HỎI - ĐÁP PHÁP LUẬT
VỀ PHÒNG, CHỐNG
TỘI PHẠM
MUA BÁN NGƯỜI
99
100
SỞ TƯ PHÁP TỈNH LẠNG SƠN
Hái - §¸p
PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG TỘI PHẠM
MUA BÁN NGƯỜI
LẠNG SƠN, th¸ng 12 n ĂM 2010
99
100
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
Phần I. Những vấn đề chung về công tác phòng,
chống tội phạm mua bán người.
Phần II. Công ước quốc tế và pháp luật Việt
Nam về Quyền con người.
89
102
99
100
LỜI GIỚI THIỆU
Mua bán người đang là mối hiểm hoạ lớn cho
toàn xã hội, đe doạ đến sự an ninh, an toàn của con
người trên nhiều phương diện, tước đoạt quyền tự do
và quyền con người, đe doạ đến sức khoẻ nhân loại
toàn cầu. Mua bán người không chỉ gây ra những tác
hại nặng nề đối với bản thân các nạn nhân và gia đình
họ mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự, an toàn
xã hội.
chống tội phạm mua bán người sẽ giúp người đọc dễ
dàng nắm bắt và áp dụng trong thực tế. Hy vọng cuốn
sách sẽ đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu và tìm hiểu
pháp luật của đông đảo bạn đọc.
Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi những
hạn chế và thiết sót, Ban biên tập rất mong nhận được
ý kiến góp ý của bạn đọc.
Xin trân trọng giới thiệu!
Lạng Sơn, tháng 12 năm 2010
BAN BIÊN TẬP
duy nhất một văn bản pháp lý đề cập đến định nghĩa
về mua bán trẻ em, đó là Nghị quyết số 04/HĐTP
ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
trong phần các tội phạm của Bộ Luật hình sự năm
1985. Theo Nghị quyết này thì "mua bán trẻ em" được
hiểu là "Việc mua hoặc bán trẻ em vì mục đích tư lợi,
dù là mua của kẻ bắt trộm hay mua của chính người
có con đem bán. Hành vi mua trẻ em khi biết rõ là
đứa trẻ bị bắt trộm cũng bị xử lý về tội mua bán trẻ
em; khi xét xử các Toà án cần phân biệt loại tội phạm
này với trường hợp bố mẹ vì đông con hoặc vì hoàn
cảnh khó khăn đặc biệt như quá nghèo khổ không
nuôi nổi con mà phải bán con mình (dưới hình thức
cho làm con nuôi và nhận một số tiền giúp đỡ) hoặc
trường hợp vì hiếm con mà mua của người có con
đem bán để về nuôi thì cũng không coi là phạm tội".
Phần I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG
TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI
99
100
Tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng Nghị quyết này
chỉ là văn bản hướng dẫn đường lối xét xử đối với các
nữ là 1.218 vụ với 2.310 đối tượng, 3.019 nạn nhân; số
vụ mua bán trẻ em là 191 vụ với 268 đối tượng, 491
nạn nhân; số vụ mua bán cả phụ nữ, trẻ em là 177 vụ
với 310 đối tượng, 498 nạn nhân. So với 05 năm
trước, tăng 1.090 vụ, 2.117 đối tượng và 2.935 nạn
nhân, trong đó, trên 60% tổng số vụ mua bán sang
Trung Quốc, 11% tổng số vụ bán sang Campuchia, số
còn lại mua bán sang Lào, qua tuyến hàng không,
tuyến biển để bán ra một số nước khác. Các địa
phương xảy ra nhiều vụ mua bán người là: Hà Giang
(134 vụ); Lào Cai (105 vụ); Lạng Sơn (95 vụ); Quảng
Ninh (73 vụ), Hà Nội (66 vụ); Nghệ An (66 vụ); Lai
Châu (56 vụ); Bắc Giang (44 vụ),...
Đối với địa bàn tỉnh Lạng Sơn: là một tỉnh miền
núi biên giới có 253 Km đường biên giới tiếp giáp với
nước bạn Trung Quốc, với nhiều cửa khẩu, cặp chợ
đường biên, đặc biệt là các đường mòn biên giới;
ngoài ra Lạng Sơn còn có các tuyến đường quốc lộ
thuận lợi nối liền với thủ đô Hà Nội và các tỉnh khác
1] [2]
Theo "Tìm hiểu pháp luật về phòng, chống buôn bán phụ nữ
và trẻ em" của Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Tư pháp - Hà Nội 2008)
99
100
trong nội địa.… vì vậy đó chính cũng là điều kiện làm
Đáp:
Thủ đoạn phạm tội của bọn buôn bán người hết sức
đa dạng và tinh vi, nhưng phổ biến nhất vẫn là các thủ
đoạn sau:
- Lợi dụng phụ nữ, trẻ em ở các vùng nôn thôn
nghèo, có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế khó
khăn lại lang thang thất nghiệp bằng việc hứa tìm việc
làm thích hợp ở thành phố với mức lương ổn định, sau
đó tìm mọi cách đưa qua biên giới để bán cho các chủ
chứa hoặc các tổ chức tội phạm ở nước ngoài.
