Header Page 1 of 123.
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÝ THỊ THU
ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2016
Footer Page 1 of 123.
Header Page 2 of 123.
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÝ THỊ THU
ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ : 62 22 03 15
1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
1.2. Kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án đã được giải quyết và những nội
dung luận án cần tập trung nghiên cứu
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
TUYÊN QUANG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN
TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
2.1. Những yếu tố tác động đến xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở
Tuyên Quang
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về xây dựng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số
2.3. Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2000
CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI
CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC
THIỂU SỐ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
3.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời
kỳ mới
3.2. Chủ trương đổi mới của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm 2010
3.3. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo đổi mới công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm 2010
CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. Nhận xét
4.2. Một số kinh nghiệm
KẾT LUẬN
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Footer Page 5 of 123.
ATK
:
An toàn khu
BCHTW
:
Ban Chấp hành Trung ương
BTV
:
Ban Thường vụ
CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
HĐND
:
kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc phát triển. Nếu như cán bộ “là gốc của
mọi công việc”, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì cũng có thể hiểu
rằng, cán bộ người dân tộc thiểu số và công tác cán bộ người dân tộc thiểu số
có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm thực hiện thành công đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn miền núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Ngay từ khi ra đời và trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng
Cộng sản Việt Nam đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc
thiểu số. Nhờ vậy, trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
đã có đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực, không chỉ tại địa bàn miền núi
mà cả ở các địa phương đồng bằng và cả cấp Trung ương. Đây là một minh
chứng sự đúng đắn, khoa học trong đường lối lãnh đạo của Đảng; minh chứng
cho tinh thần “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ", như lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Báo
cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa 1 nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 18/12/1959).
Hiện nay, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, trong quá trình tiến hành sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số vẫn còn những hạn chế, bất cập: Số lượng cán bộ
người dân tộc còn ít so với tỷ lệ dân số. Trình độ của đội ngũ cán bộ người
dân tộc còn thấp so với mặt bằng chung, nhất là so với mặt bằng trình độ của
Footer Page 6 of 123.
Header Page 7 of 123.
2
đội ngũ cán bộ người Kinh. Năng lực, trình độ còn hạn chế so với yêu cầu,
Header Page 8 of 123.
3
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung,
xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng, Đảng bộ tỉnh
Tuyên Quang đã có những chủ trương và thực hiện nhiều giải pháp để tăng
cường xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
như: tăng cường công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch sử dụng đội ngũ
cán bộ người dân tộc thiểu số; chú trọng tuyển chọn, sử dụng đội ngũ cán
bộ người dân tộc thiểu số làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền
của tỉnh, huyện, xã; tăng cường đầu tư kinh phí đào tạo - bồi dưỡng cán bộ;
luân chuyển cán bộ trong hệ thống chính trị; thực hiện chính sách cử tuyển
cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đại học, Cao đẳng, Trung
học chuyên nghiệp và thu hút, “giữ chân” đội ngũ cán bộ tại địa phương …
Tuy vậy, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế cả về số lượng và
chất lượng, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vẫn
đang tồn tại không ít mâu thuẫn, đó là: mâu thuẫn giữa tăng cường số
lượng và đảm bảo chất lượng, giữa nhu cầu đòi hỏi cao và khả năng đầu tư
có giới hạn, giữa sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ và thu hút cán bộ từ nơi
khác đến, giữa đào tạo và sử dụng, giữa yêu cầu và khả năng luân chuyển
đội ngũ cán bộ tại địa phương…
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề: "Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010" có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích, nhiệm vụ, nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm
thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cơ sở, trong đó chú trọng nghiên
cứu đội ngũ lãnh đạo quản lý các cấp là người dân tộc thiểu số.
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ gồm nhiều nội dung. Bám sát các
khâu công việc của công tác cán bộ nói chung, luận án tập trung nghiên cứu
công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng, chế độ,
chính sách cán bộ.
Footer Page 9 of 123.
Header Page 10 of 123.
5
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công
tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số nói riêng. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học có liên quan đã được công bố.
4.2. Cơ sở thực tiễn
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ
nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số ở Tuyên
Quang nói riêng, được phản ánh trong các văn kiện của Đảng bộ tỉnh, các báo
cáo, số liệu thống kê của cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan
chức năng có liên quan; kết quả điều tra, khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgic. Bên cạnh đó, là các phương pháp:
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích, được sử dụng để thu thập và
thiểu số khác, nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án dùng làm tài liệu tham khảo, giúp các
cấp ủy Đảng các cấp ở tỉnh Tuyên Quang nghiên cứu, tiếp tục xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở địa phương.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt động nghiên
cứu, học tập của bộ môn Lịch sử Đảng ở trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang,
Trường Đại học Tân Trào Tuyên Quang cũng như các cơ sở đào tạo khác.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học liên
quan đến đề tài của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
Footer Page 11 of 123.
Header Page 12 of 123.
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Nghiên cứu về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc nói chung, công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên
cứu được công bố dưới góc độ của khoa học lịch sử, lịch sử Đảng, xây dựng
Đảng, chính trị học, dân tộc học, xã hội học... Liên quan trực tiếp đến đề tài
có thể khái quát thành những nhóm cơ bản sau:
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
bộ dân tộc trong những năm qua. Bài viết khẳng định: Đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số trong hệ thống chính trị luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm
đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng. Nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ về lý luận chính trị, chuyên môn, học vấn, quản lý nhà nước
ngày càng được chuẩn hóa, chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ dân tộc ở
tất cả các cấp được nâng lên. Tác giả chỉ rõ "tỉ lệ đại biểu quốc hội là người
dân tộc thiểu số qua các khóa ngày một tăng từ 10,2% khóa I lên 17,2% khóa
XI. Ủy viên Trung ương Đảng là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần 9%
khóa X và hàng vạn cán bộ người dân tộc thiểu số được tham gia trong các cơ
quan Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp" [97, tr.24]. Bên cạnh những kết
quả đạt được, bài viết còn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của công tác dân tộc là
"Hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ dân tộc ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số
còn hạn chế về tri thức và trình độ kỹ năng làm việc ở vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn rất nhiều đồng chí chưa đáp ứng được yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương [97, tr.28]. Từ phân tích trên, tác giả chỉ
ra một số bài học lớn về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2006).
Trong đó, bài học đáng chú ý là "Kiện toàn và phát huy vai trò của hệ thống
chính trị chăm lo công tác đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ người dân tộc
thiểu số trong các vùng dân tộc thiểu số" [97, tr.30].
Cuốn sách, Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX
[12], là tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu khoa học đã tham gia
Footer Page 13 of 123.
Header Page 14 of 123.
9
thảo luận, trao đổi, làm rõ kết quả, hạn chế yếu kém, đề xuất các giải pháp
bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam, đoàn
kết dân tộc đặng "đi từ thái bình để cùng hưởng chung". Hồ Chí Minh cũng
Footer Page 15 of 123.
Header Page 16 of 123.
11
cho rằng, đoàn kết dân tộc là một chính sách chứ không phải là một thủ đoạn
chính trị, mị dân, do đó, phải thực lòng thực hành đoàn kết để đi từ mục tiêu
chung là "hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh". Người coi
đồng bào các dân tộc thiểu số là một lực lượng quan trọng của cách mạng
Việt Nam. Với những nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc,
tác giả bài viết khẳng định: Trong tiến trình cách mạng nước ta, cần giải quyết
đúng đắn và sáng tạo vấn đề dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó
là: Phải luôn coi đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách
rời của dân tộc Việt Nam, khai thông sức sáng tạo và tiềm năng của đồng bào
các dân tộc. Bằng các chủ trương chính sách phù hợp, đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của cả nước.
Luận án tiến sĩ: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc từ năm 1996 đến năm 2006 [63] đã trình
bày một cách có hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng
sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc những năm đầu đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2006), từ đó thấy được
sự phát triển trong tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng; quá trình Đảng lãnh
đạo thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc; làm rõ thành tựu và
hạn chế trong nhận thức cũng như trong quá trình thực hiện chính sách dân
tộc, từ đó đúc rút ra một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo
thực hiện chính sách dân tộc 1996 - 2006 ở Tây Bắc khi nghiên cứu về quan
người bằng tự trị theo luật tục" thông qua việc ban phẩm tước cho tù trưởng;
phân phong một số Hoàng Thân, quan lại lên tuần giữ vùng biên, đặc biệt là
câu thức, lôi kéo quan hệ thân tộc (qua hôn nhân) giữa các tù trưởng với công
chúa, cung phi của triều đình. Song song với chính sách "Nhu viễn", các triều
đại phong kiến còn kiên quyết dùng chính sách "cường bạo lực" lúc cần thiết
để trừng trị những kẻ gây mất đoàn kết các dân tộc, chống lại triều đình và cắt
đất cho ngoại bang. Chính sách "Nhu" "Cương" hợp lý có ý nghĩa tích cực
trong củng cố quốc gia thống nhất, đẩy lùi các thế lực cát cứ, xâm lấn và giữ
gìn an ninh biên giới. Đó là kinh nghiệm lịch sử để trong quá trình xây dựng
hệ thống chính trị vùng biên, miền núi, dân tộc thiểu số chúng ta phải chú ý
đến vai trò của công tác cán bộ đối với người dân tộc thiểu số. Việc xây dựng
Footer Page 17 of 123.
Header Page 18 of 123.
13
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phải trên tinh thần (không kỳ thị dân tộc), phải
tăng cường sức mạnh cho đội ngũ này bằng việc điều động, luân chuyển cán
bộ nơi khác về cơ sở; đồng thời cũng phải cương quyết sàng lọc nguồn trong
quá trình xây dựng đội ngũ trên cơ sở tiêu chuẩn cán bộ, công chức do pháp
luật quy định.
Cuốn sách: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - luận cứ và giải pháp [111]
là tập hợp kết quả nghiên cứu của 34 nhà khoa học, tập trung vào những vấn
đề: Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
chính sách của Đảng và nhà nước ta, cùng một số các yếu tố tác động về tâm
lý, văn hóa tộc người liên quan đến vấn đề dân tộc, cán bộ dân tộc thiểu số,
công tác cán bộ thiểu số; thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số vững mạnh, trước tiên "phải giải quyết tốt vấn đề phát triển
nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, vì đây là khâu quan trọng nhất, đồng thời
cũng là vấn đề khó khăn và yếu kém nhất trong công tác cán bộ dân tộc
thiểu số hiện nay" [117, tr.9]. Chỉ trên cơ sở phát triển mạnh nguồn cán bộ
dân tộc thiểu số, chúng ta mới có được thế hệ cán bộ dự bị, kế cận đông
đảo, đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực, để bổ sung vào các chức danh
lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị các cấp và bổ sung cho đội ngũ cán
bộ công chức là người dân tộc thiểu số ở các địa phương. Trên cơ sở đó,
từng bước xây dựng và hoàn thiện quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số các
cấp, các ngành; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng liên tục thường xuyên, chủ
động, có kế hoạch; kết hợp với cơ chế, chính sách sử dụng, quản lý đội ngũ
cán bộ dân tộc mang tính đồng bộ, hệ thống từ trung ương đến cơ sở. Tác
giả khẳng định: "Có như vậy, chúng ta mới giải quyết được căn bản các
vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đủ mạnh, ngang tầm với
nhiệm vụ cách mạng đặt ra và phát triển vững chắc trong thời kỳ quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" [117, tr.10].
Cuốn sách: Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh
ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay [98] đã phân tích
các đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở các tỉnh miền núi phía Bắc,
về thực trạng công tác, quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy
quản lý đặc biệt là nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch còn gặp nhiều khó khăn,
Footer Page 19 of 123.
Header Page 20 of 123.
15
nhất là cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Tác giả còn
đưa ra phương hướng, giải pháp thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ
Header Page 21 of 123.
16
số còn thấp. Tác giả nhấn mạnh "Tình trạng cán bộ là người dân tộc thiểu
số hiện nay vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về năng lực, đặc biệt là trình độ
năng lực học vấn" [131, tr.118]. Trên cơ sở đánh giá thành tựu và hạn chế
của việc đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng
mới, tác giả đã đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ
là người dân tộc thiểu số trong thời gian tới": "Có quy hoạch, kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ dân tộc từ cơ sở cho đến trung ương, theo
nhu cầu của từng loại cán bộ trong từng thời kỳ, bảo đảm mục tiêu chiến
lược chung của cả nước" [131, tr.120]. Bởi vì xây dựng và phát triển đội
ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số không chỉ vì lợi ích của các dân tộc
thiểu số mà còn nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng chung của cả nước vì
chiến lược con người.
Bài viết: "Sự phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số" [51]
trong cuốn sách Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, đã khẳng định: Công
tác đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số ở vùng dân tộc đạt được nhiều thành
tựu đáng kể. Mười năm về trước, nhiều cán bộ thôn xã còn ở tình trạng mù chữ.
Cho đến nay, cán bộ thôn xã thấp nhất cũng có trình độ tiểu học và có người có
trình độ trung học.
Nhiều cán bộ, người dân tộc thiểu số đã có học vị cao. Tác giả chỉ rõ
"ngành giáo dục và đào tạo đã góp phần đáng kể trong việc bồi dưỡng cán bộ
dân tộc thiểu số ở các trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, các trường
bổ túc văn hóa tập trung ở các địa phương và Trung ương [51, tr.250]. Vì vậy:
"Thành tựu nổi bật của giáo dục ở vùng dân tộc là xác lập được quy trình xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số" [51, tr.249]. Bài viết còn đưa ra một số
giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc trong thời gian tới, đáng chú ý là
chế độ ưu tiên cộng điểm tuyển sinh và mở các lớp đào tạo riêng dành cho học
sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số nhất là ở vùng cao, tại các trường đại
trị. Phải xuất phát từ đường lối chính trị - quân sự của Đảng, bảo đảm
nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
giữa các dân tộc và phải đảm bảo sự thống nhất giữa cơ cấu và tiêu chuẩn
cán bộ; phải có những ưu điểm trong đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng
cán bộ, thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ. Tác giả còn
Footer Page 22 of 123.
Header Page 23 of 123.
18
khẳng định, để xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Bộ đội biên
phòng cần phải "bám sát yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới,
xây dựng Bộ đội biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại" [118, tr.91] và "xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong
Đảng bộ Bộ đội biên phòng phải đặt trong tổng thể chiến lược cán bộ của
Đảng, nhà nước, quân đội, Bộ đội biên phòng, tạo được mỗi liên thông với
việc xây dựng đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị, hòa nhập với xu
thế phát triển của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước" [118, tr.91].
Luận án Tiến sĩ: Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc
thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay [138] tiếp tục hoàn thiện
khung lý luận về tạo nguồn cán bộ; khái quát những đặc điểm tình hình cán
bộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; đề xuất phương hướng và những giải
pháp có tính đặc thù, khả thi để thúc đẩy công tác tạo nguồn cán bộ xã
người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay.
Luận án Tiến sĩ: Đảng lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng ngũ
kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng núi, vùng dân
tộc thiểu số.
Đề tài khoa học cấp bộ: Việc thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay [71]
đã trình bày hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc
có liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở nước
ta. Nghiên cứu góp phần đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số và việc thực hiện chính sách cán bộ dân tộc thiểu số ở vùng miền núi
hiện nay. Nghiên cứu đã đề xuất một số quan điểm và giải pháp có tính khả
thi về chính sách cán bộ dân tộc, góp phần xây dựng Luật Dân tộc.
Đề tài khoa học cấp bộ: Tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở ở
các tỉnh Tây Bắc nước ta hiện nay [58] đã đưa ra các khái niệm và cách tiếp
cận vấn đề tạo nguồn chủ chốt, phân tích đánh giá thực trạng công tác tạo
nguồn của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc
Footer Page 24 of 123.
Header Page 25 of 123.
20
nước ta những năm đổi mới. Đề tài cũng tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn trong
việc tạo nguồn cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây
Bắc qua việc nghiên cứu hoạt động này ở một số trường chính trị trong khu
vực, đề xuất những giải pháp đẩy mạnh công tác, tạo nguồn cán bộ hệ thống
chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới.
Ngoài ra, còn có các công trình, Về công tác phát triển đảng viên tạo
nguồn cán bộ ở vùng dân tộc miền núi [72] và Luận cứ khoa học cho việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa [120].