MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TOÀ
ÁN NHÂN DÂN 7
1.1. Khái niệm đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết án
hôn nhân và gia đình 7
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật 7
1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và
gia đình 11
1.2. Các giai đoạn và nội dung áp dụng pháp luật trong giải
quyết án hôn nhân và gia đình 16
1.2.1. Các giai đoạn trong áp dụng pháp luật giải quyết án hôn nhân
và gia đình 16
1.2.2. Nội dung hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn
nhân và gia đình 20
Kết luận chương 1 42
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TOÀ ÁN
NHÂN DÂN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Hà Nội và cơ cấu tổ
chức của toà án nhân dân ở thành phố Hà Nội 42
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Hà Nội 42
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân ở thành phố Hà Nội 43
3.3.2. Kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực, trình độ của
Thẩm phán và cán bộ trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình
của Toà án nhân dân ở thành phố Hà Nội 105
3.3.3. Nâng cao năng lực trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân 107
3.3.4. Tăng cường phương tiện và điều kiện cơ sở vật chất cho các
TAND ở thành phố Hà Nội và hoàn thiện chế độ chính sách đối
với Thẩm phán, cán bộ Toà án 108
3.3.5. Tăng cường hoạt động kiểm tra giám đốc án đối với TAND cấp
quận, huyện, đảm bảo việc ADPL thống nhất 110
3.3.6. Tăng cường công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử của ngành
Toà án làm cơ sở cho hoạt động giải quyết án Hôn nhân và gia
đình được thực hiện thống nhất 112
3.3.7. Toà án nhân dân Tối cao sớm ban hành các mẫu bản án, quyết
định thống nhất áp dụng cho toàn ngành Toà án 114
Kết luận chương 3 115
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ADPL: Áp dụng pháp luật
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
HĐXX: Hội đồng xét xử
HLPL: Hiệu lực pháp luật
Nxb: Nhà xuất bản
QHPL: Quan hệ pháp luật
QPPL: Quy phạm pháp luật
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
cập như vậy, song thực tế hiện nay các vụ án về Hôn nhân và gia đình vẫn
phát sinh và có chiều hướng gia tăng, đòi hỏi Toà án phải (ADPL) để giải
quyết các loại án này. Nghiên cứu về (ADPL) trong giải quyết án Hôn nhân
2
và gia đình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong
gia đình, thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, tránh tình trạng phân biệt
đối xử, tình trạng bạo lực gia đình [43].
Trong hoạt động tư pháp thì hoạt động của Toà án là trung tâm có vai
trò quan trọng trong hệ thống cơ quan tư pháp và Toà án là cơ quan duy nhất
nhân danh Nhà nước tiến hành hoạt động xét xử các loại án nói chung và Hôn
nhân và gia đình nói riêng. Trong những năm qua, việc trong giải quyết án
Hôn nhân và gia đình đã giải quyết được những mâu thuẫn bất hoà trong gia
đình, đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình,
bên cạnh những mặt đã đạt được trong quá trình giải quyết án Hôn nhân và
gia đình vẫn còn những thiếu sót, như có vụ án trong quá trình giải quyết còn
để tồn đọng, dây dưa kéo dài, có vụ án còn bị sửa, huỷ gây ảnh hưởng đến
quyền lợi của các bên đương sự.
