TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
RÈN KỸ NĂNG NGHE - VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH
LỚP 3 TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PHA THUẬN CHÂU - SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục
Sơn La, 5/2016
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
RÈN KỸ NĂNG NGHE - VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH
LỚP 3 TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PHA THUẬN CHÂU - SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục
Sinh viên thực hiện: Quàng Thị Biên
Lƣờng Thị Diễm
Lớp: K54 ĐHGD Tiểu học B
Nữ,
Dân tộc: Thái
Nữ,
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BGD&ĐT- GDTH : Bộ Giáo dục và Đào tạo - Giáo dục tiểu học
ĐC
: đối chứng
GV
: giáo viên
HĐTQ
: hội đồng tự quản
HS
: học sinh
HSTH
: học sinh tiểu học
DTTS
: dân tộc thiểu số
NXB
: nhà xuất bản
1.1.2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu .................................................................... 8
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................... 23
1.2.1. Khảo sát thực trạng rèn kĩ năng nghe, viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trƣờng
Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La .................................................................. 23
1.2.2. Kết quả khảo sát ...................................................................................................... 24
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................................. 37
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NGHE - VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC
SINH LỚP 3..................................................................................................................... 38
2.1. Tạo hứng thú cho học sinh ........................................................................................ 38
2.2. Củng cố quy tắc chính tả cho học sinh ...................................................................... 39
2.3. Luyện phát âm đúng .................................................................................................. 40
2.4. Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ ................................................................................ 41
2.5. Giúp học sinh ghi nhớ luật chính tả........................................................................... 42
2.6. Tạo cho học sinh có nhiều cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt ..................................... 44
2.7. Rèn kĩ năng chính tả cho học sinh qua các bài tập chính tả ..................................... 44
Tiểu kết chƣơng 2 ............................................................................................................. 47
CHƢƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM .................................................................... 48
3.1. Những vấn đề chung .................................................................................................. 48
3.1.1. Mục đích của thể nghiệm........................................................................................ 48
3.1.2. Đối tƣợng, thời gian, địa bàn thể nghiệm ............................................................... 48
3.1.3. Nội dung và tiêu chí đánh giá thể nghiệm.............................................................. 48
3.1.4. Phƣơng pháp thể nghiệm ........................................................................................ 49
3.2. Thể nghiệm và đánh giá kết quả thể nghiệm............................................................. 49
3.2.1. Mô tả thiết kế thể nghiệm ....................................................................................... 49
3.2.2. Kết quả thể nghiệm ................................................................................................. 50
Tiểu kết chƣơng 3 ............................................................................................................. 56
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................................ 58
1. KẾT LUẬN ................................................................................................................... 58
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả bài tập thể nghiệm điền bộ phận vào chỗ chấm. ................ 55
Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả bài tập thể nghiệm điền dấu thanh vào các từ sao cho chúng
có nghĩa tiếng Việt. ........................................................................................................... 55
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tiếng Việt là một trong những môn chính và quan trọng trong chƣơng trình
Giáo dục tiểu học. Đây là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức chung về
tiếng Việt, hình thành cho các em vốn tiếng Việt, kỹ năng tiếng Việt để các em học tập
và tƣ duy. Chính vì thế, việc dạy và học tiếng Việt trong trƣờng tiểu học cần phải đƣợc
chú trọng. Chƣơng trình Tiếng Việt tiểu học mới chú trọng hình thành kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết thông qua các phân môn tiếng Việt nhƣ: Học vần, Tập viết, Luyện từ và
câu, Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Kể chuyện. Qua đó góp phần hình thành lòng yêu
mến tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Do đó, dạy học tiếng
Việt nhằm hình thành cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo về ngôn ngữ và các thao tác tƣ
duy. Dạy cho các em biết truyền đạt tƣ tƣởng, tình cảm của mình một cách chính xác và
biểu cảm.