- Lợi dụng sự sơ hở trong quy định pháp luật, nhất
là trong tư vấn môi giới hôn nhân với người nước
ngoài, cho nhận con nuôi, tham quan du lịch, thăm
thân, đi hợp tác lao động, xuất nhập cảnh… để lừa gạt
đưa phụ nữ ra nước ngoài bán.
- Lợi dụng chính sách mở cửa và hội nhập của
nước ta để làm quen, tạo mối quan hệ thân thiện với
phụ nữ, trẻ em, thậm chí muốn đi tới hôn nhân với
người Việt Nam sau một thời gian quan hệ, hứa hẹn,
tạo lòng tin, chúng lừa nạn nhân đi du lịch nước ngoài,
chúng bán cho bọn buôn người.
- Lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin
như Internet, điện thoại di động để thiết lập các đường
dây đưa phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài để bán; tổ chức
các chuyến du lịch tình dục xuyên quốc gia.
100
- Thuê phụ nữ để sinh con, rồi bán cả mẹ lẫn con.
cục là sa vào bẫy của bọn chúng.
- Hạn chế về nhận thức:
Trình độ dân trí thấp, hạn chế trong việc tiếp cận
thông tin, đặc biệt là thông tin liên quan đến nạn buôn
bán người… là những tồn tại phổ biến trong dân cư
vùng sâu vùng xa, thậm chí cả với những đô thị, thành
phố lớn nhưng gia đình, nhà trường chưa có sự quan
tâm, giáo dục sát sao về vấn đề này. Nhiều vụ việc xảy
ra với những tình tiết đơn giản đến không ngờ mà nếu
như một người có nhận thức, hiểu biết về vấn đề này
sẽ không bao giờ mắc phải. Trên thực tế, các nạn nhân
vẫn bị dỗ ngon, dỗ ngọt bởi các chiêu bài tìm việc làm
nhàn hạ nhưng lại có thu nhập cao. Họ dễ dàng theo
đối tượng có khi chỉ quen biết sơ sơ đến những nơi xa
lạ để mong một sự đổi đời.
- Đói nghèo, thất học và thất nghiệp:
Đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhu
cầu và xu hướng di dân tìm việc làm và thu nhập, nó
chứa đựng cả hai yếu tố nói trên. Đói nghèo và thất
nghiệp dẫn đến những ham hố lợi ích vật chất của nạn
100
nhân và thất học dẫn đến sự hạn chế về nhận thức,
hiểu biết. Nạn nhân sống trong tình trạng nghèo đói,
không có việc làm, thiếu kiến thức và giáo dục là
những điều kiện thuận lợi cho bọn buôn người tiếp
cận, lôi kéo, dụ dỗ.
- Thiếu sự quan tâm, dạy dỗ của gia đình:
Đây là một nguyên nhân quan trọng. Không ít các
niềm vui vừa qua đi là nỗi lo đã ập đến. Họ sẽ làm gì
vượt qua những mặc cảm, sự kỳ thị, sẽ làm gì để sinh
sống, để thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu.
Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác như:
Bất bình đẳng giới, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn,
mất cân bằng giới tính…cũng là những nguyên nhân
không nhỏ dẫn đến tình trạng buôn bán phụ nữ trẻ em
như hiện nay.
6. Hỏi: Để ngăn chặn loại tội phạm mua bán
người thì cần phải áp dụng các biện pháp gì?
Đáp: Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng
chống tội phạm mua bán người nhất là mua bán phụ
nữ và trẻ em cần có sự vào cuộc đồng bộ, thường
xuyên của các cấp, các ngành và toàn xã hội, phải coi
đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích của phụ nữ và trẻ em trong giai đoạn hiện nay.
100
- Xác định phòng, chống tội phạm buôn bán phụ
nữ và trẻ em là vấn đề mang tính xã hội cao, lấy phòng
ngừa là chính; các sở, ban, ngành và địa phương tập
trung chỉ đạo, đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên
truyền với nhiều hình thức và nội dung phong phú, để
mọi người thấy được thủ đoạn hoạt động của bọn tội
phạm, trách nhiệm của các tổ chức, gia đình và của
mọi người dân, từ đó chủ động phòng ngừa và đấu
tranh ngăn chặn.
- Quản lý chặt chẽ số đối tượng đã có tiền án, tiền
sự, trong đó chú ý tới các đối tượng liên quan đến
lý giúp nâng cao hiệu quả đấu tranh và phòng ngừa tội
phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em.