Ở thành phố Hà Nội những năm qua, số lượng án về Hôn nhân và gia
đình ngày càng gia tăng. Đối với loại án này mỗi vụ án có nội dung đa dạng
và tính phức tạp khác nhau, nên việc ADPL để giải quyết loại án này gặp
không ít những khó khăn, trong nhận thức vận dụng pháp luật cũng như khó
khăn từ khách quan mang lại. Tuy vậy, quá trình giải quyết án Hôn nhân và
gia đình của ngành Toà án nhân dân thành phố Hà Nội trong những năm qua
đạt những kết quả nhất định góp phần giải quyết các mâu thuẫn bất hoà trong
hôn nhân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông qua
việc ADPL trong việc giải quyết án Hôn nhân và gia đình góp phần làm ổn
định quan hệ trong hôn nhân, giữ gìn kỷ cương pháp luật, giữ ổn định chính
trị, trật tự trị an toàn xã hội, góp phần tăng cường nền pháp chế Xã hội chủ
nghĩa trên toàn thành phố. Đồng thời, hoạt động ADPL trong giải quyết án
- Trương Kim Oanh ( 1996), Hòa giải trong tố tụng dân sự, Luận văn
thạc sy Luật học;
4
- Đặng Quang Phương (1999), Thực trạng của các bản án hiện nay và
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các bản án, Tạp chí TAND số 7, 8;
- Nguyễn Văn Cừ, (2000), Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật hôn
nhân và gia đình năm 2000, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11;
- Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, (2002), Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về Luạn Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị Quốc Gia,
Hà Nội;
- Bùi Văn Thuấn (2002), Phụ nữ và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng đối với tài sản riêng và chung, Nxb Phụ nữ, Hà Nội;
- Nguyễn Hồng Hải (2003), Bàn về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp chí luật học số 2;
- Trần Thị Quốc Khánh (2004), Từ hòa giải trong truyền thống dân tộc
đến hòa giải cơ sở ngày nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11;
Qua nghiên cứu những công trình nêu trên cho thấy, các tác giả chỉ đề
cập mặt này hay mặt khác của việc ADPL trong quá trình giải quyết án Hôn
nhân và gia đình, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống,
đầy đủ việc ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình nói chung, cũng
như trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ADPL trong giải quyết án Hôn
nhân và gia đình;
+ Đánh giá thực tiễn của việc ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và
gia đình tại thành phố Hà Nội;
+ Đề ra những giải pháp đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án Hôn
nhân và gia đình của TAND ở thành phố Hà Nội hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL
trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình, làm sáng tỏ đặc thù của loại án này
ở thành phố Hà Nội.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động
ADPL giải quyết án Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hà Nội và đề ra các giải
pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo ADPL trong hoạt động giải quyết án Hôn
nhân và gia đình có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ
sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác ADPL trong giải quyết án
Hôn nhân và gia đình, nhằm thực hiện và chấp hành nghiêm chỉnh Luật Hôn
nhân và gia đình. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên luật, hệ thống
các trường chính trị của Đảng, cho những người trực tiếp đang làm công tác xét
xử tại TAND nói chung và Toà án nhân dân ở Hà Nội nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận về trong giải quyết án hôn nhân và gia đình
của Tòa án nhân dân.
Chương 2: Thực trạng trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa
án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong giải quyết
án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
luật ban hành các quyết định cá biệt làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
một quan hệ pháp luật cụ thể.
Quan niệm ADPL như vừa nêu trên được thể hiện rất rõ trong đời sống
xã hội. Chẳng hạn, để ADPL hình sự nhằm buộc kẻ phạm tội phải chịu trách
nhiệm pháp luật hình sự thì nhà nước đã trao quyền cho Toà án và Toà án căn
cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật hình sự để xét xử ra một bản án (văn
bản ADPL hình sự) buộc kẻ phạm tội phải chịu một hình phạt nhất định. Hoặc
để bảo vệ an toàn giao thông, Nhà nước bằng pháp luật đã quy định cho các
chiến sỹ cảnh sát giao thông có quyền áp dụng các quy phạm pháp luật giao
thông ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các chủ thể có
hành vi vi phạm luật giao thông vượt đèn đỏ, đi ngược chiều… Ngoài ra,
trong một số trường hợp, Nhà nước cũng cho phép một số tổ chức xã hội
được ADPL, như pháp luật về thành lập Hội
Trong các hình thức thực hiện pháp luật, thì ADPL là một hình thức thực
hiện pháp luật đặc biệt, vì pháp luật ở đây được thực hiện bởi các chủ thể nắm
quyền lực nhà nước. Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp
luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể tự thực hiện thì
ADPL là hình thức luôn có sự tham gia của Nhà nước. ADPL là hình thức rất
quan trọng của thực hiện pháp luật. Trong đó pháp luật tác động vào cuộc sống,
vào các quan hệ xã hội để đạt được hiệu quả cao nhất, các quy định của nó đều
được thực hiện triệt để, bởi vì ADPL luôn có sự can thiệp của Nhà nước.