1.2. Trong trƣờng tiểu học, phân môn Chính tả là môn học cụ thể hóa mục tiêu
của môn Tiếng Việt. Phân môn Chính tả có một vị trí hết sức quan trọng (trƣớc hết nó là
một môn học có tính chất công cụ) nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng sử dụng tiếng
Việt, trong đó đặc biệt chú ý tới kĩ năng nghe - viết (có kết hợp với kĩ năng nghe và kĩ
năng viết). Học sinh có viết đúng, viết nhanh thì mới có phƣơng tiện để học các môn
học khác đƣợc dễ dàng. Chính tả cung cấp cho HS một số kiến thức về chữ viết nhƣ:
cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả. Từ đó góp phần rèn luyện cho HS các
thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung, so sánh, khái quát hoá. Mặt
khác phân môn Chính tả còn có nhiệm vụ cung cấp kiến thức cơ bản về các quy tắc
chính tả đồng thời rèn luyện cho HS kĩ năng viết đúng, viết rõ, viết nhanh, viết đẹp. Qua
học Chính tả HS có đƣợc những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, về con ngƣời, văn
hoá, văn học Việt Nam và nƣớc ngoài, các em đƣợc bồi dƣỡng lòng yêu cái đẹp, cái
năng lực nghe - viết chính tả cho HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng
Việt ở trƣờng tiểu học nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đã có những công trình nghiên cứu về phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt cho học
sinh tiểu học nói chung và học sinh dân tộc thiểu số nói riêng, trong đó đã đề cập đến
phƣơng dạy học phân môn Chính tả. Trong đề tài này, chúng tôi quan tâm tới một số
công trình sau:
Chuyên đề Dạy học chính tả ở Tiểu học của Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân Thảo đã
phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học chính tả ở tiểu học, đồng thời đƣa ra một
số nguyên tắc, phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học chính tả nhằm nâng cao chất
lƣợng dạy học chính tả nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói chung. Ngoài ra tác giả
còn đề ra một số quy tắc chính tả tiếng Việt giúp ngƣời đọc biết viết đúng, thành thạo âm
tiết, từ đó hình thành kỹ năng chính tả tiếng Việt.
2
Giáo trình Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt, PGS.TS Nguyễn Quang Ninh đã cung
cấp một số vấn đề chung về phƣơng pháp và nguyên tắc đặc trƣng của việc dạy học
tiếng Việt, cụ thể với phân môn Chính tả, tác giả đã đƣa ra ba phƣơng pháp đặc trƣng
của phân môn này là trực quan, so sánh - đối chiếu và giải thích, đồng thời cung cấp
những kiến thức cơ bản về nội dung phân môn, phân bố chƣơng trình và quá trình lên
lớp của một tiết Chính tả.
Tài liệu bồi dƣỡng giáo viên Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc
cấp tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Dự án phát triển giáo viên tiểu học) đã nhấn
mạnh những mục tiêu cơ bản dạy học môn Chính tả cho học sinh dân tộc thiểu số, một số
hạn chế khi dạy phân môn Chính tả ở vùng dân tộc và những nguyên nhân cơ bản dẫn đến
học sinh dân tộc thiểu số hay mắc lỗi chính tả.
Tài liệu bồi dƣỡng giáo viên Dạy học lớp 3 theo chƣơng trình tiểu học mới của
Bộ Giáo dục và Đào tạo (Dự án phát giáo viên tiểu học) đã đề cập đến hình thức chính
học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng dạy học chính tả nhằm tìm ra biện
pháp hữu hiệu khắc phục, giải quyết những khó khăn trong dạy học chính tả theo hƣớng
đổi mới chú trọng phát huy năng lực của ngƣời học. Từ đó nhằm góp phần nâng cao
năng lực nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pha - Thuận
Châu - Sơn La nói riêng và hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận: trên cơ sở tổng hợp các tƣ liệu về lí thuyết có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho việc đề xuất các định hƣớng của đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng:
+ Khảo sát, thống kê phân loại lỗi chính tả mà học sinh thƣờng gặp, nguyên nhân
mắc lỗi của học sinh lớp 3 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La.
+ Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3.
+ Tiến hành thiết kế giáo án và dạy thể nghiệm.
+ Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bƣớc đầu thể nghiệm và rút ra tính khả thi
của vấn đề nghiên cứu.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học
sinh lớp 3 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La.
4.2. Khách thể nghiên cứu
4
Khách thể nghiên cứu là Trƣờng Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La.
Cụ thể:
+ Khảo sát 02 giáo viên dạy Chính tả lớp 3.
7.3. Phƣơng pháp toán học
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để so sánh, thống kê, xử lí số liệu mà chúng
tôi khảo sát đƣợc.
8. Cấu trúc của đề tài
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chƣơng 2: Biện pháp rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3.
Chƣơng 3: Thể nghiệm sƣ phạm.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan tới đề tài
1.1.1.1. Chính tả là gì?
Chính tả là phép viết đúng, là lối viết hợp với chuẩn, là hệ thống quy tắc về cách
viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tên
riêng tiếng nƣớc ngoài. Chính tả là những quy ƣớc của xã hội trong ngôn ngữ nhằm làm
cho ngƣời viết và ngƣời đọc hiểu thống nhất nội dung của văn bản. Sự quy ƣớc có tính
chất xã hội trong chính tả không cho phép vận dụng các quy tắc chính tả một cách linh
hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân. [7; tr 82].
Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn chữ viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) và
các thanh, chuẩn viết tên riêng (viết hoa), chuẩn viết phiên âm từ và thuật ngữ vay
mƣợn. Hiện nay, chuẩn viết các âm và các thanh tiếng Việt đã đƣợc xác định theo hệ
thống ngữ âm của chữ viết. Chuẩn viết hoa tuy chƣa thật thống nhất, nhƣng xu hƣớng
đang đƣợc chấp nhận là viết hoa con chữ đầu của mỗi âm tiết thuộc từ tên riêng (Việt
Nam, Hồ Xuân Hƣơng,...). Nếu tên riêng là cụm từ thể hiện một hay hơn một danh từ
chung và một danh từ riêng thì viết hoa con chữ đầu thuộc âm tiết đầu thuộc âm tiết đầu
của các danh từ chung, còn danh từ tiếng viết hoa theo quy định (Bộ Giáo dục và Đào
nghiên cứu.
1.1.2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
1.1.2.1. Một số quan điểm về đổi mới Giáo dục tiểu học
Vấn đề đổi mới toàn diện về giáo dục trong đó có đổi mới phƣơng pháp dạy học
đã đƣợc sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nƣớc thông qua Nghị quyết Trung ƣơng
IV (khóa VII), nghị quyết Trung ƣơng II (khóa VII) và Luật Giáo dục... Những quan
điểm về đƣờng lối chỉ đạo của nhà nƣớc về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục tiểu
học nói riêng đƣợc thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt trong các văn bản sau:
Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/06/2014 Ban hành Chƣơng trình hành động
của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8
Ban chấp hành Trung ƣơng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc trong điều kiện kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác định “đổi mới hình thức,
phƣơng pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hƣớng đánh giá năng lực
của ngƣời học, kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kì học, cuối năm học
theo mô hình của các nƣớc có nền giáo dục phát triển”. [3; tr. Sđd]
8
Trong chỉ thị số 40 - CT/TN ngày 15 tháng 6 năm 2004, Ban Bí thƣ Trung ƣơng
Đảng đã ban hành về việc xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lí giáo dục. Mục tiêu của chỉ thị là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ đảm bảo
chất lƣợng, đồng bộ về cơ cấu đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành Thông tƣ số 30/2014/TTBGDĐT ngày 28 tháng 8 của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định đánh giá học
sinh tiểu học. Theo thông tƣ này, nhiều điểm mới trong đánh giá kết quả học tập của
thƣờng xuyên của HS không phải bằng điểm số nhƣ trƣớc đây mà thay bằng lời nhận
xét. Mô hình này kế thừa những mặt tích cực của mô hình dạy truyền thống, nhƣng
nhấn mạnh “đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích
yêu quý môn học cho các em.
Mục đích dạy chính tả là hình thành cho HS năng lực viết thành thạo, thuần thục
chữ viết theo đúng chuẩn chính tả, giúp HS hình thành kĩ xảo chính tả. Kĩ xảo chính tả
nghĩa là giúp HS viết đúng chính tả một cách tự động hóa, không cần phải nhớ đến quy
tắc chính tả, không cần đến sự tham gia của tƣ duy. Để đạt đƣợc điều này có thể tiến
hành theo hai cách: có ý thức và không có ý thức. Cách có ý thức , phải bắt đầu từ việc
nhận thức các quy tắc, các mẹo luật chính tả và luyện tập, từng bƣớc đạt tới các kĩ xảo
chính tả. Cách này sẽ tiết kiệm thời gian công sức và đó cũng là con đƣờng ngắn nhất và
đạt hiệu quả cao. Cách không có ý thức, không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắc
chính tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và
ngữ pháp chính tả, mà chỉ đơn thuần là viết đúng từng trƣờng hợp, từng từ cụ thể với
chuẩn chính tả. Ở đây, không tốn nhiều thời gian, công sức và không thúc đẩy sự phát
triển của tƣ duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định. Ở tiểu học, cần
vận dụng linh hoạt và phù hợp với từng giai đoạn lứa tuổi, đặc điểm tâm lí để có thể đạt
đƣợc các yêu cầu về tiêu chuẩn chính tả. Đối với các lớp đầu cấp (lớp 1, 2, 3) chủ yếu
sử dụng cách không có ý thức, còn các lớp cuối cấp (lớp 4, 5) chủ yếu là cách có ý thức.
Kĩ năng viết đúng chính tả phải có sự kết hợp thuần thục của ngón tay, bàn tay,
cổ tay, cánh tay thì mới có thể viết đúng, nhanh và đẹp. Vậy nên chính tả đòi hỏi phải có
sự kết hợp khéo léo của cá nhân. Chính tả giúp học sinh phát triển thính giác (Chính tả
nghe - viết) và giúp thính giác của các em nhạy bén hơn. Tăng cƣờng sự tập trung chú ý
của học sinh.
Mặt khác, “Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm. Viết chính tả tiếng Việt chủ
yếu là ghi âm âm tiết, thể hiện các thành phần âm vị trong cấu trúc âm tiết thành chữ âm tiết. Các chữ cái biểu tƣợng âm thanh, nói đúng hơn là biểu tƣợng thính giác âm
thanh, đƣợc tiếp nhận thính giác qua lời nói. Trong khi chính tả đối với các ngôn ngữ có
biến đổi hình thái biểu hiện qua chữ viết thƣờng đòi hỏi phải phân biệt các dạng thức
ngữ pháp của từ chính tả tiếng Việt thƣờng phục vụ vào mối liên hệ âm vị - chữ cái và
10
lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) tách rời nhau và đƣợc thể hiện bằng một chữ viết.
Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là tiếng, mỗi tiếng gọi là một âm tiết.
Tiếng Việt là một thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu độc lập mang nghĩa. Vì thế trong
11
chuỗi lời nói, ranh giới giữa các âm tiết đƣợc thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nối
dính với nhau nhƣ trong các ngôn ngữ biến hình. Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một
hệ thống âm thanh có tổ chức nhất định, các yếu tố cấu tạo âm tiết kết hợp với nhau ở
mức độ lỏng, chặt khác nhau. Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp với nhau khá chặt chẽ.
Vần có vai trò quan trọng trong tiếng Việt. Âm tiết có thể không có phụ âm đầu nhƣng
không thể thiếu phần vần, có phần vần thì câu từ đó mới có nghĩa. Âm tiết có vị trí đặc
biệt quan trọng trong hệ thống các đơn vị ngữ âm tiếng Việt. Đồng thời tập trung đầy đủ
những đặc điểm của tiếng Việt về mặt ngữ âm. Bên cạnh đó, âm tiết còn là đơn vị cơ
bản trên bình diện biểu hiện của hệ thống các đơn vị ngữ pháp và hệ thống các đơn vị
ngữ từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt. Nhƣ vậy, chính tả tiếng Việt về cơ bản là chính tả
âm tiết. Viết đúng chính tả tiếng Việt chủ yếu là biết viết đúng các tổ hợp chữ cái ghi
âm tiết. Do đó việc lựa chọn chữ - âm tiết làm đơn vị để dạy trong quá trình dạy tiếng
Việt nói chung, dạy chính tả nói riêng, cần đƣợc coi là vấn đề hiển nhiên, rõ ràng.
