Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành từ nay đến 2020 - Pdf 41

LI M U
i vi Vit Nam chuyn dch c cu khụng ch l mt
xu hng m cũn l mt yờu cu tt yu. Trong nhng nm
va qua ó cú rt nhiu nghiờn cu tỡm ra con ng i
thớch hp nht. Tuy nhiờn iu ú cũn rt nhiu bn cói.
ti: "Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành từ nay đến 2020" nhm nghiờn
cu mi quan h gia chuyn dch c cu kinh t vi tng
trng. Tỡm ra xu hng vn ng ca nn kinh t v t ú
hng vo mc tiờu phỏt trin ca quc gia t nay n nm
2020. Trong quỏ trỡnh nghiờn cu do iu kin khỏch quan
v ch quan vẫn còn nhiều thiếu sót mong đợc sự góp ý của
thầy cô và các bạn.

1


CHƯƠNG I
: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.

1. MỘT SỐKHÁI NIỆM CƠBẢN.Mét sè kh¸i niÖm c¬ b¶n
1.1. Tăng trưởng kinh tế
Theo nghĩa chung nhất, tăng trưởng kinh tế thường được
quan niệm là sự tăng lên hay gia tăng về quy mố sản lượng
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một
năm). Hay nói một cách khác cụ thể hơn, tăng trưởng kinh tế
là do tăng thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân đầu
người.
Tăng trưởng kinh tế được xác định bằng cách so sánh

Phát tiển kinh tế là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất
của nền kinh tế, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình
hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc
gia.

3


Phát triển kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, sự tăng lên của tổng thu nhập nền kinh tế và
mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người..
Thứ hai, sự thay đổi (tiến bộ) về cơ cấu kinh tế, đặc
biệt là cơ cấu ngành. Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi
về chất của nền kinh tế quốc gia.
Thứ ba, sự tiến bộ về mặt xã hôi. Mục tiêu cuối cùng
của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là
tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xoá
bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, khẳ năng tiếp cận tới các dịch
vụ y tế, nước sạch, trình độ dân chí giáo dục của quảng đại
quần chúng nhân dân,…làm cho con người ngày càng có
cuộc sống tốt hơn.
Nếu nền kinh tế chỉ nhìn theo khía cạnh tăng trưởng thì
chưa đủ, để nhìn toàn diện phải nhìn trên phương diện phát
triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là lượng thì phát triển kinh
tế phải là cả lượng và chất. Như vậy, đánh giá về phát triển
kinh tế phải dựa trên đánh giá của các khía cạnh: Đánh giá
sự thay đổi về lượng, đánh giá về sự biến đổi trong cơ cấu
của nền kinh tế, đánh giá về sự thay đổi trong các vấn đề xã
hội.
Ngày nay khi nói đến phát triển người ta thường nhắc

mỏ khai khoáng,... Các ngành cấp I lại được phân nhỏ thành

5


các ngành cấp II. Các ngành cấp II lại được phân nhỏ thành
các ngành sản phẩm.
Có nhiều mức phân ngành khác nhau, tùy theo mức dộ
gộp hay chi tiết hóa đến chừng nào đó mà có được tập hợp
các ngành tương ứng.
Với một cách phân ngành hợp lý và một giá trị đại
lượng được chọn thống nhất có thể xác định được các chỉ
tiêu định lượng phản ánh một mặt cơ cấu ngành, đó là tỷ
trọng các ngành so với tổng thể các ngành của nền kinh tế.
Loại chỉ tiêu định lượng thứ nhất này được sử dụng để
nghiên cứu liên quan đến phát triển cơ cấu ngành của nền
kinh tế. Chỉ tiêu định lượng thứ hai có thể mô tả được phần
nào mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành kinh tế, đó
chính là các hệ số trong bảng cân đối liên ngành (của hệ
MPS) hay bản Vào – Ra (I/O) (của hệ thống SNA).
Như vậy theo định nghĩa cơ cấu ngành đưa ra xét về mặt
định lượng, ít ra phải có hai loại chỉ tiêu trên đây mới cho ta
sự hiểu biết đầy đủ hơn về cơ cấu ngành của một nền kinh
tế.
1.4. Khái niệm về điều chỉnh cơ cấu ngành.
Chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình phát triển của các
ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các
ngành và làm thay đổi quan hệ tương quan giữa chúng so
với một thời điểm trước đấy.
6