Trong thực tế, nếu chỉ thông qua các hình thức thực hiện pháp luật như:
tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật, thì pháp luật có
lúc không được thực hiện triệt để vì các chủ thể không tự giác thực hiện, bởi
9
các hình thức này chỉ do các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện mà không có
sự bắt buộc thực hiện của Nhà nước.
ADPL có những đặc điểm sau:
Một là, ADPL chỉ do những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến
cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Viện kiểm sát, Toà án đã dựa trên cơ
sở pháp luật hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, ra bản án, ấn định
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và buộc họ phải chấp hành hình
phạt đã tuyên trong bản án.
Thứ hai là khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc
nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước.
Chẳng hạn, Hiến pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ
của công dân” [27, Điều 55], nhưng quyền và nghĩa vụ đó chỉ phát sinh khi
có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân
được Nhà nước trao quyền tuyển dụng công dân đó vào làm việc.
Thứ ba là khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý
giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật (QHPL) mà các bên không tự giải
quyết được. Chẳng hạn, khi phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa
các bên trong hợp đồng dân sự mà hai bên không bàn bạc giải quyết được nên
phải nhờ đến Toà án và Toà án căn cứ vào các quy định của pháp luật ra một
bản án xác định các quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Thứ tư là trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết
phải tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ
đó hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự
kiện thực tế. Ví dụ: việc xác nhận di chúc, chứng thực thế chấp, chứng nhận
đăng ký kết hôn…
Từ những sự phân tích trên, có thể đưa ra một khái niệm: ADPL là một
hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực Nhà nước, trong đó Nhà nước
11
thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội, các cá
nhân được Nhà nước trao quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để đề ra
một văn bản ADPL làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật.
1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và
gia đình
sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội. Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội.
Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau mang tính chất và kết cấu của
gia đình cũng khác nhau. Gia đình XHCN là hình thái cao nhất trong lịch sử,
chế độ XHCN quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia đình XHCN.
Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia đình XHCN phản ánh
mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Ở Việt Nam Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Gia
đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền
giữa họ với nhau” [30, Điều 8, Khoản 10].
Như vậy, gia đình có thể gồm vợ chồng, con cái, anh chị em, cha mẹ,
ông bà cùng chung sống với nhau, có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ
nuôi dưỡng, trong quá trình chung sống, phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối
với nhau. Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội mà luôn được các
nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học nghiên cứu. Hôn nhân là cơ sở của
gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài
hoà lợi ích của mỗi công dân, nhà nước và xã hội. C. Mác và Ph. Ăngghen đã
chứng minh một cách khoa học rằng, hôn nhân và gia đình là phạm trù phát
triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối
quan hệ liên quan trực tiếp và chặt chẽ. Trong tác phẩm, Nguồn gốc gia đình,
13
của chế độ tư hữu và Nhà nước (1884), Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng:
“Chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong
xã hội đó và bước chuyển từ hình thái gia đình này lên hình thái gia đình
khác cao hơn suy cho cùng được quyết định bởi những điều kiện vật chất của
đời sống xã hội” [24]. Bằng tác phẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan
điểm trước đây về hình thái hôn nhân và gia đình trong lịch sử.
