Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo luật hôn nhân gia đình năm 2014 - Pdf 41

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH LONG

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng
của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn
theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014
Chuyờn ngnh: Lut Dõn s v T tng dõn s
Mó s: 60 38 01 03

TểM TT LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. BÙI THỊ HUYỀN

Phản biện 1: .........................................................................
Phản biện 2: .........................................................................

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi .... giờ ...., ngày ..... tháng ..... năm 2016

Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm tư liệu – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

Ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền lợi và hạnh phúc của vợ chồng, đến lợi ích của gia đình và xã hội.
Với tư cách là một mặt của quan hệ hôn nhân, pháp luật hôn nhân và gia
đình xây dựng một phần gọi là chế định hôn nhân, nhằm điều chỉnh quan
hệ nhân thân, tài sản giữa các đối tượng muốn ly hôn và con cái họ. Hệ
thống pháp luật Hôn nhân và gia đình nước ta từ năm 1945 đến nay quy
định vấn đề ly hôn với quan điểm vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do ly hôn
chính đáng của vợ chồng, vừa giải quyết lý do ly hôn bằng tình, bằng pháp
luật Nhà nước kiểm soát quyền tự do ly hôn vì lợi ích gia đình và xã hội.
Do là các đối tượng đặc biệt cần sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt nên
pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã ghi nhận nguyên tắc bảo vệ bà
mẹ và trẻ em như một nguyên tắc cơ bản mang tính chất dẫn đường xuyên
suốt toàn bộ luật. Chế định ly hôn cũng không nằm ngoài nguyên tắc cơ
2


bản này. Do những đặc thù của việc ly hôn nên việc đảm bảo nguyên tắc
bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em là hoàn toàn cần thiết. Nó đã thể hiện
rõ trong các điều luật của chế định ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014. Thực tế cho thấy, phụ nữ và trẻ em là các đối tượng dễ bị tổn
thương, quyền lợi hay bị vi phạm, đặc biệt là trong hoàn cảnh khó khăn
như là ly hôn. Việc ghi nhận nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong chế
định ly hôn là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với xu hướng thời đại.
Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế - xã
hội, quan hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ HN&GĐ
cũng bị tác động mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê của Tòa án các cấp,
trong cả nước hàng năm số lượng các vụ án về HN&GĐ mà Tòa án đã thụ
lý giải quyết trên 165.000 vụ việc (số liệu thống kê của TANDTC báo cáo
cho thấy năm 2014 Tòa án cả nước thụ lý 165.032 vụ án, năm 2015 thụ lý
181.939 vụ), chủ yếu là ly hôn và tranh chấp tài sản. Tới nay Việt Nam đã

- Chỉ ra được vai trò của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 đối với
việc bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ, con khi vợ chồng ly
hôn, qua đó tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ
Việt Nam năm 2014.
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm khắc phục những vướng
mắc trên thực tiễn áp dụng các quy phạm Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014
vào việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ, con khi vợ chồng ly hôn.
2.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đề tài tương đối phức tạp, nội dung phong phú và có liên quan đến
nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta nhưng trong phạm vi
luận văn tôi xin đề cập tới những vấn đề sau: Những vấn đề lý luận liên
4


quan đến nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ
chồng ly hôn Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014, đặc biệt là vấn đề bảo vệ
quyền lợi chính đáng của vợ, con về tài sản khi vợ chồng ly hôn.
- Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ
và các con khi vợ chồng ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 và
một số kiến nghị.
3. Tính mới và đóng góp của đề tài
Nghiên cứu pháp luật về bảo vệ phụ nữ và trẻ em là một mảng đề tài
lớn được khá nhiều nhà khoa học, thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm. Trong
khoa học luật nói chung và Luật HN&GĐ nói riêng, bảo vệ quyền lợi phụ
nữ và trẻ em được nghiên cứu như một cơ sở pháp lý quan trọng tạo khung
sườn cho việc ban hành các quy phạm pháp luật nhằm thực hiện tốt mọi
chính sách về phụ nữ và trẻ em.
Cho đến nay dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về pháp
luật HN&GĐ nhưng các công trình đó hoặc chủ yếu tập trung vào một
mảng cụ thể của quan hệ này hoặc nghiên cứu dưới góc độ tranh chấp về

trong xã hội nhưng những tư tưởng lạc hậu, ăn sâu bám rễ từ thời phong
kiến để lại về hôn nhân gia đình, về giới, về tư tưởng “trọng nam khinh
nữ” vẫn còn hiện diện trong gia đình Việt Nam hiện đại.
Thứ tư, tự do yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ chồng được
pháp luật ghi nhận.
9


Thứ năm, vấn đề xác định và chia tài sản của vợ chồng khi tranh
chấp ly hôn là rất phức tạp, với nhiều vụ ly hôn có khối tài sản tranh chấp
trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng.
Trẻ em luôn được xem là đối tượng đặc biệt của tình yêu thương,
không chỉ trong mỗi gia đình mà còn trên phương diện xã hội. Bởi vì, "trẻ
em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước, là lớp người kế tục
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Nói cách khác trẻ em chính là vận
mệnh của đất nước trong tương lai, là những mầm non gây dựng cơ đồ cho
đất nước.
Cơ sở pháp lý: Hiến pháp năm 2013; Luật HN&GĐ Việt Nam năm
2014; Nghị định của Chính phủ số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014
quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HNGĐ; Thông
tư liên tịch số 01/2016/TTLT –TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 06
tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn
nhân và gia đình…
1.3. Ý nghĩa của việc ghi nhận vấn đề bảo vệ quyền lợi chính
đáng của phụ nữ và trẻ em bằng pháp luật
Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em không chỉ là việc ghi nhận
các quyền con người của phụ nữ, trẻ em mà còn bảo đảm cho các quyền đó
được thực hiện.
Bên cạnh đó ý nghĩa của việc ghi nhận vấn đề bảo vệ quyền lợi của
trẻ em bằng pháp luật khi cha mẹ ly hôn còn là cơ sở pháp lý để nâng cao

Nam nước ta trước ngày thống nhất đất nước: Tại miền Nam trong giai
đoạn 1954-1975 đang nằm dưới sự cai trị của đế quốc Mỹ và ngụy quyền
Sai Gòn, các quan hệ HN&GĐ được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ
quyền gia trưởng, duy trì sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng; chế độ đa thê
đã bị bãi bỏ nhưng người vợ vẫn phụ thuộc vào chồng.
11


* Quyền của vợ và con khi vợ chồng ly hôn trong pháp luật Hôn
nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay: Luật HN&GĐ
Việt Nam năm 1986; Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000; Luật HN&GĐ
Việt Nam năm 2014 trong đó có việc vận dụng để đảm bảo nguyên tắc ưu
tiên bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em. Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014
xây dựng nhằm củng cố gia đình Việt Nam XHCN, phát huy các truyền
thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam đồng thời nâng cao trách nhiệm của
Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ
nữ, trẻ em.
Kết Luận Chương 1
Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em không chỉ là việc ghi nhận
các quyền con người của phụ nữ, trẻ em mà còn bảo đảm cho các quyền đó
được thực hiện. "Đảm bảo bằng pháp luật, một trong những điều kiện
quan trọng nhất để quyền con người được thực hiện". Với phụ nữ điều này
càng có ý nghĩa sâu sắc khi quyền của phụ nữ trên thực tế thường bị xâm
phạm. Người phụ nữ chịu sự phân biệt đối xử là tình trạng khá phổ biến
khắp mọi nơi trên thế giới. Vì lẽ đó, việc ghi nhận các quyền con người
của phụ nữ bằng pháp luật là hết sức cần thiết.
Bảo vệ trẻ em luôn là một điều được cả xã hội quan tâm, nhất là trong
giai đoạn hiện nay. Cả xã hội đã luôn cố gắng tạo điều kiện cho trẻ em được
phát triển một cách toàn diện. Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chủ trương,
chính sách và nâng lên thành luật. Rất nhiều quyền lợi của trẻ em được

2.1.2.1. Bảo vệ tài sản riêng của người vợ khi vợ chồng ly hôn theo
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014
13


Tài sản riêng của người vợ được xác lập dựa vào thời điểm tài sản đó
phát sinh trước khi kết hôn; dựa vào sự định đoạt của người để lại di sản
hoặc tặng cho di sản; dựa vào sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân.
2.1.2.2. Bảo vệ tài sản chung của người vợ trong khối tài sản chung
khi vợ chồng ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014
Nguyên tắc xác định: căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng là
dựa vào thời điểm phát sinh tài sản chung và nguồn gốc của các loại tài
sản thuộc khối tài sản chung.
* Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn: Tài sản chung của vợ
chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Hoàn cảnh của
gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo
lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong
gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của
mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện
tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền,
nghĩa vụ của vợ chồng. Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung
của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần
trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của
vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như
vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản
chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì
yêu cầu Tòa án giải quyết; Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể
xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được

hành vi dân sự. Người trực tiếp nuôi con không được dành sự quan tâm,
15


yêu thương của mình cho một người con và bỏ bê người con khác mà phải
dựa vào nhu cầu chăm sóc, nhu cầu tình cảm của mỗi đứa con để chúng
không cảm thấy bi thiệt thòi. Còn người không trực tiếp nuôi con, cấp
dưỡng cho con ở mức độ nào là căn cứ vào nhu cầu học tập, sinh hoạt…
của con, không được viện lý do cấp dưỡng cho các con là bằng nhau mà
gây thiệt thòi cho người có nhu cầu lớn hơn.
2.2.2.3. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của các con khi cha mẹ ly hôn
thông qua quyết định về cấp dưỡng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam năm 2014
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã
thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi
mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với
con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
2.3. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em khi nam,
nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn theo Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2014
2.3.1. Quy định của pháp luật về vấn đề chung sống như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn
Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ
Việt Nam năm 2014 chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng
ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên
được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật HN&GĐ
Việt Nam năm 2014.
2.3.2. Bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của phụ nữ và trẻ em
trong trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn mà

yếu tố nước ngoài theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014
Ở Việt Nam vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người con
17


khi cha mẹ ly hôn có yêu tố nước ngoài được quy định trong luật và các
điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết phù hợp với pháp luật
Việt Nam.
Kết luận Chương 2
Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em không chỉ là việc ghi nhận
các quyền con người của phụ nữ, trẻ em mà còn bảo đảm cho các quyền đó
được thực hiện.
Qua tìm hiểu các quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 và
thực tiễn thi hành về Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và
các con khi vợ chồng ly hôn thấy rằng, các quy định mới của Luật nhằm
bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi ly hôn đã đạt được
những thành tự to lớn. Tuy nhiên, trong thời kỳ đất nước đang trong quá
trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế, các quan hệ hôn nhân ngày
càng phức tạp cho nên vẫn còn nhiều các trường hợp mà khi ly hôn Tòa án
không dự liệu hết được, hay xét xử còn chưa đảm bảo được quyền lợi
chính đáng của vợ và các con.
Do vậy, để nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các
con khi vợ chồng ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 được
đảm bảo trên thực tế, chúng ta cần phải nghiên cứu tổng thể về các quy
định về hôn nhân gia đình trong đó có vấn đề ly hôn, nâng cao hiệu quả
pháp luật. Trên cơ sở đó đưa ra giải pháp nhằm bảo đảm cho việc áp dụng
pháp luật về bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng
ly hôn ngày càng hiệu quả cao hơn.

18

3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng Luật Hôn
nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 về việc bảo vệ quyền lợi chính
đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn
3.2.1. Về vấn đề hoàn thiện pháp luật
Đối với các vụ ly hôn, Tòa án có giải quyết hợp tình, hợp lý phần lớn
dựa theo những quy định chặt chẽ của luật, vì vậy việc cần hoàn thiện
pháp luật đặc biệt là luật hôn nhân gia đình là điều vô cùng cần thiết.
3.2.2. Về công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật
Cần phải tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền phổ biến và giáo
dục pháp luật cho mọi đối tượng đặc biệt là phụ nữa và trẻ em, nhất là phụ
nữ và trẻ em ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa để họ có
thêm khả năng bảo vệ mình trước pháp luật.
Kết luận Chương 3
Ly hôn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người phụ nữ
và trẻ em, sự cần thiết hoàn thiện các quy định pháp luật tạo ra khung pháp
lý để nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ
chồng ly hôn là một đòi hỏi cấp thiết về lý luận cũng như thực tiễn thi
hành Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014.
Trên cơ sở lý luận và thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ
quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn tại chương 1
và chương 2 tác giả đưa ra những giải pháp để nâng cao hơn nữa chất
lượng của các quy định pháp luật và thực hiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi
chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt
Nam năm 2014.
Pháp luật hiện hành về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của
vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm
20


2014 cần phải được xây dựng và hoàn thiện theo kịp với quá trình hoàn

nữ; đảm bảo ưu tiên cho phụ nữ và trẻ em khi phân chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn; quyền tự định đoạt của trẻ em trên 7 tuổi; quyền được
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của con cái sau khi bố mẹ ly hôn và quyền
thay đổi người nuôi.
Nói tóm lại, bảo vệ quyền lợi về nhân thân nói chung, quyền lợi
chính đáng về nhân thân và tài sản của phụ nữ và trẻ em nói riêng là một
phần của chương trình Quốc gia vì sự tiến bộ của người phụ nữ. Dẫu biết,
cho tới ngày nay sự nhận thức và khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình
trước pháp luật của phụ nữ được nâng lên rất nhiều. Phụ nữ ngày nay đã
khẳng định được ngày càng rõ nét sự giỏi giang, đảm đang và tri thức của
mình nhưng phụ nữ ở những miền vùng sâu xa, nông thôn vẫn còn rất
nhiều hạn chế về nhận thức đặc biệt về pháp luật. Vì vậy, việc thực hiện
nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ và con khi vợ
chồng ly hôn là sự thể hiện sinh động và sâu sắc sự quan tâm của Nhà
nước, của xã hội với phụ nữ và trẻ em, góp phần xây dựng đất nước giàu
mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status