ngành diễn ra theo xu hướng nào, tốc độ nhanh chậm ra sao,
có những quy luật gì?
Có rất nhiều nền kinh tế đã đạt được thành công trong
sự phát triển nhờ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành
đặc thù phù hợp với điều kiện cụ thể. Việc tìm ra một xu
hướng hay giải pháp cho chuyển dịch cơ cấu ngành của Việt
Nam không đơn thuần là áp dụng kinh nghiệm có được mà
là sự phát hiện những đặc thù của đất nước, của môi trường
trong nước và thế giới hiện nay để làm thích ứng những bài
học đã có cho hoàn cảnh Việt Nam.
2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành trong lý thuyết nhị nguyên.
Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này cho rằng ở các nước
đang phát triển có trạng thái nhị nguyên của nền kinh tế, tức
là có hai khu vực song song tồn tại, bao gồm:
Khu vực kinh tế truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp, khu vực này có tình trạng dư thừa lao động. Do
ruộng đất có hạn và trình độ lao động cũng như áp dụng tiến
bộ khoa học công nghệ ngày một tăng, nên trong nông
nghiệp số lượng lao động giảm nhưng vẫn tăng sản xuất. Bộ
phận lao động dư thừa này có nhu cầu việc làm rất lớn, sẵn
sàng di chuyển đến khu vực khác có việc làm và thu nhập
cao hơn hiện tại.

8


Khu vực kinh tế du nhập được hiểu là khu vực công
nghiệp hiện đại, khu vực này có năng suất lao động cao, tích

nghiệp hiện đại trong điều kiện đầu tư vào khoa học – công
nghệ đòi hỏi nhiều vốn hơn là nhiều lao động.
+ Bản thânh ở các thành phố cũng dư thừa lao
động, mà lao động ở thành phố thường có điều kiện để nâng
cao trình độ tay nghề hơn là lao động ở nông thôn.
+ Trình độ tay nghề của lao động nông thôn
thường là thấp, thậm chí còn chưa quen với môi trường lao
động công nghiệp.
Thực tế Việt Nam thời gian qua cho thấy, để phát triể
khu vực công nghiệp tập trung liên doanh với nước ngoài đã
phải lấy vào nông nghiệp, giảm chỗ làm việc của nông dân
song không thu hút được một cách thỏa đáng số lao động từ
nông nghiệp ở khu vực đã lấy đất.
3. Điều kiện ứng dụng lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu.
3.1. Điều kiện ứng dụng lý thuyết nhị nguyên.
Nền kinh tế song song tồn tại hai khu vực:
- Khu vực truyền thống chủ yếu là nông nghiệp.
- Khu vực du nhập chủ yếu là công nghiệp hiện đại.

10


- Có mối quan hệ nông nghiệp và công nghiệp thông
qua di chuyển lao động từ nông nghiệp (nông thôn) sang khu
vực công (thành thị)
3.2. Khả năng ứng dụng ở Việt Nam.
Nước ta cũng đang hình thành hai khu vực: truyền thống
và hiện đại. Có thể ứng dụng:
Xác định khả năng phát triển khu vực công nghiệp hiện
đại nhằm thu hút lao động từ nông nghiệp.

tạo cho nền kinh tế từ mức tăng trưởng 4% năm 1987 lên
9% năm 1996, 8,5% năm 2005. Cuối cùng năm 1997 nền
kinh tế gặp khó khăn song ước vẫn đạt 8-9%. Mức thu nhập
bình quân đầu người tăng 5%/năm, từ 100 USD năm 1987
lên 300 USD năm 1996 và 545 USD năm 2004. Tốc độ tăng
trưởng cao nhất thuộc về khối ngành công nghiệp (916%/năm), tiếp đến là dịch vụ (7-8%/năm), nông nghiệp là
ngành đặc trưng, khoảng 4,8%. Nếu so sánh các nước có tôc
độ tăng trưởng như vừa qua có thể xem là thành tựu đáng kể
(xem biểu đồ 1)
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và các khu vực kinh
tế (%)

Nông nghiệp hiện nay chiếm khoảng 21- 22% GDP, đã
vượt qua tình trạng thiếu lương thực và trở thành nươc xuất
khẩu thưc 3 thế giới. Sau khi giải quyết tốt về lương thực,
thực phẩm, cơ cấu nông nghiệp được chuyển hướng mạnh
13


sang phát triển cây công nghiệp điển hình là tốc độ gia tăng
cây Cà phê, cao su năm 1996. Hải sản và các ngành nông
nghiệp phi truyền thống tiếp tục phát triển mạnh mẽ.
Công nghiệp chiếm khoản 37 – 38%GDP và luôn dẫn
đầu tăng trưởng và ở mức 13-16% trong thời gian qua. Tăng
trưởng của công nghiệp chủ yếu do đầu tư của các doanh
nghiệp có đầu tư nước ngoài, những năm gần đây biến đổi
thất thường, năm 2002 là 14,5% , năm 2003 là 10,34%; năm
2004-2005 là 16%
Dịch vụ: chiếm khoảng 42% GDP và hiện nay tiếp tục
tăng. Khu vực ngân hàng, giao thông vận tải và các dịch vụ