Tại các Điều 9, 10, 11, Chương X của Luật Hôn nhân và gia đình năm
sản… cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tuỳ từng vụ án cụ thể mà phân loại
giải quyết khác nhau như: Quyết định chuyển vụ án, tạm đình chỉ vụ án, đình
chỉ vụ án, công nhận hoà giải thành, công nhận thuận tình ly hôn hoặc quyết
định đưa vụ án ra xét xử.
Theo quy định của Luật tố tụng dân sự khi đương sự gửi đơn đề nghị
giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình đến TAND cấp có thẩm quyền giải
quyết, sau khi nhận đơn Toà án tiến hành phân loại việc hôn nhân và gia đình.
Nếu là quan hệ tranh chấp ly hôn thì thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật “Tranh
chấp ly hôn”. Nếu đơn khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con chung sau khi ly hôn thì thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật “Tranh chấp
việc cấp dưỡng nuôi con”… Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán giải quyết vụ án
phải ADPL tố tụng và Luật Hôn nhân và gia đình để điều tra thu thập chứng cứ
vụ án, lựa chọn quy phạm pháp luật để ra các quyết định hoặc ra bản án buộc
các đương sự thi hành bằng nhiều hình thức như: tự nguyện thi hành hoặc có sự
cưỡng chế thi hành của cơ quan Thi hành án dân sự.
Ngoài cơ quan Toà án ADPL giải quyết án hôn nhân và gia đình còn có
sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong giai đoạn giải quyết
vụ án. Viện kiểm sát nhân dân có quyền và trách nhiệm kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự, như yêu cầu cá nhân, cơ quan
15
tổ chức cung cấp chứng cứ, tham gia phiên toà xét xử và được phát biểu về
việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên toà. Tuy nhiên, TAND là cơ quan có trách nhiệm chủ
yếu trong việc giải quyết vụ án Hôn nhân và gia đình. Hầu hết trong các giai
đoạn ADPL, hoạt động giải quyết án Hôn nhân và gia đình do Toà án trực
tiếp giải quyết mà không phụ thuộc vào chủ thể nào khác.
* Đặc điểm của ADPL trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của TAND:
- ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình chỉ do các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tiến hành, đó là hệ thống TAND. Toà án là cơ quan có
và gia đình và các quy định khác của pháp luật để ra một quyết định cá biệt,
hoặc một bản án làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp
luật về Hôn nhân và gia đình.
1.2. Các giai đoạn và nội dung áp dụng pháp luật trong giải quyết
án hôn nhân và gia đình
1.2.1. Các giai đoạn trong áp dụng pháp luật giải quyết án hôn nhân
và gia đình
ADPL giải quyết án hôn nhân và gia đình nói riêng của TAND, là sự
biểu hiện cụ thể của ADPL nói chung. Do tính đa dạng của tranh chấp về hôn
nhân và gia đình như trong vụ án tranh chấp về ly hôn, Toà án phải giải quyết
cả ba mối quan hệ: quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi con chung sau ly hôn và
quan hệ tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn nên khi giải quyết nội dung
vụ án, Toà án phải áp dụng cả Luật Hôn nhân và gia đình, Luật đất đai, Bộ
luật dân sự để giải quyết vụ án. Ngoài ra, Toà án còn phải áp dụng những quy
định về thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án. Dựa trên cơ sở lý luận của ADPL,
có thể chia ADPL trong việc giải quyết án Hôn nhân và gia đình thành bốn
giai đoạn sau:
17
Một là phân tích các tình tiết khách quan của vụ án hôn nhân và gia
đình làm rõ các đặc trưng pháp lý của vụ án. Đây là hoạt động đầu tiên trong
các giai đoạn ADPL giải quyết án Hôn nhân và gia đình. Trong hoạt động
này, Toà án phải xác định thẩm quyền của Toà án theo loại việc (áp dụng
Điều 27, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự), thẩm quyền theo lãnh thổ, theo cấp
Toà án hoặc theo sự lựa chọn của các bên đương sự (áp dụng Điều 33, Điều
34, Điều 35, Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự), để thông báo cho các đương sự
biết Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
Đại đa số các vụ án Hôn nhân và gia đình đều do TAND cấp quận,
huyện giải quyết, trừ các vụ án có yếu tố nước ngoài thì do TAND cấp tỉnh
giải quyết. Do vậy, khi nhận đơn cần thu thập các thông tin liên quan đến các
Trên cơ sở kết quả điều tra xác minh vụ án chủ thể ADPL, phân tích
những tình tiết khách quan của vụ án hôn nhân và gia đình, làm rõ các đặc
trưng pháp lý của vụ án để tiến hành các bước tiếp theo giải quyết vụ án đó.