Thứ hai, đặc điểm chữ viết tiếng Việt, chữ viết tiếng Việt thƣờng đƣợc gọi là chữ
Quốc ngữ, cách gọi này có tác dụng phân biệt với chữ Hán (chữ viết tiếng Trung Quốc)
và chữ Nôm (chữ viết đƣợc tạo ra trên cơ sở của chữ Hán). Chữ Hán và chữ Nôm tồn tại
trong thời kì phong kiến và có phạm vi sử dụng hạn chế. Chữ Quốc ngữ đƣợc xây dựng
trên cơ sở chữ cái La tinh bao gồm 26 kí hiệu cơ bản. Mỗi kí hiệu biểu hiện một âm vị
tƣơng ứng trong ngôn ngữ. Vì thế, chữ viết tiếng Việt là một chữ viết đƣợc ghi âm
tƣơng đối hợp lí. Ở cấp độ âm tiết, nói chung có sự đối ứng một - một giữa âm và chữ “phát âm thế nào thì viết thế ấy”. Đối với ngƣời Việt Nam, có một số lƣợng lớn âm tiết
mà ai cũng có thể viết đúng chính tả dễ dàng. Nhƣ vậy, về cơ bản, chính tả tiếng Việt là
chính tả ngữ âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau [7; tr 190]. Chữ viết
tiếng Việt đƣợc tạo trên cơ sở của chữ Hán. Các âm trong tiếng Việt đƣợc ghi lại bằng
học sinh dễ dàng viết đúng chính tả. Xét ở góc độ này, chính tả tiếng Việt còn là loại
chính tả ngữ nghĩa. [7; tr 193]. Việc nhìn nhận và hiểu nghĩa của từ nào đó thì viết đúng
chính tả cũng có phần có cơ sở. Chẳng hạn từ có hình thức ngữ âm là “za” khi học sinh
chƣa thể phân biệt đƣợc nên viết với r, d, gi thì việc căn cứ vào nghĩa của từ khi kết hợp
với một từ khác, học sinh lại có thể xác định đƣợc và viết đúng từ cần viết, ví dụ nhƣ:
viết là “ra” (trong ra vào, ngoài ra,...) là “da” (trong da tay, da chân,...) hay “gia” (trong
gia đình, gia tộc,...). Do đó, khi còn phân vân trong trƣờng hợp không biết nên viết với
hình thức chính tả nào cho đúng, chúng ta có thể xét đến bình diện ngữ nghĩa này làm
căn cứ.
Trên đây là những cơ sở khoa học của việc dạy học chính tả, giúp nhóm đề tài
chúng tôi nắm đƣợc một số lí luận khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
1.1.2.3. Một số vấn đề chung về dạy học Chính tả ở tiểu học
a) Vị trí, nhiệm vụ, chƣơng trình của dạy học Chính tả
* Vị trí của việc dạy học Chính tả
13
Khi nói đến vị trí của chính tả cần nói đến hai nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, vị trí của chính tả trong đời sống xã hội, chính tả có vai trò quan trọng
trong đời sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã hội. Việc thực hành tốt các kĩ năng
về chính tả, đặc biệt là nghe - viết không chỉ có ý nghĩa trong giao tiếp hằng ngày mà
còn thể hiện tƣ duy và trình độ văn hóa của mỗi ngƣời. Giao tiếp trong xã hội cần có
một chuẩn mực, chuẩn mực về lời nói và chữ viết thì ngƣời đƣợc giao tiếp mới có thể
hiểu đƣợc nội dung giao tiếp. Chính tả biểu hiện tƣ duy đƣợc thể hiện ở chỗ nó là một
cái đã biết trƣớc, nắm đƣợc và nhớ đƣợc nhanh, chính xác những quy tắc về chữ viết.
Chính tả thể hiện trình độ văn hóa ở chỗ, đó là những ngƣời có vốn hiểu biết, có trình
độ học thức, hiểu về văn hóa Việt thì mới có thể sử dụng câu từ đúng. Một khía cạnh
nào đó, chính tả rèn tính cẩn thận, chính xác, bồi dƣỡng cho HS tinh thần trách nhiệm
với công việc, óc thẩm mĩ. Dân ta thƣờng có câu “ Luyện nét chữ - rèn nết ngƣời ” là
phần nào đó dạy cho các em hiểu biết hơn về sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt.
* Nhiệm vụ của dạy học Chính tả
Phân môn Chính tả dạy cho trẻ biết chữ để học tiếng, dùng chữ để học các môn
khác và để sử dụng trong giao tiếp hằng ngày. Qua các giờ học Chính tả, học sinh nắm
đƣợc các quy tắc chính tả, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo chính tả, hình thành năng lực
viết đúng, thể hiện các văn bản trên vở, bảng,... từ đó góp phần hình thành nhân cách và
phát triển tƣ duy cho học sinh. Cùng với phân môn Tập viết, phân môn Chính tả giúp
học sinh nắm vững các quy tắc chính tả, hình thành các kĩ năng chính tả, củng cố và
hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, trang bị cho
học sinh công cụ để học tập và giao tiếp trong xã hội. Qua phân môn Chính tả, bồi
dƣỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen cẩn thận, sạch sẽ, kiên trì,
từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho các em.