1997
1998
1999

13,604
18,399
20,777
20,859
23,283

Chia ra
xuất
khẩu
5,448
7,255
9,185
9,360
11,541
15

Nhập khẩu
8,155
11,143
11,592
11,499
11,742


2000
2001

1992
1993
1994
1995

Lao động tăng
Vốn
trưởng(%)
2,4
2,1
3,1
6,0
1,8
2,5
8,0
1,6
5,2
5,1
4,7
3,5
6,0
2,2
4,8
8,7
2,7
8,0
8,1
2,8
10,4
8,5

2,78
2,62
2,69

7,85
7,70
8,17

2,57
2,27
2,60

Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng GDP cao hơn đáng kể
so với 2 yếu tố cuối cung được xét là lao động và năng suất
lao động.
Mặc dù vậy, nếu so sánh với các nước và vùng lãnh thổ,
Việt Nam có phần trăm tăng trưởng GDP do đóng góp của
vốn là rất lớn, trong khi đó phần đóng góp của yếu tố lao
động thế mạnh của nền kinh tế thì lại thấp.
* Chưa hình thành được các ngành công nghiệp mũi
nhọn.
Xét riêng cơ cấu các ngành của ngành công nghiệp, từ
năm 1990 đến năm 1995 cho thấy:
Cơ cấu nội ngành công nghiệp không thay đổi nhiều trong
giai đoạn 1991-1995, chưa hình thành rõ các ngành mũi
nhon để tạo bước chuyển mới trong công nghiêp. Theo kết
quả tính toán của Ban Phân tích và Dự báo kinh tế vĩ mô của
Viện chiến lược phát triển thì trình độ tập trung (h) theo cơ
cấu của Bảng 3 là:
h (1990) = 20,6 và h (1995) = 18,5

màu
Thiết bị, máy
4,3
3,8
móc
Điện, điện tử 1,9
1,8
Sản phẩm
2,3
2,9
kim loại
Hóa chất
6,5
7,2
Vật liêu xây
7,1
7,5
dựng
Chế biến gỗ
3,7
3,8
Giấy
2,2
1,9
Sành, sứ,
1,0
1,1
thủy tinh

1992 1993

3,7

3,7

2,8

3,7

1,6

2,0

2,1

1,9

1,8

1,8

2,0

1,6

7,4

7,9

8,5



Lương thực
Thưc phẩm
Dệt
May
Da
In
Công nghiệp
khác

3,3
32,6
9,0
1,4
0,6
0,7

3,3
31,4
8,2
1,4
0,4
0,7

1,4
30,8
7,8
1,4
0,4
0,7

1,8

1,8

Từ tình hình trên có thể thấy, việc Nhà nước chủ động
điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên cơ sở xác định các ngành công
nghiệp mũi nhon là một yêu cầu cấp thiết trong quá trình
hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp trong giai đoạn
tới.
2. Những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế tác động đến
cơ cấu trong thời gian tới.
Việt Nam bước vào công nghiệp hóa trong bối cảnh của
kinh tế thế giới đã khác so với thời kỳ bắt đầu công nghiệp
hóa của các nước đi trước. Các dòng vật chất và vốn mang
tính chất toàn cầu vẫn tồn tại và tăng lên. Nhu cầu cơ cấu lại
kinh tế và thiết lập một trật tự mới để giải quyết những vấn
đề liên quan đến kinh tế quốc tế và những vấn đề toàn cầu
như ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, nạn đói, nợ
nần, bệnh dịch ngày càng trở nên bức thiết. Những đòi hỏi
đối với điều chỉnh cơ cấu cao hơn nhiều, đặc biẹt là vấn đề

19


cải thiện công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và
cải thiệ môi trường hấp thụ vốn.
Những trở ngại liên quan trực tiếp đến quá trình điều
chỉnh cơ cấu cần tính đến là:
Nền kinh tế có tích kũy thấp, vốn để tái sản xuất và giải
quyết các vấn đề phát sinh trog quá trình điều chỉnh cơ cấu

