Đánh giá công tác khai thác và quản lý rừng ngập mặn tại xã Phù Long, huyện Cát Hải, Thành phố Hải Phòng - Pdf 41

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU................................................................................................................ 1
1.

Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................1

2.

Đối tượng, phạm vi và phương pháp thực hiện chuyên đề thực tập..2

Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu........................................... 2
Phương tiện nghiên cứu................................................................................2
3. Mục tiêu và nội dung của chuyên đề.................................................................3
3.1. Mục tiêu ............................................................................................................... 3
3.2 Nội dung nghiên cứu.......................................................................................3
2.1.
2.2.

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP.......................................4
1.1 Giới thiệu chung về đơn vị thực tập.................................................................4
1.2 Các lĩnh vực nghiên cứu.........................................................................................4

1.3 Một số dự án môi trường tham gia...................................................................5
CHƯƠNG 2 – KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ THỰC TÂP..................8
II.1. Giới thiệu chung về rừng ngập mặn Phù Long............................................8

II.2. Hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên hệ sinh thái rừng

ngập mặn Phù Long………………………………………………….10
2.2.1.Chuyển đổi đất rừng sang nuôi trồng thủy sản……………..10

Thái độ và nhận thức của người dân với công tác
bảo vệ phát triển bền vững rừng......................................... 23
2.4. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác khai thác
và quản lý rừng.................................................................................................24
2.4.1. Thuận lợi....................................................................................................... 24
2.3.4.


2.4.2. Khó khăn........................................................................................................ 24
2.5. Các hệ lụy do công tác khai thác và quản lý rừng.................................24
2.6. Đề xuất giải pháp công tác khai thác và quản lý rừng.......................27
2.3.1. Giải pháp về chính sách, thể chế........................................................27
2.6.2. Giải pháp về đầu tư..................................................................................28
2.6.3. Giải pháp công nghệ, kỹ thuật.............................................................28
2.6.4. Giải pháp quản lý và khai thác............................................................29
2.6.5. Giải pháp chăm sóc...................................................................................29
Kết quả thực tập của bản thân................................................................. 30
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 31
1. Kết luận....................................................................................................................... 31
2. Kiến nghi..................................................................................................................... 32
Tài liệu tham khảo....................................................................................... 33
Phụ Lục........................................................................................................... 34


DANH TỪ VIẾT TẮT
VQG: vường quốc gia
RNM: rừng ngập mặn
CNM: cây ngập mặn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Số cán bộ trung tâm

Trong thời điểm mà biến đổi khí hậu, nước biển râng đã và đang là vấn nan
giải với các quốc gia trên thế giới, thậm chí còn là vấn đề sống còn với nhiều quốc
gia ven biển do tác động trực tiếp của hiện tượng này gây ra thì rừng ngập mặn
như một lá chắn bảo vệ bờ biển , bờ sông, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, mở rộng
diện tích lục địa, hạn chế sự sâm nhập mặn, bảo vệ đê điều, đông ruộng nơi sống của
người dân ven biển trước sự tác động, tàn phá của các thiên tai do biến đổi khi hậu
gây ra.
Rừng ngập mặn còn là nơi cư trú và làm tô của nhiều loài chim, thú,bò sát, làm
tăng độ đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn quỹ gen hiếm.
Hơn thế, rừng ngập mặn còn là nơi cung cấp thức ăn, nơi sống, sinh trưởng
của nhiều loài ấu trùng, con non của các loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao như
tôm, cua.
Việt Nam là quốc gia biển có 3260 km bở biển với khoảng 155.290 ha rừng
ngâp mặn. Viện quy hoạch nông nghiệp (2002) Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên
quý giá và một nhân tố góp phần bảo vệ môi trường vùng ven biển Việt Nam. Hậu
quả của chiến tranh và thiên tai đã làm rừng ngập mặn bị suy giảm đáng kể, tuy
hiên nguyên nhân sâu xa là do áp lực của sự bùng nổ dân số và nhận thức chưa đầy
đủ về vai trò của rừng ngập mặn đã làm diện tích này suy giảm tróng mặt.
Rừng ngập mặn phân bố không đều trên chiều dài bờ biển, mà tập trung chủ
yếu ở bờ biển miền đông bắc và tây nam, xong bất kì ở đâu rừng ngập mặn đều
trong tình trạng bị khai thác tới mức khánh kiệt, đang kêu cứu.
Ở Yên Hưng (Quảng Ninh) trước năm 1965, RNM chiếm 30% diện tích rừng tự
nhiên, đến nay còn không đầy 9%, xung quanh vịnh Cửa Lục cũng thế, trong thời
gian tương ứng giảm từ 17% xuống còn 7%. ở bán đảo Cà Mau, nơi có rừng ngập
mặn có diện tích lớn nhất cả nước cũng suy thoái nghiêm trọng từ 95,7% đất được
4


