyền con
người được bảo đảm bằng pháp luật trong quan hệ hôn nhân. Bởi vậy, mà Luật HN&GĐ
năm 2014 quy định tại Điều 4 về trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với HN&GĐ,
như sau: 1. Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ HN&GĐ, tạo điều kiện để nam, nữ
xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7.
Chính phủ (2001), Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, ngày 03 tháng 10 năm 2001 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ, Hà Nội.
8.
Chính phủ (2001), Nghị định số 77/2001/NĐ-CP, ngày 22 tháng 10 năm 2001 của
Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000-QH 10
của Quốc hội về việc thi hành Luật HN&GĐ, Hà Nội.
9.
Chính phủ (2001), Nghị định số 87/2001/NĐ-CP, ngày 22 tháng 10 năm 2001 của
Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực HN&GĐ, Hà Nội.
10. Chính phủ (2002), Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2002 của
Chính phủ quy định việc áp dụng Luật HN&GĐ đối với các dân tộc thiểu số, Hà
Nội.
11. Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản chung vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt
Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, trường Đại học luật Hà Nội, Hà Nội.
12. Ngô Vĩnh Bạch Dương (2001), “Vấn đề áp dụng hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự
ở Việt nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (8), tr. 53-60.
13. Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật HN&GĐ, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
14. Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội.
29. Nguyễn Văn Hiện (2001), “Tiêu chuẩn Thẩm phán - Thực trạng và những yêu cầu
đặt ra trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí TAND, (4), tr.2-6.
30. Đặng Thanh Hoa (2007), Về bài viết: "Một số vấn đề khi giải quyết việc hôn nhân
gia đình", TAND, (24), tr. 37-39.
31. Thu Hương - Duy Kiên (2013), “Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ và thực tiễn giải quyết”, Tạp chí TAND, (5), tr.
29-38
32. Huyện ủy - Hội đồng nhân dân – UBND – MTTQ huyện Phổ Yên (2014), Văn kiện
đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Phổ Yên lần thứ II, Phổ Yên.
33. Nguyễn Văn Huyên, Lê Mai Anh, Trần Minh Tiến (2011), Đạo đức nghề nghiệp
Thẩm phán, Hà Nội.
34. Nguyễn Thanh Mận (2012), Kỹ năng hòa giải vụ án dân sự, toaan.gov.vn, ngày 30/8.
35. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. Ngô Minh Ngọc (2000), Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật.
37. Thủy Nguyên (2005), “Áp dụng Luật Hôn nhân gia đình khi giải quyết vụ án có yếu
tố nước ngoài”, Tạp chí Tòa án, (17).
38. Đặng Quang Phương (1999), “Giải thích Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh là đòi hỏi tất
yếu trong thi hành pháp luật”, Tạp chí TAND, (7), tr.2-5.
39. Quốc hội (1992), Hiến pháp 1992, Nxb Pháp lý - Nxb Sự thật, Hà Nội.
40. Quốc hội (1999), Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
41. Quốc hội (2000), Luật HN&GĐ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Quốc hội (2000), Nghị quyết số 35/2000-QH-10,ngày 09 tháng 6 năm 2000 của
Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật HN&GĐ, Hà Nội.
43. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức TAND, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
44. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng Dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
45. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.