1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong những
nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân
và vì dân. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta cần phải có
con người xã hội chủ nghĩa, đó là đòi hỏi tất yếu khách quan. Nhưng muốn có
con người XHCN thì phải có một gia đình mẫu mực, bởi gia đình quyết định
một phần rất lớn tới bản chất con người. Gia đình hiện nay còn được xem là tế
bào của xã hội, do vậy muốn có một xã hội phát triển và lành mạnh thì cần
phải có các gia đình tốt - gia đình văn hóa mới. Gia đình là cái nôi sản sinh ra
con người, nuôi dưỡng và giáo dục con người cho xã hội, vì vậy Đảng và Nhà
nước ta trong những năm qua luôn luôn quan tâm tới vấn đề gia đình. Luật
hôn nhân và gia đình có vai trò góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế
độ HN và GĐ tiến bộ, nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ
hạnh phúc, bền vững. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về gia đình được
ghi nhận tại Điều 64 Hiến pháp năm 1992: “Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà
nước bảo hộ HN và GĐ theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một
chồng, vợ chồng bình đẳng. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những
người công dân tốt, con cháu có bổn phận chăm sóc ông bà, cha mẹ. Nhà
nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”.
Mặc dầu đường lối chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước đã đề cập như vậy, song hiện nay các vụ án về HN và GĐ vẫn phát
sinh và có chiều hướng gia tăng, đòi hỏi Tòa án phải ADPL để giải quyết các
loại án này. Nghiên cứu về ADPL trong giải quyết án hôn nhân nhằm bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình. Thực hiện nguyên tắc vợ
chồng bình đẳng, tránh tình trạng phân biệt đối xử, tình trạng bạo lực trong gia
đình.
2
xuất sửa đổi các điều khoản của pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn
trong từng giai đoạn cụ thể.
Bên cạnh những mặt đã đạt được, qua quá trình kiểm tra giám đốc án
và xét xử phúc thẩm của TAND tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có những
thiếu sót của việc ADPL trong quá trình giải quyết, nên dẫn đến một số vụ án
bị sửa, hủy; một số ít vụ án còn bị dây dưa kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền
lợi các đương sự. Trong hoạt động xét xử, TAND tỉnh Thái Nguyên cũng đã
bộc lộ một số tồn tại, như xét xử oan sai, án tồn đọng còn nhiều, còn có vụ án
vi phạm thời hạn tố tụng. Đặc biệt, một số vụ án do ADPL không chuẩn xác,
nên còn bị sửa, hủy nhiều lần, kéo dài nhiều năm, gây ảnh hưởng đến đời sống,
quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là một trong những nguyên
nhân dẫn đến nhân dân khiếu kiện vượt cấp lên đến các cơ quan Trung ương.
Tồn tại trên là những lực cản cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền.
Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật trong giải
quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên"
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án nói chung và ADPL
trong giải quyết án HN và GĐ nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và
nhất là những người trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm
nghiên cứu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến một số
khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài như: TS Đặng Quang Phương
(1999), "Thực trạng của các bản án hiện nay và một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện các bản án", Tạp chí TAND số: 7, 8; Th.s Nguyễn Văn Cừ (2000),
“Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000”, Tạp
chí Luật học số: 4; Trần Thị Quốc Khánh (2004), “Từ hòa giải trong truyền
thống dân tộc đến hòa giải ở sơ sở ngày nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
4
5
+ Xây dựng khái niệm, ADPL trong giải quyết án HN và GĐ và phân
tích các đặc điểm, nội dung, cũng như nêu lên các giai đoạn của việc ADPL
trong hoạt động giải quyết án HN và GĐ.
+ Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động
ADPL trong giải quyết án HN và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên và rút ra
các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của hạn chế.
+ Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể như:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án; hoàn thiện
các QPPL nhằm đảm bảo ADPL trong giải quyết án HN và GĐ; kiện toàn tổ
chức, nâng cao năng lực của Thẩm phán, cán bộ Tòa án và HTND… nhằm đảm
bảo việc ADPL trong giải quyết án HN và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Nhà nước và pháp luật, trong đó có vấn đề ADPL giải quyết án HN và GĐ.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin
về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phương
pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp thống
kê, so sánh, điều tra, khảo sát.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL
trong giải quyết án HN và GĐ, làm rõ những đặc thù của loại án này ở tỉnh
Thái Nguyên.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động
ADPL giải quyết án HN và GĐ ở tỉnh Thái Nguyên và đề ra các giải pháp có
quan của cơ quan quản lý nhà nước bằng pháp luật ở nước ta hiện nay. Pháp
luật được ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ công
tác quản lý nhà nước kém hiệu quả. Do đó, xây dựng pháp luật và thực hiện
pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vậy thực hiện pháp luật là gì? Thực hiện pháp luật là một quá trình
hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc
sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hành động thực tế của các chủ thể pháp luật.
Các QPPL rất phong phú cho nên hình thức thực hiện chúng cũng khác nhau.
Căn cứ vào tính chất của hoạt động, thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã
xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:
- Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật tự kiềm chế, không tiến hành những hoạt động hay hành vi mà
pháp luật ngăn cấm.
- Thi hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó
các chủ thể tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình theo pháp luật quy định.
- Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể tích cực chủ động thực hiện các quyền chủ thể của mình theo pháp
luật quy định.
- Áp dụng pháp luật (hiểu một cách khái quát) là một hình thức thực
hiện pháp luật, trong đó nhà nước dựa vào pháp luật để trao quyền cho các cơ
8
quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân để căn cứ vào các quy định
pháp luật ban hành các quyết định cá biệt làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm
dứt một quan hệ pháp luật cụ thể.
Quan niệm ADPL như vừa nêu trên được thể hiện rất rõ trong đời sống
xã hội: Chẳng hạn để ADPL hình sự nhằm buộc kẻ phạm tội phải chịu trách
nhiệm pháp luật hình sự thì nhà nước đã trao quyền cho Toà án và Toà án căn
cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật hình sự để xét xử ra một bản án (văn
ADPL hình sự để điều tra, truy tố và xét xử kẻ phạm tội. Còn UBND các cấp
không được ADPL hình sự.
Hai là, ADPL là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, thể
hiện: Cơ quan ADPL áp dụng theo ý chí đơn phương mà không phụ thuộc vào
ý chí của bên bị áp dụng. Việc thực hiện các quy định trong văn bản ADPL
được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.
Ba là, ADPL là một hoạt động được tiến hành theo một thủ tục tố tụng
rất chặt chẽ. Chẳng hạn, muốn ADPL hình sự phải thực hiện đúng theo các
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật hình sự.
Bốn là, ADPL là một hoạt động sáng tạo. Nghĩa là, khuôn khổ của pháp
luật cho phép người ADPL phải vận dụng tri thức khoa học của mình để
ADPL sáng tạo mà không rập khuôn, máy móc.
Áp dụng pháp luật thường được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Thứ nhất, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế bằng một chế tài
thích hợp đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn, khi
cần cưỡng chế một hình phạt tù đối với kẻ thực hiện hành vi phạm tội thì các
cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đã dựa trên cơ
sở pháp luật hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, ra bản án, ấn định
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và buộc họ phải chấp hành hình
phạt đã nêu trong bản án đó.
10
- Thứ hai, khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc
nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước.
Chẳng hạn, Điều 55 của Hiến pháp năm 1992 quy định: "Lao động là quyền
và nghĩa vụ của công dân", nhưng quyền và nghĩa vụ đó chỉ phát sinh khi có
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân được
nhà nước trao quyền tuyển dụng công dân đó vào làm việc.
- Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý
nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng. Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực
chất và ý nghĩa của nó biểu hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục
con cái, đáp ứng cho nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời
sống hàng ngày. Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống
trị bằng pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí,
nguyện vọng của mình, phù hợp với lợi ích giai cấp mình, xã hội nào thì
có hình thái hôn nhân đó và tương ứng với chế độ hôn nhân nhất định.
Chẳng hạn, xã hội phong kiến có hình thức hôn nhân phong kiến, mang
bản chất của hôn nhân phong kiến. Trong xã hội tư bản có hình thức hôn
nhân tư sản mang bản chất của xã hội tư sản. Xã hội XHCN có hình thức
của hôn nhân xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta hiện nay, hôn nhân theo Luật HN và GĐ Việt Nam là sự liên
kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự
nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật để chung sống với nhau suốt
đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bền vững. Khoản 6,
Điều 8 Luật HN và GĐ năm 2000 giải thích: "Hôn nhân là quan hệ giữa
người vợ và chồng sau khi đã kết hôn".