phủ bởi rừng ngập mặn trước năm 1965 xuống 46,4 vào năm 1973 do bị chất độc
hóa học tan phá. Sau đó rừng tự phục hồi, che phủ 62% (1979). Diện tích này tiếp


Đối tượng nghiên cứu: thực trạng quản lý, trồng và phục hồi rừng tại một xã

-

Phạm vi thực hiện: xã Phù Long, huyện Cát Hải, TP.Hải Phòng

-

Thời gian: từ ngày 9/2/2015 đến ngày 14/4/2015.

2.2.

Phương pháp thực hiện.

5


-

Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: bao gồm các tài liệu có sắn về công tác quản

-

lý, trồng và phục hồi rừng có sẵn tại cơ sở thực tập.
Thu thập số liệu sơ cấp: điều tra, quan sát thực địa, sử dụng phiếu điều tra: hộ

-

kinh doanh, mức độ hài lòng với công tác quản lý và bảo vệ rừng.


Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Phù Long ảnh hưởng đên tình hình
quản lý, trồng và phục hồi rừng ngập mặn.

-

Điều tra đánh giá tình hình thực trạng khai thác rừng ngập mặn.

-

Đánh giá hiệu quả công tác quản lý trên địa bàn.

6


Đề xuất giải pháp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững rừng ngập
mặn.CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP
1. Giới thiệu chung về đơn vị thực tập
-

Trung tâm Nghiên cứu và Giáo dục môi trường được thành lập theo Quyết định số
1895/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 2/5/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quyết định
về việc đăng ký hoạt động khoa học công nghệ lưu tại Hồ sơ số A114 ngày 4/8/2003

-

của Bộ Khoa học và Công nghệ môi trường.
Trung tâm có con dấu. Số tài khoản: 000 000 146389 Ngân hàng thương mại cổ

-


nhiệm

1

TS

1

2

ThS

2

3

ĐH, CĐ

1

5

Khác

6

Tổng cộng

4

2

3

1

Nguồn: Tác giả.
1.2.
-

Các lĩnh vực nghiên cứu
Biến đổi môi trường toàn cầu: Mô hình hoá tổng hợp các quá trình sinh địa hoá
và kinh tế xã hội vùng ven biển. Chỉ số phát triển bền vững. Các dự án cacbon về
dòng và trữ lượng cacbon trong nước. Chính sách cacbon trong các thành phố
lớn và những vấn đề xã hội của gió mùa,
7


-

Rừng ngập mặn: Sinh khối, năng suất, khôi phục. Đánh giá kinh tế phân tích
chính sách.

-

Giáo dục : giáo dục môi trường, giáo dục về phát triển bền vững, công nghệ
thông tin cho giáo dục.

-


Thời gian

Tên đối tác

Nội dung hợp tác

Prof. Ockie Bosch

2005-2009

-

Head, School of Natural pháp luận và cách tiếp cận ‘hệ sinh
and
Rural
Systems thái’ và ‘Tư duy hệ thống’ trong
nghiên cứu rừng ngập mặn và các

Management
The

University

Queensland

of

(Gatton),
-


Earth hệ liên ngành và đa ngành trong việc
The xác lập các tương tác trầm tích, rừng
of ngập mặn, diễn thế và lịch sử tiến hoá

Biosphere Reserves, Man vùng cửa sông ven biển châu thổ Sông
and Biosphere Program Mêkông nói cung và vùng mũi Cà Mau
(MAB)

nói riêng

1, rue Miollis, Paris 75732Cedex 15, France

Nghiên cứu qúa trình thay đổi và
quy luật tiến hoá cửa sông (thay đổi
luồng lạch, biến đổi các bãi cát cửa
sông, nghiên cứu quá trình keo tụ hoá
vùng cửa sông.

-

Hình thức thực hiện: tham quan,
trao đổi khoa học

-

Kết qủa dự kiến: trao đổi những
kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu về
cửa sông ven biển trong việc xây
dựng và đệ trình khu DTSQ thế gi


Một diện tích rất lớn của xã Phù Long là các đầm phá và bị ngập khi thủy triều
lên cao, các đầm lớn là đầm Cái Viềng 1, đầm Cái Viềng 2, "sông" Phù Long. Có một
số hòn đảo ven bờ ở phía bên trong các đầm phá như hòn Con Chó, hòn Con Rùa,
hòn Áp Đá. Là một xã ven biển với hơn 20 km bở biển.
Xã có vị trí địa lý: 20 048 173N vĩ độ Bắc và 106 056 115E vĩ độ Đông. Nằm phía
tây của đảo Cát Bà và trong vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, sát biển Đông nên
Phù Long chịu ảnh hưởng của gió mùa. Mùa Đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 11
đến tháng 4 năm sau. Mùa hè mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10.
Khí hậu tương đối ôn hòa với độ ẩm trung bình từ 80% đến 85%, cao nhất là 100%
vào tháng 7, tháng 8, tháng 9 và thấp là từ tháng 12 đến tháng 1.
Với điều kiện khí hậu tương đối thuận lợi như vậy đã khiến cho khu vực rừng
ngập mặn nơi đây phong phú về hệ động thực vật. Trong đó có 620 loài thực vật bậc
cao, phân bố thuộc 438 chi và 123 họ, với 32 loài thú, 69 loài chim và 20 loài bò sát,
lưỡng cư. Trong rừng còn có các loài cây ngập mặn điển hình như: trang, đước, vẹt
dù, sú…
Rừng ngập mặn Phù Long còn là nơi lưu trữ nhiều nguồn gen quý là vườn
ươm con giống, nơi cung cấp thức ăn và sinh sản của rất nhiều loài thủy sản. Chính
về sự phong phú về hệ động thực vật cùng diện tích 1100 ha, mà rừng ngập mặn nơi
đây từng được coi vào loại tốt nhất miền Bắc và có giá trị kinh tế cao.
Trong những năm gần đây kinh tế xã đang có bước tăng trưởng nhanh chóng.
Đặc biệt từ giai đoạn năm 2005 đến nay, khi mà Vườn quốc gia Cát Bà thuộc địa
phận hành chính huyện Cát Hải được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển
thế giới thứ 3 tại Việt Nam, hàng năm thu hút lượng lớn khách du lịch đã tạo bước
chuyển mình mạnh mẽ cho kinh tế xã, thể hiện ở bảng sau:

11


Bảng 2.1: Tốc độ tăng chưởng kinh tế xã Phù Long đến năm 2011
STT


2011

>13 %

Nguồn: kết quả điều tra phát triển kinh tế huyện giai đoạn 2005 - 2011
Cơ cấu kinh tế xã chuyển mình mạnh, từ một xã thuần nông lấy kinh tế nông
nghiệp làm chủ đạo thì nay thành phần cơ cấu kinh tế đã đa dạng hơn, thương mai
dịch vụ đang góp phần thúc đẩy kinh tế của địa bàn.
Bảng 2.2: chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Phù Long.
S
TT

Thành phần kinh tế

Trước năm 2005

Từ 2005 đến 2010

Nông nghiệp

72%

53,2%

Công nghiệp

15%

17%

rừng ngập mặn thu hẹp đang đe dọa tới cảnh quan môn trường, làm giảm giá trị
kinh doanh, du lịch, dịch vụ, đặc biệt khi thương mại dịch vụ mới phát triển đang
góp thắng lợi lớn vào việc thay đổi căn bản bộ mặt địa phương.
2.3.

Hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên hệ sinh thái rừng ngập mặn
Phù Long.
Thời kì trước năm 1990 Phù Long có khoảng 1141 ha rừng ngâp mặn, tuy

nhiên diện tích rừng ngập mặn tại xã Phù Long được thống kê năm 2001 còn 740
ha rừng ngập mặn trong đầm nuôi tôm (theo thống kê của UBND xã Phù Long) và
khoảng 200 ha diện tích rừng nằm phía ngoài đê. Đến hiện nay, diện tích rừng ngập
mặn trong các đầm nuôi chỉ còn khỏang 520 ha và dưới 130 ha rừng ngập mặn
phía ngoài đầm nuôi. Đo diện tích rừng ngập mặn ngoài đầm nuôi thủy sản dọc
theo sông Cái Viềng, sông Phù Long và một phần diện tích rừng mặn từ phà Phù
Long đến gần Bãi Giai thì diện tích rừng chỉ còn khoảng 40 ha.
2.2.1. Chuyển đổi đất rừng sang nuôi trồng thủy sản.

Theo thống báo cáo thống kê của hạt kiểm lâm thành phố Hải Phòng năm
2014, thì trong vòng 1 thập kỷ chìm trong cơm lóc phá rừng làm đầm nuôi tôm từ
giai đoạn 1990 đến 2000 Hải Phòng đã mất trắng 884 ha rừng ven biển, trong đó có
hơn 560 ha rừng bị chặt phá là rừng ngập mặn, gần 300 ha là rừng trồng, rừng
phòng hộ. Riêng trên địa bàn huyện Cát Hải diện tích rừng bị phá bỏ chiếm 22,7%
( 201/884 ha). Phần lớn diện tích rừng bị mất thời kì này là do những năm cuối
những năm của thập kỷ 80 đầu những năm thập kỷ 90, nhu cầu về tôm xuất khẩu
rất lớn trong lúc sản lượng đánh bắt giảm sụt, đã khiến hầu hết vùng ven biển, cửa
sông nước ta, trong đó bảo gồm cả Hải Phòng và huyện Cát Hải cũng không ngoại
lệ, nhân dân và các cơ quan đã phá rừng ngập mặn xanh tốt, rừng phòng hộ tự
nhiên hoặc rừng trồng để làm đầm nuôi tôm quảng canh thô sơ nhằm mục đích
phát triển kinh tế.

nuôi thủy sản
sản
(ha)
(ha)
(ha)

Ngoài đầm
nuôi thủy
sản
(ha)

Xóm Bắc

375

285

70

194

56

Xóm Nam

351

230

55


Nguồn: Hạt kiểm lâm thành phố Hải Phòng,2014, Báo cáo thống kê diện tích rừng
thành phố Hải Phòng năm 2014.
Có thể thấy, trong giai đoạn 1990 - 2001 trên địa bàn huyện Cát Hải chìm xâu
trong cơn lốc phá rừng đắp đầm nuôi tôm.
Trên địa bàn xóm Bắc, xóm có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất cả huyện với
375 ha, với dải rừng ngập mặn phong phú về chủng loại cây ngập mặn như: đâng,
sú, giá … vài chục năm tuổi, cao bình quân từ 4m đến 5m có những đoạn dải rừng
cao tới 6 -7m , vốn là lá chắn “xanh” ngăn sóng biển, bão mùa từ biển Đông chàn
vào thì người dân cũng thi nhau phá rừng đắp đê làm đầm nuôi tôm, để rồi chỉ
trong 10 năm phát triển kinh tế nuôi tôm quảng canh, xã đã mất đi gần 30 ha rừng
ngập mặn, trong đó hầu hết là rừng đã tới vài chục năm tuổi. Từ dải rừng dài bát
ngát, lối tiếp nhau vươn ra biển thì nay đã bị chia cắt bởi hệ thống đê 5km của đầm
14


nuôi tôm chia cắt. Trong đó diện tích rừng ngập mặn trong đê 285 ha và ngoài đê là
55 ha.
Không chỉ riêng xóm Bắc, ba xóm còn lại là xóm Nam, xóm ngoài, xóm Ao Cối
diện tích rừng ngập mặn bị chặt phá cũng lần lượt là 51 ha(xóm Nam) diện tích
rừng chỉ còn 230 ha rừng trong đê và khoảng 70 ha rừng ngoài đê. Xóm ngoài từ
237 ha rừng ngập mặn thì đến năm 2001 còn 185 ha rừng trong đó có 150 ha rừng
là trong đê và 35 ha rừng ngoài đê. Xóm Ao Cối là một xóm có diện tích rừng ít nhất
cả huyện tuy vậy lai là xóm có diện tích rừng bị phá bỏ lớn nhất, gần 58 ha đất rừng
đã được chuyển đổi mục đích.
Diện tích rừng bị phá bỏ nhằm mục đích chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ địa
phương có nghề đánh bắt cá phát triển, tuy nhiên lại hầu hết là đánh bá gần bờ và
lấy nguồn lợi từ rừng ngập mặn người dân và chính quyền xã đã chuyển dịch dần
sang nuôi trồng thủy sản để có nguồn lợi ổn định hơn, vì thế diện tích đầm sau năm
1991 đã liên tục được mở rộng như khu Cái Viềng 1, Cái Viềng 2 và từ năm 2001 là

1995

2031

Số
hộ 32
nuôi
thủy sản
Diện tích 900

44

83

119

156

160

182

880

760

740

623


tăng trong khi diện tích RNM lại đang bị thu hẹp. Có thể nói mẫu thuẫn giữa hai
khuynh hướng bảo vệ rừng ngập mặn và chặt rừng đắp đầm nuôi tôm để phục vụ
cho mục đích phát triển kinh tế xã hội đã trờ thành vấn đề vô cùng khó khăn cho các
nhà quản lý kinh tế của địa phương.
Mặc dù diện tích rừng còn lại không nhiều nhưng thành phần cây ngập mặn ở
Phù Long vẫn còn khá phong phú. Có ít nhất 6 loài cây ngập mặn thực sự, trong đó
loài cây đâng có số lượng chiếm ưu thế và nhiều loài cây tham gia rừng ngập mặn.
Bảng 2.5: Diện tích chủng loại rừng ngập mặt huyện Cát Hải năm 2014

R.stylosa

Trước 1990
Diện
Tỷ lệ
tích
(%)
(ha)
218
19

Năm 2001
Diện
Tỷ lệ
tích
(%)
(ha)
371
39,5

Năm 2014

13,3
B.gymnorrhiza 81
7,1
Trước 1990
Diện
Loại cây
Tỷ lệ
tích
(%)
(ha)
Giá
E.agallocha
118
10,4%
Khác
246
21,6%
16

15,7

115
12,2
97
10,3
51
5,4
Năm 2001
Diện
Tỷ lệ

Qua bảng trên ta có thể thấy, diễn thế sinh thái rừng ngập mặn của xã Phù
Long. Trước những năm 1990 chủng loại cây tham gia ngập mặn khá phong phú đa
dạng về chủng loại với tỷ lệ tướng đối ngang nhau. Cây đâng chiếm tỷ lệ nhiều nhất
19% năm 1990 tiếp theo đến cây mắm biển với 17,6%, sau đó cây sú có diện tích
nhiều thứ 3, 152 ha/1141 ha chiếm 13,3% sau đó lần lượt là các cây trang, giá
chiếm hơn 10%, vẹt dù chiếm 7,1% còn lại là các loại cây khác như: Đước, bần, côi,
dừa nước …
Hầu hết diện tích rừng ngập mặn trước đây được chuyển đổi sang đầm nuôi
thủy sản phục vụ mục đích phát triển kinh tế. Với việc phá rừng, đắp đê, quây đầm
đã đồng nghĩa tạo ra môi trường ngập nước liên tục đã khiến cho nhiều loài cây
ngập mặn như trang, vẹt dù, su… không thể sống được do thiếu oxy cho quá trình hô
hấp của rễ, trong khi đó chỉ có cây đâng là phát triển được trong các vùng đầm
nuôi.
Nhìn từ thực trạng ta có thể thấy được rừng ngập mặn Phù Long đang và sẽ
có nguy cơ suy giảm về số lượng cũng như chất lượng trong thời gian tới khi hầu
hết các loại cây ngập mặn như trang, sú, bần... giảm diện tích và mất dần do không
thích nghi được trong môi trường đầm nuôi đã và đang có su hướng dần mở rộng,
khi này chỉ còn cây đâng qua đó sẽ làm giảm tính đa dạng sinh học nếu vẫn tiếp tục
phát triển mô hình kinh tế theo hướng thiếu hài hòa với môi trường.
2.2.2. Chuyển đổi đất rừng sang đất tái định cư, đất canh tác.

Sức ép về sự gia tăng dân số những năm thập kỷ 90 đòi hỏi phải có thêm đất ở
cũng như đất canh tác, công ăn việc làm, công trình công cộng ... khiến chính quyền
địa phương đã phải mở rộng diện tích đất ở, đất canh tác qua việc giảm diện tích
đất tự nhiên trên địa phận xã, hầu hết đất tự nhiên đó là chặt bỏ rừng phòng hộ tự
nhiên là rừng ngập mặn trên địa bàn các xóm Băc, Nam, Ao Cối và đặc biệt là xóm
Ngoài trong chương trình dãn dân lấn biển giai đoạn 1995.
Bảng 2.6: Gia tăng dân số xã Phù Long giai đoạn 1996 - 2014

Dân số


Qua bảng số liệu ta có thể thấy sự bùng nổ dân số trên địa bàn xã giai đoạn từ
1996 đến 2014. Trung bình mỗi năm dân số xã Phù Long lại tăng Hàng năm tăng
1,3%.
Với một xã có 48 km2 cùng 1871 dân giai đoạn 1996 thì tốc độ này rất đáng
quan tâm. Hệ lụy của sự gia tăng dân số này là nhu cầu về đất định cư, đất canh tác,
đất công cộng, đã gây sức ép lên chính quyền địa phương, đòi hỏi phải có phương
án khắc phục bằng cách dãn dân lấn ra biển, qua đó chặt bỏ nhiều diện tích rừng
ven bờ, trong đó hầu hết là rừng ngập mặn.
Để có thể thấy hướng chuyển dịch cơ cấu đất rừng của địa phương sang đất
định cư, đất canh tác... ta có thể quan sát qua bảng sau:
Bảng2.7: Chuyển dịch cơ cấu đất năm 1990 -2000
Năm 1990

Năm 2000

Các loại hình

Diện
tích

Tỷ lệ

Diện
tích

Tỷ lệ

Diện tích


RNM

11,1

15,6 %

9,1

12,8 %

5,2

5,2

Bãi triều

11,4

16%

9,13

12,9 %

5,5

7,4

11,2 %



80% lao động địa phương, đặc biệt là lao động trẻ, giải quyết việc làm cho hơn 600
lao động ở đảo Cát Bà, đảo Cát Hải, xã Phù Long, xã Hoàng Châu (huyện Cát Hải).
Nhờ có lợi thế về thiên nhiên lại là một xã ven biển nên nghề khai thác hải sản và cá
biển của xã Phù Long rất phát triển và có truyền thống lâu đời. Trong cơ chế quản
lý nghề cá cũ trước đây của hợp tác xã nghề cá Phù Long đã có thời kỳ rất phát
triển là một điển hình của miền Bắc. Có thành tích như vậy là bởi vì lúc đó nghề các
thủ công, chỉ hoạt động đánh bắt gần bờ, lại có vị trí tự nhiên thuận lợi, nguồn lợi
ven biển còn rất dồi dào và đội ngũ dân lành nghề, thuyền lưới công cụ sản xuất
được Chính phủ cho vay vốn…
Thế nhưng theo kết quả điều tra năm 2014 ở xã Phù Long trong vòng 20 năm trở
lại đây, năng suất đã giảm đi 15 lần, từ 30 kg/người/ngày năm 1990 xuống chỉ còn
2kg/người/ngày. Mặt khác do thiếu kinh nghiệm đánh cá xa bờ nên ngay cả khi
được Nhà nước cho vay vốn để đóng tàu lớn cũng hoạt động không có kết quả. Để
tìm hiểu nguyên nhân của sự sụt giảm năng suất, cuộc điều tra 40 hộ làm nghề khai
thác trong cộng đồng đã cho thấy khó khăn lớn nhất là cạn kiệt nguồn lợi 47,5%
người trả lời (19/40 phiếu), sau đó là chi phí sản xuất lớn 27,5 % người trả lời
(11/40 phiếu). Năng suất thấp cộng lao động thủ công, ngư dân tự bán sản phẩm
mà minh đánh bắt được, như vậy ngư dân tự minh thâu tóm toàn bộ khâu của quá
trình sản xuất. Hình thức quản lý này khó đưa lại sự phát triển lớn và đồng bộ.
2.2.4. Hiện trạng nghề nuôi ong.

Đây vốn được coi là một nghành nghề có tiềm năng phát triển và từng được chính
quyền địa phương lựa chọn làm một trong cách nghề khuyến khích nhân rộng do
lợi tích và nguồn lợi đem lại, nhằm phát triển kinh tế tại khu vực xã Phù Long, do có
điều kiện tự nhiên thuận lợi và rừng ngập mặn cũng là nơi cung cấp nguồn thức ăn
dồi đào cho loài ong nuôi lấy mật. Tuy nhiên hiện này chỉ còn 1 hộ còn nuôi ong lấy
mật.
Bảng 2.8: Số hộ nuôi ong qua các thời kì.
Trước

1

Nguồn: UBND xã Phù Long, Điều tra kinh tế xã năm 1996,1998, 2000, 2003, 2008,
2014
19


Nguyên nhân khiến người dân không còn mặn mà với nghề tưởng trừng có thể giúp
người dân đi lên làm giàu nhờ chi phí đầu tư không nhiều, lại dễ làm này là do diện
tích rừng ngập mặn giảm, dẫn đến việc lấy mật của ong khó khăn hơn, khiến hiệu
quả kinh tế không cao như các ngành nghề khác.
2.2.5. Hiện trạng nghề khai thác bãi triều.

Do có diện tích rừng ngập mặn lớn 650 ha rừng trong tổng 2300 ha của khu dự trữ
sinh quyển Cát Bà, trong số đó phần lớn diện tích bị ngập khi triều nên và chỉ hở khi
triều xuống nên nguồn lợi từ các bãi triều rộng lớn cũng rất đa dạng và có giá trị
kinh tế cao. Hiện xã có khoảng 150 người đi khai thác bãi triều chiếm 6,87% dân số
địa phương. Phần lớn người khai thác bãi triều là tự phát, tự vào rừng khai thác và
chủ yếu là hộ dân nghèo, không có công ăn việc làm nên đành đi mò cua bắt ốc trên
các bãi triều. Nên có thể coi đây là nguồn thu nhập chính và duy nhất của họ.
Khi được hỏi một vài câu hỏi ngoài lề như có biết vào rừng tự ý khai thác thế này có
biết là đã phạm luật không, đa phần đểu trả lời là không. Họ cho rằng rừng là tự
nhiên do đó thích thì họ vào khai thác, không thì thôi. Ban quản lý địa phương cũng
không cấm việc này.
Còn khi hỏi về kích cỡ một số loài như Bề bề bắt được, phần lớn đều trả lời giao
động từ 8 – 15cm cũng có nơi có con to đến 20 cm, điều này cho thấy đây là hình
thức khai thác tận giệt, khai thác tối đa có thể đạt.
Theo điều tra khảo sát (15 người đi khai bãi) nguồn lợi hải sản từ khu vực này đã
cho kết quả sau:


Ngao
15
9
Ngao dầu 5
10 ốc mỡ
4
11 ốc gộc
80
12 ốc đỏ mồm 4
ST
T

Sản lượng
(kg/ngày)
Hiện giờ
43
3
9
2
3
3
2
8
3
3
42
1

Số lần khải Số lần khải
thác

Sinh sản

Thời gian

Kích cỡ

Bề bề

10 ngày

13 – 15 cm

18cm

Cua

8 ngày

4 - 5 cm

7 cm

Ngao

12 ngày

-

-



nhân dân thực hiện công tác bảo vệ rừng phát triển bền vững, xử phạt theo thẩm
quyền những trường hợp vi phạm.
Chính quyền thôn trực tiếp chỉ đạo công tác quản lý, công tác giao khoán đất
rừng, kết hợp với các tổ chức đoàn thể để tuyên truyền nâng cao nhận thức người
dân về phát triển bền vững hệ sinh thái rừng.
Hộ dân đóng vai trò trực tiếp trong công tác khai thác và bào vệ hệ sinh thái
rừng.
Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Cát Bà đóng vai trò hướng dẫn, hỗ trợ và tổ
chức đào tạo các khóa học nâng cao nhận thức người dân về vai trò, tầm ảnh
hưởng của hệ sinh thái rừng tới nguồn sống nguồn lợi của người dân.
2.2.2. Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến công tác quản lý rừng

tại xã.
-

Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính Phủ về chính sách
chi trả dịch vụ môi trường rừng;

-

Quyết định 2284/QĐ-TTg năm 2010 phê duyệt Đề án “Triển khai Nghị định
99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng” do Thủ
tướng Chính phủ ban hành.

-

Công điện số 07/CĐ-CT ngày 26-11-2014 của Chủ tịch UBND huyện Cát Hải
về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ các loài động vật hoang dã và
chim di cư trên quần đảo Cát Bà

diện tích rừng, trong khi đó các tiêu chí về chất lượng rừng chưa được quan tâm
đến. Trong khi thực tế hiện rừng ngập mặn Phù Long đa có xu hướng suy giảm về
chất lượng.
Dưới xã có các hộ dân. Một phần đất rừng của xã được được giao khoán rừng
cho các hộ dân của từng xóm, nhằm mục đích vừa phát triển kinh tế vừa quả lý
rừng.
Bảng 2.11: Diện tích đất rừng khoán cho hộ dân thuộc các xóm năm
2010
Xóm
Xóm Nam
Xóm Bắc
Xóm Ngoài
Xóm Ao Cối

Diện tích
35 ha
42 ha
21 ha
12 ha

Số hộ nhận khoán
5
6
3
2

Nguồn: UBND xã Phù Long, Kế hoạch phát triển Kinh tế năm 2010.
Tuy nhiên do thiếu công tác kiểm tra thường xuyên, mà tất cả các hộ tham gia
nhận khoán đều đã phá rừng ít nhiều làm đầm nuôi tôm. Điều đáng nói trong đó có
cả những dải rừng ngoài đê có độ tuổi từ 10 – 12 năm tuôi, cao tới 8 – 9m năm sát

sống cao (70 – 80%)
các tổ chức phi chính phủ như MCD (trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát
triển cộng đồng), chương trình trồng rừng của TP.Hai Phòng hay chương trình
trồng rừng 327 của Chính Phủ. Tuy nhiên diện tích rừng được trồng lại có khả năng
sinh trưởng và phát triển thấp không như mong đợi do một số nguyên nhân chủ
quan như:
-

Sự thiếu kinh nghiệm chọn địa điểm khi trồng rừng: Một số cây trồng bằng hạt như
bần, cóc, giá xu ... lại được đem trồng ngoài bãi triều với mục đích lấn biển tạo bãi
bồi mới, nhưng mới được trồng ít hôm đã bị nước triều lên mang hạt trôi ra biển,
chỉ còn lại diện tích không đáng kể là phát triển được.

-

Thiếu kinh nghiệm trong thời vụ: Vào thời kì gió mùa đông bắc thổi, tảo thường từ
biển được đưa vào các bãi lầy, chân đê và bám vào cây ngậm mặn mới trồng và con
non làm cho lá không quan hợp được, có khi làm cho cây con uốn cong và lấp trong
bùn mà không phát triển được.

-

Thiếu kỹ thuật: Khi trồng một số loại cây được ươm trong bầu sẵn, người dân chỉ
đào hố trông tuy nhiên lại không bóc túi nilon bọc bầu, khiến dễ cây không phát
triển hoặc phát triển chậm dẫn đến cây sinh trưởng kém không đạt hiệu quả như
mong đợi.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status