* Chƣơng trình của việc dạy học Chính tả lớp 3
- Các mức độ rèn luyện:
+ Chính tả đoạn, bài: nghe - viết, nhớ - viết một bài hoặc một đoạn bài có độ dài
trên dƣới 60 chữ (tiếng).
+ Chính tả âm, vần: phân biệt các âm tiết dễ lẫn phụ âm đầu, vần, thanh, viết theo
trí nhớ các bài học thuộc lòng.
- Các chỉ tiêu cần đạt:
+ Viết đúng mẫu chữ, đúng chính tả, không mắc quá 5 lỗi/1 bài/60 tiếng (chữ).
HS không vừa đánh vần vừa viết, có ý thức phân biệt các âm, vần dễ lẫn trên chữ viết.
+ Đạt tốc độ viết từ 60 - 70 chữ/15 phút.
+ Bồi dƣỡng cho HS một số đức tính, thái độ cần thiết trong công việc nhƣ: cẩn
thận, chính xác, có óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm.
b) Nguyên tắc dạy học Chính tả
15
Dạy học Chính tả ở tiểu học cần tuân thủ theo những quy tắc nhất định. Theo
xảo một cách tự nhiên. Đặc trƣng của nó có thể là lĩnh hội một hành động nào đó thì
16
việc dạy chính tả không cần chú ý đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cần
hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở ngữ pháp của chính tả mà đơn
thuần chỉ là viết đƣợc từng từ cụ thể, từng trƣờng hợp riêng lẻ.
Khi dạy chính tả cho HSTH chúng ta không đƣợc chỉ để tâm đến con đƣờng có ý
thức mà còn phải chú ý đến con đƣờng chính tả không có ý thức. Bởi cách ghi nhớ máy
móc trong con đƣờng không có ý thức sẽ giúp HS phản ứng nhanh mà không cần phải
tƣ duy vẫn chọn đƣợc cách viết phù hợp.
* Nguyên tắc phối hợp giữa phƣơng pháp xây dựng cái đúng và loại bỏ cái sai trong
dạy học chính tả
- Phƣơng pháp xây dựng cái đúng: cung cấp cho học sinh những quy tắc chính tả,
hƣớng dẫn học sinh thực hành, luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo.
- Phƣơng pháp bỏ cái sai: phƣơng pháp này đƣa ra các trƣờng hợp viết sai chính
tả, hƣớng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó hƣớng đến cái đúng, loại bỏ các lỗi
chính tả.
Có thể thấy, cả hai phƣơng pháp này đều có những ƣu và hạn chế riêng nhƣng ƣu
điểm bên này sẽ khắc phục hạn chế bên kia và ngƣợc lại. Vì vậy, khi dạy chính tả ở tiểu
học cần sử dụng phối hợp cả hai phƣơng pháp này. Nhƣ thế việc dạy học sẽ đạt hiệu
quả cao hơn.
* Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt và quy tắc viết hoa hiện hành
Chính tả tiếng Việt luôn có những nguyên tắc nhất định. Cố gắng đảm bảo sự
nhất quán của tiếng Việt trong từng trƣờng hợp cụ thể. Theo cuốn Tiếng Việt thực hành,
Bùi Minh Toán (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, có đề cập đến các nguyên tắc kết
hợp chính tả và quy tắc viết hoa hiện hành:
- Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt
Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết: tất cả các chữ cai ghi nguyên âm đều
sau:
+ Đánh dấu sự bắt đầu một câu.
+ Ghi tên riêng của ngƣời, địa danh, tên cơ quan, tổ chức,...
+ Biểu thị sự tôn kính: Bác Hồ, Ngƣời,...
Quy định về cách viết hoa tên riêng:
Thứ nhất, đối với tên riêng tiếng Việt
Tên ngƣời và tên địa lí: Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của các âm tiết và không
dùng gạch nối: Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Quang Trung, Sơn La, Nam Định, Yên Bái,...
Tên tổ chức cơ quan: viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và các âm tiết đầu
của các bộ phận tạo thành tên riêng: Trƣờng Tiểu học Chiềng pha, Trƣờng Đại học Tây
Bắc,...
Thứ hai, đối với tên riêng không phải tiếng Việt
18