* Khái niệm gia đình: Rộng hơn khái niệm hôn nhân, hôn nhân là
mối quan hệ giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, là tiền đề xây dựng gia
đình. Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau, gia
12
đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát
triển của xã hội. Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào
của xã hội. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau mang tính chất
và kết cấu của gia đình cũng khác nhau. Gia đình XHCN là hình thái cao
nhất trong lịch sử, chế độ XHCN quyết định sự xuất hiện và phát triển của
gia đình XHCN. Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia
đình XHCN phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong gia
1.1.2.2. Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình
- Khái niệm và đặc điểm
* Về khái niệm ADPL trong giải quyết án HN và GĐ:
Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử. Hiến pháp năm
1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, mặc dù không
quy định rõ Tòa án là cơ quan xét xử, nhưng trên tinh thần của Hiến pháp
chúng ta cũng có thể hiểu Tòa án là cơ quan xét xử. Các bản Hiến pháp
1959, 1980 và 1992 đã quy định rõ về chức năng xét xử của Tòa án, Điều
127, Hiến pháp 1992 đã quy định: "Tòa án NDTC, các TAND địa phương,
các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử của
nước CHXHCNVN" [29, tr.171]. Trên cơ sở Hiến pháp, Điều 1, Luật Tổ
chức TAND quy định về chức năng xét xử của Tòa án: "Tòa án xét xử
những vụ án về hình sự, dân sự, HN và GĐ, lao động, kinh tế, hành chính
và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật" [29, tr.7].
Trong quá trình xét xử tòa án phải ADPL để giải quyết các vụ án. Đối
với các vụ án HN và GĐ, Tòa án phải ADPL để giải quyết kể từ khâu phân
loại đơn, thụ lý đơn, điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh, định giá tài sản…
cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tùy từng vụ án cụ thể mà phân loại giải
14
quyết khác nhau như: Quyết định di lý, vụ án tạm đình chỉ, đình chỉ, công
nhận hòa giải thành, công nhận thuận tình ly hôn hoặc quyết định đưa vụ án
ra xét xử.
Hoạt động giải quyết án HN và GĐ cụ thể được giao cho một Thẩm
phán chịu trách nhiệm từ khi nhận đơn thụ lý. Trình tự các bước giải quyết án
HN và GĐ trước đây phải tuân theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự năm 1986, nay được áp dụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự nước
CHXHCNVN năm 2004. Theo quy định khi đương sự gửi đơn đề nghị giải
quyết định hoặc vụ án đưa ra xét đều phải tuân theo các bước như đã quy định
trong Luật Tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên
đương sự.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ là một hoạt động
mang tính quyền lực của nhà nước, Tòa án được nhà nước trao quyền để lựa
chọn các QPPL và ADPL trong giải quyết án HN và GĐ.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ là một hoạt động
mang tính khoa học và sáng tạo do Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện.
Chỉ có Thẩm phán, Hội đồng xét xử trực tiếp giải quyết vụ án HN và GĐ mới
được áp dụng các QPPL, sao cho phù hợp và khoa học để giải quyết án HN và
GĐ. Trong khuôn khổ của pháp luật cho phép, Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân ADPL sáng tạo, nghĩa là dựa vào trí tuệ và niềm tin nội tâm của mình để
ADPL.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ diễn ra trên phạm vi
rộng với nhiều vụ án đa dạng, phức tạp. Tuy cùng một loại án về HN và GĐ
nhưng tính chất từng vụ án cũng khác nhau, trong các vụ án các đương sự có
thiện chí cùng nhau hướng đến giải quyết vụ việc đơn giản có thể thực hiện
việc giải quyết vụ án trong một thời gian ngắn, nhưng nếu có sự tranh chấp thì
vụ việc phải tuân thủ theo các bước của Luật Tố tụng dân sự.
Dựa trên cơ sở khái niệm ADPL và từ sự phân tích về ADPL trong giải
quyết án HN và GĐ nêu trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm: ADPL trong
16
giải quyết án HN và GĐ là một hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực
nhà nước mà trong đó nhà nước thông qua các Thẩm phán, hoặc Hội đồng
xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân, gia đình và các quy
định khác của pháp luật để ra một quyết định cá biệt, hoặc một bản án làm
phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật về HN và GĐ.
1.2. CÁC GIAI ĐOẠN VÀ NỘI DUNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
Khi thụ lý giải quyết một vụ kiện xin ly hôn, Tòa án yêu cầu nguyên đơn và
bị đơn cung cấp các loại giấy tờ có liên quan đến quan hệ hôn nhân, các đương
sự tự viết vào bản tự khai. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự tự
thỏa thuận, định đoạt được các mối quan hệ trong hôn nhân thì Tòa án ra quyết
định công nhận việc thỏa thuận của họ.
Trên cơ sở kết quả điều tra xác minh vụ án chủ thể ADPL phân tích
những tình tiết khách quan của vụ án HN và GĐ, làm rõ các đặc trưng pháp lý
của vụ án để tiến hành các bước tiếp theo giải quyết vụ án đó.
Hai là, lựa chọn các QPPL về HN và GĐ, về dân sự, về tố tụng dân sự
tương ứng để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình.
Nói chung việc lựa chọn QPPL để ADPL được tiến hành theo ý chí đơn
phương của Toà án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp
dụng, điều này được thể hiện rất rõ đối với việc ADPL trong giải quyết án hình
sự và giải quyết vi phạm hành chính, nhưng đối với việc giải quyết án HN và
GĐ về cơ bản cũng như vậy, song có một số trường hợp có thể trong khi giải
quyết vụ án các đương sự có thể thực hiện quyền của mình theo pháp luật quy
định sẽ thay đổi quan điểm, nên dẫn đến vụ án không phải tiếp tục điều tra, xét
xử mà có thể ra một trong các quyết định theo hướng khác phụ thuộc vào ý chí
của các chủ thể bị ADPL, nhưng lựa chọn các QPPL vẫn là do cơ quan toà án.
Ba là, làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL hôn nhân gia đình
và các QPPL khác khi đưa ra áp dụng đối với vụ án HN và GĐ.
Đây là quá trình vận dụng tổng hợp các tri thức chính trị, kinh tế, xã hội,
đặc biệt là các tri thức pháp lý. Để làm sáng tỏ tư tưởng nội dung các quy phạm
liên quan đến lĩnh vực HN và GĐ. Giai đoạn này của quá trình ADPL nhằm
18
nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của QPPL đưa ra áp dụng, để giải quyết
án HN và GĐ. Việc ADPL phải thông qua người có thẩm quyền khi ADPL.
Bốn là, ra quyết định áp dụng pháp luật hoặc ra một bản án để giải
- Yêu cầu hủy việc kết hôn trái phép.
- Yêu cầu công nhân thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn.
- Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc
quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
- Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
- Các tranh chấp khác và những yêu cầu khác về HN và GĐ mà pháp
luật có quy định.
Trong thực tế các loại việc tranh chấp về HN và GĐ khi các đương sự gửi
đơn đến Tòa án viết rất đơn giản ít các thông tin để xem xét, thuộc loại tranh
chấp nào, thuộc thẩm quyền Tòa án nào giải quyết.
- Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, những chứng cứ kèm theo, nếu
xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì thông báo cho
người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.
- Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho
người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc tiền tạm ứng án phí, người khởi
kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai tạm
thu tiền án phí. Nếu trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng
án phí thì Tòa án phải thụ lý khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ
kèm theo, nếu có.
Khác với pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Điều 37 quy
định: "Nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án báo ngay cho
20
nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí, trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nộp
của Tòa án, Chánh án phân công cho một Thẩm phán trực tiếp giải quyết
vụ án, điều tra thu thập chứng cứ, đây là giai đoạn rất quan trọng, khó khăn
nhất trong quá trình giải quyết vụ án. Thu thập được chứng cứ đầy đủ,
khách quan thì Tòa án mới có thể phán quyết chính xác và đúng pháp luật.
Do đó, đòi hỏi Thẩm phán phải thận trọng khi thu thập chứng cứ như các
bước chủ yếu sau:
- Thẩm phán tiến hành lấy lời khai đương sự theo Điều 86 Bộ luật Tố
tụng dân sự, chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản
khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng, đương sự phải tự viết bản
khai và ký tên của mình. Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được
thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ
tập trung vào những nội dung đương sự chưa khai.
Việc lấy lời khai của đương sự cũng có thể được thực hiện tại trụ sở
Tòa án, trong những trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự
ngoài trụ sở Tòa án. Sau khi ghi xong, biên bản ghi lời khai phải được người
khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền
sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai, ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận và
có dấu của Tòa án, nếu nhiều bản thì phải có dấu giáp lai. Trường hợp biên
bản ghi lời khai ở ngoài trụ sở Tòa án phải có người làm chứng hoặc xác nhận
của Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi
lập biên bản. Ngoài việc lấy lời khai của đương sự, khi xét thấy cần thiết
Thẩm phán tiến hành lấy lời khai, nếu người làm chứng chưa đủ 18 tuổi hoặc
năng lực hành vi dân sự của họ bị hạn chế thì phải được tiến hành lấy lời khai
với sự có mặt người đại diện hoặc người đang quản lý trông nom.
Đối với vụ án ly hôn, khi có tranh chấp về con, nếu con từ 9 tuổi trở
lên, khi giải quyết cần phải xem xét nguyện vọng của con.
22
Từ kết quả lấy lời khai nếu thấy có mâu thuẫn thì tiến hành cho đối chất
- Đối với những chứng cứ thu thập ở nơi xa, Tòa án có thể ra quyết
định ủy thác để Tòa án nơi khác hoặc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai của
đương sự, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc có các biện pháp khác để
thu thập chứng cứ. Trong những trường hợp cần thiết pháp luật quy định cho
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ chứng cứ, tránh gây thiệt
hại không thể khắc phục được hoặc đảm bảo việc thi hành án. Các biện pháp
khẩn cấp tạm thời như:
- Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Buộc thực hiện trước một phần cấp dưỡng.
- Kê biên tài sản đang tranh chấp.
- Cấm chuyển dịch về quyền về tài sản đang tranh chấp.
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
- Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước
ở nơi gửi.
- Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
Quá trình điều tra cần tuân thủ nghiêm ngặt, chính xác các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự thì mới đảm bảo tính khách quan, làm rõ bản chất
sự thật khách quan của vụ việc.
• Đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án.
- Trong trường hợp đình chỉ vụ án áp dụng Điều 192 Bộ luật Tố tụng
dân sự trong các trường hợp sau:
+ Nguyên đơn hoặc bị đơn chết, quyền và nghĩa vụ của họ không ai
thừa kế.
24
+ Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc
người khởi kiện không có quyền khởi kiện.
+ Các đương sự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết tiếp vụ án.
GĐ, Tòa án tiến hành điều tra vụ án cũng tuân theo các bước như trường hợp
vụ án đình chỉ và tạm đình chỉ, nhưng việc thu thập các tài liệu chứng từ có
liên quan đến vụ án phải tùy thuộc vào tính chất của từng vụ việc đang giải
quyết, những vụ án đơn giản thì nội dung điều tra dễ dàng hơn những vụ phức
tạp, khi đã điều tra đầy đủ làm rõ các tình tiết khách quan trong vụ án, thì Tòa
án mới tiến hành hòa giải.
Việc hòa giải phải tuân quy định tại Điều 180, 181, 185, 186 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Tòa án triệu tập các bên đương sự đến hòa giải, giúp các bên đi
đến thỏa thuận với nhau về các vấn đề đang tranh chấp. Trước khi tiến hành hòa
giải, Thẩm phán phải nắm vững các tình tiết nội dung của vụ án, cần chủ động
chuẩn bị nội dung hòa giải. Đồng thời phải thông báo cho các đương sự có
liên quan, người đại diện của đương sự biết về địa điểm, thời gian, nội dung
các vấn đề cần hòa giải. Thành phần hòa giải cũng được pháp luật quy định
gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký ghi nội dung biên bản hòa giải.
Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa
giải, nhưng các đương sự khác đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải
không ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm
phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt, nếu các đương sự đề nghị
hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán
phải hoãn phiên hòa giải. Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các
đương sự biết các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án
để các bên liên hệ đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả
pháp lý nếu vụ án phải xét xử, để họ tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
vụ án.