Hai là lựa chọn các QPPL về Hôn nhân và gia đình, về Dân sự, về Tố
tụng dân sự tương ứng để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình.
Nói chung, việc lựa chọn QPPL để ADPL được tiến hành theo ý chí
đơn phương của Toà án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ
thể bị áp dụng. Điều này được thể hiện rất rõ đối với việc ADPL trong giải
quyết án hình sự và giải quyết vi phạm hành chính, nhưng đối với việc giải
quyết án hôn nhân và gia đình về cơ bản cũng vậy, song có một số trường hợp
có thể trong khi giải quyết vụ án các đương sự có thể thực hiện quyền của
mình theo pháp luật quy định sẽ thay đổi quan điểm, nên dẫn đến vụ án không
phải tiếp tục điều tra, xét xử mà có thể ra một quyết định thoả thuận của các
đương sự mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể ADPL, nhưng lựa chọn
QPPL vẫn là do cơ quan Toà án.
19
Ví dụ: Trong trường hợp các bên đương sự thuận tình ly hôn, thoả
thuận được với nhau về việc người trực tiếp nuôi con, thoả thuận về tài sản
khi ly hôn thì Toà án áp dụng Điều 89, Điều 90, Điều 94 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000; Điều 182, Điều 183 Bộ luật tố tụng dân sự để ra Quyết
định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự.
Đây là quá trình vận dụng tổng hợp các tri thức chính trị, kinh tế - xã
hội, đặc biệt là các tri thức pháp lý. Để làm sáng tỏ tư tưởng nội dung các quy
phạm liên quan đến lĩnh vực Hôn nhân và gia đình. Giai đoạn này của quá
trình ADPL nhằm nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của QPPL đưa ra áp
dụng để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình. Việc ADPL phải thông qua
người có thẩm quyền khi ADPL. Cụ thể, Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án
phải căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự,
Luật đất đai để giải thích cho các đương sự hiểu, hướng cho các đương sự đi
hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành.
Về thẩm quyền thi hành án dân sự:
Theo khoản 1, Điều 35, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì cơ quan
thi hành án cấp huyện sẽ có thẩm quyền thi hành đối với bản án, quyết định
của Giám đốc thẩm của Toà án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành dân sự cấp huyện có
trụ sở.Trong trường hợp nếu thấy cần thiết, bản án, quyết định của Giám đốc
thẩm nêu trên có thể chuyển giao cho cơ quan thi hành dân sự cấp tỉnh.
Hiện nay cơ quan thi hành án cấp huyện là Chi cục Thi hành án dân sự
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan thi hành án cấp tỉnh là Cục
Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Về việc ra quyết định thi hành án:
Theo khoản 1, Điều 36, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì trong
21
thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Toà
án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định đối với
phần bản án, quyết định sau đây:
(a)-Hình phạt tiền, truy thu thiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;
(b)- Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;
(c)- Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng,
tài sản cho đương sự;
(d)- Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện
sung quỹ nhà nước;
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển giao hoặc do đương sự
giao trực tiếp, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết
định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành.
Ngoài những trường hợp theo khoản 1, Điều 36 nêu trên, Thủ trưởng
cơ quan thi hành dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi