Mở Rộng Hoạt Động Cho Vay Tiêu Dùng Tại Chi Nhánh Ngân Hàng Công Thương Khu Vực Ba Đình - Pdf 41

Header Page 1 of 89.

LUẬN VĂN:

Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại
chi nhánh Ngân hàng Công thương khu
vực Ba Đình’

Footer Page 1 of 89.


Header Page 2 of 89.

LỜI MỞ ĐẦU

Hòa nhập cũng xu thế phát triển như vũ bão của nền kinh tế, của khoa học kỹ thuật,
hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng ở nước ta cũng có nhiều tiến bộ và thành tựu đáng ghi
nhận. Nhiều sản phẩm tài chính mới ra đời như thanh toán qua thẻ, bảo hiểm tiền gửi, tiết
kiệm bậc thang, trong đó dịch vụ CVTD hiện đang thu hút được sự quan tâm rất lớn từ phía
ngân hàng cung ứng và phía khách hàng sử dụng. Tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ như hiện
nay cùng với số dân 82 triệu người đang mở ra thị trường CVTD vô cùng rộng lớn và đầy
triển vọng cho các tổ chức tín dụng.
Nhằm tài trợ cho các mục đích chi tiêu ngày một gia tăng trong nền kinh tế, hình thức
CVTD không chỉ mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng mà còn là công cụ quảng bá
hình ảnh và truyền tải thông điệp của ngân hàng đến với mỗi cá nhân trong xã hội. Đặc biệt,
trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt và gay gắt giữa các tổ chức tín dụng khi Việt Nam đã trở
thành thành viên của WTO, đẩy mạnh cho vay tiêu dùng chính là xu hướng tất yếu của hoạt
động ngân hàng.
Là một trong những đơn vị xuất sắc của NHCT Việt Nam, chi nhánh NHCT khu vực
Ba Đình luôn chú trọng mở rộng quy mô và chất lượng dịch vụ cung ứng, trong đó có dịch vụ
CVTD. Nghiên cứu và xây dựng chiến lược mở rộng hình thức tín dụng này đang là mục tiêu

hàng thực hiện mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.
Huy động vốn cũng là một hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tổ chức kinh tế này là
địa chỉ nhận tiền gửi của Chính phủ cũng như các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế.
Các khách hàng gửi tiền sẽ được nhận một khoản tiền lãi như phần thưởng cho sự hi sinh nhu
cầu chi tiêu trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời số vốn của mình dể kinh
doanh.
Trên cơ sở nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành nghiệp
vụ cho vay, bao gồm cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh và CVTD. Đây là hoạt động mang
lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng.
Ngân hàng, bên cạnh các hoạt động cơ bản trên còn tiến hành tài trợ cho dự án, bảo
quản tài sản hộ, quản lý ngân quỹ, bảo lãnh, cho thuê tài chính, cung cấp các tài khoản giao
dịch và thực hiện thanh toán…

Footer Page 3 of 89.


Header Page 4 of 89.

1.2.CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NHTM
1.2.1.Lịch sử hoạt động cho vay tiêu dùng
Trước đây, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với các cá nhân và hộ gia
đình bởi vì họ tin rằng hình thức tín dụng này có rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Đầu thế kỷ XX,
các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho các món vay
thương mại lớn. Và rồi, sự cạnh tranh gay gắt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã
buộc ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành, tiềm
năng. Đến những năm 1920-1930, nhiều ngân hàng lớn đã thành lập những phòng tín dụng
lớn mạnh. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai,cho vay tiêu dùng đã trở thành hình thức tín
dụng phổ biến đối với ngân hàng và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay.
Tại Việt Nam, cách đây khoảng 20 năm về trước, khái niệm CVTD còn khá mới,
nhưng chỉ một vài năm trở lại đây, lĩnh vực này đang là mục tiêu hoạt động của nhiều tổ chức

họ được cải thiện, nhu cầu mua sắm hàng hoá dịch vụ nhờ đó tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi
cho ngân hàng phát triển hoạt động CVTD. Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất trì
trệ, thu nhập và mức sống dân cư giảm sút, nhu cầu tiêu dùng cũng giảm theo, dẫn đến tín
dụng tiêu dùng bị thu hẹp. Như vậy, CVTD phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ của nền kinh tế.
1.2.3.4. Độ rủi ro
Khi cho vay phục vụ mục đích tiêu dùng, ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro dẫn
đến nguy cơ mất vốn lớn.
*Rủi ro do thông tin không cân xứng: Các cá nhân dễ dàng giữ kín các thông tin cần
thiết cho việc thẩm định như triển vọng công việc hay tình hình sức khoẻ. Trong khi đó các
hãng kinh doanh phải gửi kèm theo đơn xin vay các giấy tờ chứng nhận về tài chính đã được
kiểm toán. Do đó chất lượng thông tin của các món vay tiêu dùng thường không cao và
thường gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá xét duyệt cho vay hơn là các món
vay thương mại và công nghiệp.
*Rủi ro đạo đức: xảy ra khi khách hàng đã sử dụng vốn vay từ ngân hàng để chi tiêu
nhưng không trả tiền cho ngân hàng.
*Rủi ro do khách hàng mất khả năng thanh toán: xảy ra trong trường hợp khách hàng
có những biến động lớn về thu nhập hoặc gặp vấn đề về sức khoẻ, ảnh hưởng xấu đến khả
năng trả nợ. Khi đó việc thu hồi nợ của ngân hàng sẽ rất khó khăn.

Footer Page 5 of 89.


Header Page 6 of 89.

Ngoài ra do lãi suất CVTD là cố định nên khi chi phí huy động vốn tăng, ngân hàng sẽ
gặp rủi ro vì nguồn lợi nhuận từ dịch vụ này bị giảm sút.
1.2.3.5. Độ nhạy cảm với lãi suất
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng ít co giãn với lãi suất. Thông thường, người đi
vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.
1.2.3.6.Lãi suất cho vay

động
khác

Phần bù kỳ
Rủi ro
+

tổn thất
dự kiến

hạn với các
+

khoản
cho vay dài

Lợi
+

nhuận
cận biên

hạn

1.2.4. Đối tượng cho vay tiêu dùng
Đối tượng được ngân hàng cung ứng dịch vụ CVTD là các cá nhân, hộ gia đình có nhu
cầu chi tiêu nhưng chưa có đủ tích luỹ để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng đó.

1.2.5.Phân loại cho vay tiêu dùng
1.2.5.1.Căn cứ theo mục đích vay

NGƯỜI TIÊU DÙNG

(1): Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân
hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối
đa và loại tài sản bán chịu…
(2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa. Thông
thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.
(3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4): Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng.
(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
CVTD gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ: theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà
người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các
khoản nợ nếu khi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.

Footer Page 7 of 89.


Header Page 8 of 89.

- Tài trợ truy đòi hạn chế: theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với
các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực
nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thỏa thuận giữa ngân hàng với công ty bán
lẻ. Các thỏa thuận thường gặp trong trường hợp truy đòi hạn chế là:
+ Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trong trường hợp
người mua chịu không đủ tiền để trả trước một số tiền nhất định khi mua chịu hoặc không đủ
các tiêu chuẩn tín dụng do ngân hàng đề ra.
+ Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịu cho đến khi
ngân hàng thu hồi được một số lượng các khoản nợ nhất định đúng hạn.


Sơ đồ 2: CVTD trực tiếp

NGÂN HÀNG

(1)

(3)

(5)

CÔNG TY BÁN LẺ

(2)

(4)

NGƯỜI TIÊU DÙNG

(1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay.
(2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ.
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
Phương thức trực tiếp có một số ưu điểm so với phương thức gián tiếp. Sử dụng
phương thức này, ngân hàng có thể tận dụng các sở trường của nhân viên tín dụng - những
người được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng. Do đó, các
quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp
chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ. Hình thức này cũng linh hoạt hơn và cho
phép ngân hàng thắt chặt mối quan hệ tín dụng với các khách hàng có quan hệ trực tiếp với

có thời hạn sử dụng lâu bền hay có giá trị lớn bởi với những loại tài sản này, người tiêu dùng
sẽ được hưởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài.
- Số tiền phải trả trước
Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản
cần mua sắm. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để làm cho người đi vay nghĩ rằng họ là chủ sở
hữu tài sản, đồng thời hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Số tiền trả trước phụ thuộc vào loại tài

Footer Page 10 of 89.


Header Page 11 of 89.

sản, thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng, môi trường kinh tế và năng lực tài chính
của người đi vay.
- Chi phí tài trợ
Đây là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc sử dụng vốn, bao gồm
lãi vay và các chi phí có liên quan. Chi phí tài trợ phải trang trải được chi phí vốn tài trợ, chi
phí hoạt động, rủi ro, đồng thời mang lại một phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng.
- Điều khoản thanh toán
Khi xác định điều khoản thanh toán liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng,
ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề như số tiền thanh toán, giá trị tài sản tài trợ, kỳ hạn
trả nợ, thời hạn trả nợ.
- Vấn đề phân bổ lãi cho vay theo thời gian
Khi sử dụng phương pháp gộp để tính lãi, ngân hàng thường tiến hành phân bổ lại phần
lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định kỳ gắn liền với các kỳ
thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện theo quý hay năm tài chính. Tuy nhiên việc phân
bổ lãi theo năm tài chính thường được các ngân hàng áp dụng nhiều hơn. Các phương pháp
phổ biến dùng để phân bổ lãi cho vay bao gồm phương pháp đường thẳng. phương pháp tỷ
suất lợi tức hiệu dụng và phương pháp lãi.
- Vấn đề trả nợ trước hạn

CVTD có ý nghĩa rất lớn đối với các khách hàng. Nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân
và hộ gia đình là rất lớn và thường xuyên nhưng không phải lúc nào họ cũng có đủ nguồn lực
tài chính để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhờ CVTD, họ được hưởng các tiện ích, được sử dụng
các hàng hoá và dịch vụ mình mong muốn trước khi tích luỹ đủ tiền. Khi đáp ứng đủ các điều
kiện để được cấp tín dụng tiêu dùng, người đi vay có thể mua sắm các hàng hoá, nhất là các
bất động sản ngay ở thời điểm hiện tại khi giá cả của chúng đang giảm, hoặc có thể đi du lịch
đúng thời gian. Đặc biệt, trong các trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế, giáo
dục...,vai trò CVTD lại càng to lớn và rõ nét.
*Đối với nhà sản xuất
CVTD bổ sung số tiền còn thiếu giúp người tiêu dùng có đủ khả năng tài chính để
hưởng thụ giá trị hàng hoá, dịch vụ, từ đó đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Giải quyết được bế tắc
giữa các khâu sản xuất và lưu thông hàng hoá, nhà sản xuất bán được nhiều sản phẩm hơn,

Footer Page 12 of 89.


Header Page 13 of 89.

quay vòng vốn nhanh hơn, trên cơ sở đó có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất. Như vậy
CVTD góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường thu nhập cho các cơ sở sản xuất.
*Đối với nền kinh tế xã hội
CVTD là đòn bẩy kích cầu hàng hoá dịch vụ, mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Nhờ đó, các cơ hội việc làm được tạo ra nhiều hơn, tỷ lệ thất nghiệp cũng như các tệ
nạn xã hội giảm, đồng thời thu nhập của người dân tăng lên. Dịch vụ này của ngân hàng thoả
mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, do đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống
vật chất cũng như tinh thần của họ. Rõ ràng, TDTD không chỉ có vai trò quan trọng đối với
các chủ thể như người tiêu dùng, ngân hàng thương mại, nhà sản xuất mà còn có ý nghĩa vĩ
mô đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của
mỗi quốc gia.
1.2.7.Hệ thống đánh giá tín dụng tiêu dùng

Bảng 1: Thang điểm tín dụng
Chỉ tiêu

Tiền án tiền

Chỉ vi phạm

Có, ngoài vi phạm

luật giao

luật giao thông, từ

thông

20 năm trở về trước

20

15

0

-15

< 18

18-25

25-55


10

0

Không

sự

Tuổi

Trình độ học

Trên đại học

vấn

20
Chuyên

Nghề nghiệp

luật giao thông,
trong vòng 20 năm

môn
25

Thời gian



làm việc hiện

5

15

20

Thuê

Với gia đình khác

Khác

10

5

0

Sống cùng

Sống cùng 1 gia

Sống cùng nhiều gia

cha mẹ

đình hạt nhân khác


>120 triệu

36-120 triệu

12-36 triệu

240 triệu

72-240 triệu

24-72 triệu

Dưới 24 triệu

30

20

5

Sau khi chấm điểm, nếu số điểm của khách hàng dưới 0 sẽ bị loại, trên 0 sẽ được tiếp tục
chấm điểm.
Chấm điểm bước 2 dựa trên các tiêu chí
-

Tỷ trọng vay vốn

-

Tình hình trả nợ với ngân hàng

-

Tình hình chậm trả lãi

-

Tổng nợ hiện tại

-

Các dịch vụ sử dụng của ngân hàng

-

Loại tài sản thế chấp

-

Rùi ro tài sản thế chấp liên quan đến việc thay đổi giá trị tài sản đó

nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng vốn của ngân hàng. Rất nhiều người vấp phải rào
cản bởi những quy định chặt chẽ về điều kiện, thủ tục cho vay. Vì vậy, để mở rộng đối tượng
CVTD, ngân hàng nên xem xét nới lỏng điều kiện tín dụng, đơn giản thủ tục ở mức độ hợp
lý, tạo cơ hội tiếp cận ngân hàng cho nhiều người hơn.
*Doanh số cho vay
Mở rộng doanh số cho vay chính là kết quả của sự gia tăng về giá trị món vay và số
lượng các khoản vay. Đây là chỉ tiêu thể hiện rõ nhất tốc độ mở rộng CVTD. Nguồn vốn ngân

Footer Page 16 of 89.


Header Page 17 of 89.

hàng phục vụ lĩnh vực TDTD càng lớn chứng tỏ nhu cầu vay của khách hàng được đáp ứng
tốt hơn, đồng thời cũng cho thấy khả năng tăng lợi nhuận từ hoạt động này của ngân hàng.
*Dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay là chỉ tiêu được các ngân hàng tính vào cuối mỗi quý hay mỗi năm
bằng công thức dư nợ cho vay cuối kỳ = dư nợ cho vay đầu kỳ + doanh số cho vay trong kỳ doanh số thu nợ cuối kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh quy mô của mở rộng CVTD và là cơ sở để xác
định thu nhập của ngân hàng từ hoạt động này.
*Hạn mức cho vay
Tăng hạn mức cho vay đối với một số nhóm khách hàng nhất định sẽ góp phần mở
rộng CVTD bởi nó tác động trực tiếp tới đối tượng và quy mô CVTD. Khi thực hiện nội dung
này, điều quan trọng nhất đối với ngân hàng là phải xác định mức tăng hợp lý và xác định
chính xác các đối tượng đủ tin cậy để được nhận số tiền vay lớn hơn.
*Danh mục sản phẩm cho vay
Một danh mục sản phẩm đa dạng tạo nhiều ra cơ hội lựa chọn cho khách hàng, từ đó
hấp dẫn được nhiều cá nhân đến với ngân hàng hơn. Vì vậy, để thực hiện mục tiêu mở rộng
CVTD, ngân hàng không thể không chú ý tới việc phát triển danh mục dịch vụ của mình.
*Phạm vi cung ứng dịch vụ
Dựa trên những lợi thế về sản phẩm, công nghệ, ngân hàng có thể mở rộng phạm vi

*Nhóm yếu tố thuộc về ngân hàng
-Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng bao gồm hệ thống các quan điểm, chủ trương, định hướng, quy
định chỉ đạo hoạt động tín dụng, đầu tư của ngân hàng. Chính sách tín dụng nêu lên một loạt
các tiêu chí là cơ sở để ra quyết định cho vay như hạn mức tín dụng, các hình thức dịch vụ
cung ứng, điều kiện về tài sản đảm bảo, mức lãi suất áp dụng...Nếu ngân hàng theo đuổi chính
sách tín dụng mạnh dạn tức là đẩy mạnh cho vay thu lợi nhuận, hoạt động tín dụng được mở
rộng do đó lĩnh vực TDTD cũng được mở rộng theo. Ngược lại, nếu chính sách tín dụng của
là thận trọng, hoạt động cho vay bị thu hẹp, ngân hàng sẽ không thực hiện mở rộng CVTD.
Chính sách tín dụng cũng xác định rõ khách hàng chiến lược của ngân hàng. Trong trường
hợp đó là các khách hàng cá nhân và hộ gia đình, mở rộng CVTD sẽ là nhiệm vụ hàng đầu mà
ngân hàng cần thực hiện. Ngân hàng tiến hành lập kế hoạch cụ thể, đề ra các biện pháp và tập

Footer Page 18 of 89.


Header Page 19 of 89.

trung mọi nguồn lực để mở rộng dịch vụ này. Như vậy, chính sách tín dụng là điều kiện tiền
đề cho việc ra quyết định mở rộng CVTD.
-Quy mô vốn ngân hàng
Nguồn vốn ngân hàng bao gồm vốn tự có, vốn huy động từ tiền gửi của các khách hàng
và nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng. Để đảm bảo khả năng thanh khoản, các ngân hàng
không bao giờ cho vay hết số vốn hiện có mà luôn giữ một lượng tiền nhất định trong ngân
quỹ và để dự trữ. Nguồn vốn của ngân hàng càng dồi dào, khả năng thanh toán càng được
đảm bảo đồng thời khả năng sinh lợi tăng lên do ngân hàng có điều kiện mở rộng hoạt động
cho vay, trong đó có CVTD. Quy mô vốn là yếu tố quyết định hạn mức tín dụng, do đó nó có
ảnh hưởng lớn đến mở rộng CVTD. Ngoài ra, với nguồn vốn dồi dào cho phép ngân hàng
triển khai các chiến lược Marketing hiệu quả, thực hiện tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực,
áp dụng công nghệ mới, góp phần thúc đẩy CVTD.

không chỉ cho phép ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, tăng tiện ích cho khách hàng
mà còn tạo thuận lợi cho ngân hàng trong việc lưu trữ, quản lý, tìm kiếm thông tin khách
hàng, từ đó hạ chi phí quản lý, tăng lợi nhuận thu được từ hoạt động CVTD. Rõ ràng, công
nghệ ngân hàng cũng là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động mở rộng CVTD.
*Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng
Mục đích CVTD là nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu tiêu dùng của khách hàng do đó các
yếu tố thuộc về khách hàng như khả năng tài chính, tài sản đảm bảo, phẩm chất đạo đức, xu
hướng tiêu dùng có những tác động đáng kể tới mở rộng CVTD.
-Khả năng tài chính của khách hàng
Khả năng tài chính của khách hàng chính là nguồn đảm bảo việc trả nợ của khách hàng
trong tương lai, đảm bảo độ an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Đây là điều
kiện hàng đầu mà ngân hàng cần xem xét, đánh giá trước khi đưa ra quyết định cho vay. Do
các khoản vay tiêu dùng có độ rủi ro cao nên ngân hàng luôn chú trọng đến công tác thẩm
định năng lực tài chính của khách hàng. Ngân hàng càng thu hút được các khách hàng tiềm
năng, có thu nhập cao và ổn định, hoạt động tín dụng của ngân hàng càng được tiến hành một
cách thuận lợi. Ngược lại, nếu khách hàng không thỏa mãn các điều kiện tín dụng, hoạt động
CVTD sẽ bị hạn chế, thu hẹp.
-Đạo đức khách hàng
Một trong những rủi ro mà ngân hàng rất hay gặp trong hoạt động tín dụng, đặc biệt là
tín dụng tiêu dùng là rủi ro đạo đức. Việc thu thập thông tin, đánh giá đạo đức của các cá nhân

Footer Page 20 of 89.


Header Page 21 of 89.

hộ gia đình có nhu cầu sử dụng dịch vụ CVTD là rất khó khăn đối với ngân hàng. Ngân hàng
thông thường hạn chế số tiền cho vay đối với những khách hàng mới, chưa có quan hệ với
ngân hàng. Nếu người đi vay chứng minh được phẩm chất đạo đức tốt, tạo được sự tin cậy đối
với ngân hàng, họ sẽ có cơ hội vay được số tiền lớn hơn, đồng nghĩa với việc góp phần mỏ

thiện, thống nhất, hoạt động cho vay của ngân hàng, trong đó có CVTD càng có cơ hội mở
rộng, phát triển. Ngược lại, một môi trường pháp lý bất ổn, hệ thống luật chồng chéo mâu
thuẫn lẫn nhau sẽ kìm hãm sự phát triển của CVTD.
-Môi trường kinh tế
Yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn tới thu nhập, chi tiêu của khách hàng cá nhân, hộ gia
đình và sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu của họ đối với dịch vụ ngân hàng. Khi điều kiện kinh tế
thuận lợi, các biến số giá cả, lạm phát, tỷ giá ổn định, thu nhâp, chi tiêu của cá nhân, hộ gia
đình tăng lên, do vậy nhu cầu của họ về dịch vụ ngân hàng cũng phát sinh nhiều hơn, nhờ đó,
TDTD được mở rộng. Khi nền kinh tế trì trệ, nhiều biến động, giá cả hàng hóa, tỷ giá, lạm
phát kém ổn định, sức mua của người tiêu dùng giảm, ảnh hưởng tiêu cực đến mở rộng
TDTD. Vì vậy, các thông tin về cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng
trưởng kinh tế và sự ổn định kinh tế là những yếu tố mà ngân hàng cần quan tâm nghiên cứu,
phân tích để thực hiện mở rộng CVTD có hiệu quả.
-Môi trường văn hóa xã hội
Môi trường văn hóa xã hội bao gồm các yếu tố như phong tục tập quán, thói quen sử
dụng các dịch vụ ngân hàng, tỷ lệ tiết kiệm, trình độ dân trí, thị hiếu của dân cư...Văn hóa tiêu
dùng của người dân sẽ ảnh hưởng tới hành vi và nhu cầu các dịch vụ ngân hàng. Cụ thể, trong
một môi trường mà người dân có thói quen chi tiêu nhiều hơn tiết kiệm hay có xu hướng tiêu
dùng các hàng hóa giá trị cao, dịch vụ CVTD có điều kiện được mở rộng. Hoặc trong một xã
hội có trình độ dân trí cao, người dân dễ dàng tiếp cận với công nghệ ngân hàng, dễ dàng đón
nhận các dịch vụ của ngân hàng. Vấn đề tâm lý của người dân cũng ảnh hưởng rất lớn đến
hành vi và nhu cầu của họ về các sản phẩm ngân hàng. Ở nước ta nhiều người vẫn có tâm lý
không tin tưởng vào ngân hàng, không quen với việc đi vay ngân hàng để mua các hàng hóa
tiêu dùng, do đó việc mở rộng dịch vụ cho vay tiêu dung phải chú ý tới vấn đề này. Nghiên
cứu các yếu tố văn hóa xã hội không những để xác định rõ các tác động của chúng tới hành vi
sử dụng dịch vụ ngân hàng và lựa chọn ngân hàng của khách hàng cá nhân mà còn giúp các
cán bộ ngân hàng có cách thức hành xử phù hợp trong giao tiếp với khách hàng.
-Môi trường cạnh tranh

Footer Page 22 of 89.

kinh doanh theo mô hình một NHTM đa năng, luôn đi tiên phong trong cơ chế thị trường,
phục vụ và góp phần tích cực trong thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

Footer Page 23 of 89.


Header Page 24 of 89.

Kể từ khi đổi mới cho đến nay, hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Ba Đình
không ngừng mở rộng theo định hướng “ổn định - an toàn - hiệu quả và phát triển ” cả về quy
mô, tốc độ tăng trưởng, địa bàn hoạt động cũng như về cơ cấu tổ chức, xứng đáng là lá cờ đầu
trong lĩnh vực ngân hàng.
2.1.2.Cơ cấu tổ chức
Bộ máy tổ chức của ngân hàng bao gồm 11 phòng nghiệp vụ, 1 phòng giao dịch, 12
quỹ tiết kiệm, hoạt động trên địa bàn rộng là các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Tây Hồ dưới sự
lãnh đạo của ban giám đốc ( Giám đốc và 4 phó giám đốc). Các phòng nghiệp vụ thuộc chi
nhánh bao gồm:
-Phòng khách hàng doanh nghiệp lớn (phòng khách hàng 1)
-Phòng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (phòng khách hàng 2)
-Phòng khách hàng cá nhân
-Phòng quản lý rủi ro
-Phòng quản lý nợ có vấn đề
-Phòng kế toán
-Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
-Phòng tiền tệ kho quỹ
-Phòng tổ chức hành chính
-Phòng thông tin điện toán
-Phòng tổng hợp
2.1.3.Tình hình hoạt động kinh doanh
2.1.3.1.Huy động vốn


3639

14,00

4164

14,43

4400

5,67

Tiền gửi VNĐ

2984

9,79

3469

16,25

3698

6,60

Tiền gửi ngoại tệ

655


2295

8,56

Tổng nguồn
vốn

Tiền gửi của các
tổ chức
Tiển gửi của
dân cư

(Nguồn:báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004-2005-2006)
Trong 3 năm từ 2004 đến 2006, nguồn vốn huy động được của chi nhánh luôn tăng với tốc
độ khá cao so với mức trung bình của toàn hệ thống. Có được kết quả đáng khích lệ trên là do nỗ
lực không ngừng của toàn bộ chi nhánh trong việc thực hiện các giải pháp huy động vốn. Đa dạng
hoá các hình thức gửi tiền cùng chính sách lãi suất linh hoạt, chính sách Marketing hiệu quả với
nhiều hình thức khuyến mại, các tiện ích đi kèm là những yếu tố cơ bản tạo nên sự hấp dẫn cho
sản phẩm tiền gửi của NH. Thêm vào đó, chi nhánh thường xuyên cải tạo, nâng cấp bổ sung trang
thiết bị cho các phòng ban, đặc biệt các quỹ tiết kiệm, đảm bảo phục vụ khách hàng thuận tiện và
kịp thời. thời gian này chi nhánh cũng khai trương thêm 2 quỹ tiết kiệm mới, mở rộng phạm vi
huy động vốn, tăng khả năng cạnh tranh. Nhờ vâỵ, công tác huy động vốn luôn là thế mạnh của
ngân hàng.
2.1.3.2.Tín dụng
*Cho vay
Tình hình dư nợ cho vay của chi nhánh trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2006 như sau:
Bảng 3: Tình hình dư nợ thời kì 2004 - 2006
Đơn vị : tỷ đồng
Năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status