cán bộ quản lý, kinh doanh tinh thông nghiệp vụ, thích ứng
với điều kiện kinh tế thị trường.
Mức độ thâm hụt của cán cân ngoại thương mới chỉ ở
gần mức bằng (2,350 tỷ USD trong năm 1997, năm 2002 là
3,028 tỷ USD), tốc độ nhập siêu trung bình hàng năm từ
1995 - 2002 tăng 14.363%, chứng tỏ tiềm năng cho đổi mới
công nghệ còn rất hạn chế. Khả năng cạnh tranh của hàng
xuất khẩu còn rất khiêm tốn.
Tình trạng nghèo đói tuy đã giảm mạnh những vẫn còn ở
mức cao. Nếu tính theo chỉ tiêu dinh dưỡng 2.100Kcal/ngày thì
24,1% dân số còn nghèo đói (2004).
Khung thể chế với sự can thiệp có định hướng của Nhà
nước vào chuyển dịch cơ cấu còn chưa đáp ứng được nhu
cầu. Công nhận sự có mặt và tác động của lực lượng thị
trường, Nhà nước không thể duy trì như một lực lượng độc
tôn cải tổ cơ cấu nữa mà các biện pháp của Nhà nước phải
mang tính dẫn dắt và định hướng các lực lượng thị trường.
Những can thiệp gián tiếp như chính sách tài chính, tín
dụng, tiền tệ, pháp luật ... nhằm duy trì hoạt động kinh
21


doanh, đảm bảo môi trường cạnh tranh còn cần phải hoàn
thiện.
Nhân tố ngoại lực do chính sách mở cửa nền kinh tế
vẫn thương bộc lộ hai mặt là làm tăng cơ hội lợi dụng những
nhân tố bên ngoài thay thế cho những điều kiện thiếu hụt
của các điều kiện tiền đề bên trong nên ở mức độ nào đó gia
tăng sự phu thuộc vào bên ngoài.
Từ những phân tích về hiện trạng phát triển của Việt Nam

thế
kỷ
21.
Sự ổn định về chính trị-xã hội là nền tảng vững chắc tạo ra
môi trờng thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc
và đó cũng là thế mạnh cần khai thác của nớc ta hiện nay.
Quan hệ sản xuất đợc đổi mới phù hợp hơn với thực tế và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, thể chế kinh tế thị
trờng đã bớc đầu hình thành và vận hành có hiệu quả. Hệ
thống pháp luật,cơ chế chíh sách phù hợp đang phát huy
trong
đời
sống
kinh
tế


hội.
Cơ cấu kinh tế có bớc chuyển dịch bớc đầu, năng lực sản
xuất và kết cấu hạ tầng kinh tế,xã hội đã tăng đáng kể, tạo ra
khả năng tốt hơn trong việc khai thác các nguồn lực phát
triển từ lao động,đất đai,từ cơ sở vật chất kỹ thuật của nền
kinh tế đã tạo dựng đợc.
Quan hệ chính trị, kinh tế, ngoại giao của nớc ta đã đợc mở
rộng nhiều trên trờng quốc tế.
Tuy vậy, trình độ phát triển của nớc ta còn thấp,chất lợng,hiệu quả và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất
nhỏ bé, GDP bình quân đầu ngời năm 2000 mới khoảng
400USD, dới mức nghèo của thế giới, thu nhập và tiêu dùng
của dân c cha đủ tạo sức bật mới với sản xuất và phát triển
23

tạo điều kiện cho nớc ta mở rộng khả năng hợp tác,khai thác
24


lợi thế so sánh, tranh thủ tốt hơn nguồn lực bên ngoài,phát
huy mạnh hơn nội lực,tạo thành sức mạnh tổng hợp phát
triển đất nớc.
Tuy nhiên, tình hình quốc tế trong những năm tới diễn biến
phức tạp; đặc biệt là sau sự kiện 11-9-2001, bôi cảnh tình
hình kinh tế thế giới xuất hiện những khó khăn mới, làm cho
các nền kinh tế lớn khó có khả năng phục hồi nhanh tốc độ
tăng trởng, ảnh hởng đến kinh tế toàn cầu;tình hình đó tác
động không ít đến khả năng tăng trởng kinh tế nớc ta. Tuy
nhiên, trong bối cảnh đó,với sự ổn định chính trị,xã hội của
nớc ta và việc cải thiện đáng kể môi trờng đầu t,kinh doanh
cũng sé xuất hiện những thuận lợi mới, những lợi thé thế lớn
cần khai thác, phát huy.
Mặt khác,năng lực cạnh tranh của nhiều nớc sẽ đợc cải thiện,
các nớc trong khu vực đã khắc phục khủng hoảng,hồi phục
khả năng phát triển,thì càng tăng sức ép đối với nền kinh tế
nớc
ta
vốn
đang
kém
sức
cạnh
tranh.
Điều đó đòi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ sức mạnh của
toàn dân tộc,đặc biệt là trí tuệ và kỹ năng lao độn của ngời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status