+ Một số phụ nữ trở thành vợ bất hợp pháp, có
trường hợp làm nô lệ tình dục cho nhiều thế hệ của
một gia đình (làm vợ tập thể).
- Nâng cao năng lực nhận biết và phòng ngừa:
+ Phải chung sống với người mà mình không yêu,
lấy chồng già, tật nguyền ở vùng sâu vùng xa.
Thực hiện các hoạt động truyền thông, nâng cao
nhận thức và kỹ năng phòng ngừa cho người dân địa
99
100
+ Bị đối xử tàn nhẫn, ức hiếp, bị ép buộc lao động
cực nhọc trong môi trường độc hại, nguy hiểm.
- Người lạ, có thể là người quen, người thân, bạn
bè của nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân.
+ Không được chăm sóc sức khoẻ, điều kiện sống
tồi tệ, thậm trí bỏ đói, bị tước quyền công dân, bị quản
lý chặt chẽ, bị hành hạ, đánh đập dã man, bị xúc phạm
về tinh thần.
- Những người có tiền án, tiền sự về hành vi chứa
chấp và môi giới mại dâm.
9. Hỏi: Cần phải làm gì để tự bảo vệ mình và
người thân khỏi bị mua bán?
Đáp:
- Luôn luôn cảnh giác, đề phòng người lạ (kể cả
người thân đi làm ăn xa trở về hứa hẹn tìm việc hoặc
rủ hợp tác làm ăn)
- Từ chối sự giúp đỡ về tiền, lợi ích vật chất của
người khác hoặc không nhận tiền và tự nguyện trả nợ
thay của người lạ.
- Nâng cao trình độ văn hoá, pháp luật, kỹ năng tự
bảo vệ bạn có thể đảm bảo an toàn cho bản thân và
giúp cho người thân khỏi bị buôn bán.
100
- Luôn nhớ địa chỉ và số điện thoại tin cậy (của
chính quyền, cơ quan, tổ chức, người thân…) để có
thể liên hệ giúp đỡ khi cần thiết.
10. Hỏi: Khi có ý định đi ra nước ngoài làm
việc thì nên làm gì để tự bảo vệ mình và người thân
khỏi bị mua bán?
Đáp:
- Kiểm tra thật kỹ cơ quan tuyển dụng, cơ quan
xuất khẩu lao động có giấy phép hợp pháp không.
- Tìm hiểu kỹ thông tin về nơi bạn đến làm việc
về quyền cơ bản của người lao động nhập cư, tình
và tích cực tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật.
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong
việc phòng, chống.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức
Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, tạo ra các sân chơi
bổ ích.
- Gia đình cần thường xuyên giáo dục các thành
viên, kịp thời cung cấp thông tin cho các cơ quan chức
100
năng; không kỳ thị, xa lánh người bị buôn bán trở về;
tạo điều kiện cho họ hoà nhập cộng đồng.
12. Hỏi: Khi có ý định lấy chồng là người nước
ngoài thì nên làm gì để bảo vệ mình và người thân
khỏi bị mua bán?
Đáp:
- Cảnh giác trước những lời môi giới hôn nhân,
hứa hẹn.
- Tìm hiểu về pháp luật, đặc biệt là luật hôn nhân
và gia đình, quyền lợi của người vợ của nước có công
dân định kết hôn.
13. Hỏi: Khi phát hiện có dấu hiệu của hành vi
mua bán người hoặc có nạn nhân bị mua bán thì
phải làm gì?
Đáp:
- Gọi điện thoại tới đường dây nóng miễn phí:
18001567 hoặc 113.
100
14. Hỏi: Việt Nam Nam đã phê chuẩn các Công
ước quốc tế nào liên quan đến quyền của Phụ nữ và
trẻ em?
Đáp: Việt Nam Nam đã chính thức phê chuẩn 02
Công ước quốc tế liên quan trực tiếp đến phụ nữ, trẻ
em đó là: Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất
cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
(Công ước CEDAW) vào năm 1982 và Công ước
quốc tế về quyền trẻ em vào năm 1990. Và mới đây
ngày 15/ 12/ 2010 tại Vương quốc Hà Lan, được sự ủy
quyền của Chính phủ, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền
nước CHXHCN Việt Nam tại Vương quốc Hà Lan đã
ký Công ước về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh
vực con nuôi quốc tế. Đây là một trong số 38 công
ước quốc tế về tư pháp quốc tế trong khuôn khổ Hội
nghị La Hay về tư pháp quốc tế. Hiện tại, Công ước có
81 quốc gia thành viên. Việc Việt Nam ký Công ước
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc từng
bước hội nhập vào khuôn khổ hợp tác đa phương về tư
pháp quốc tế mà trước hết là việc thực hiện Công ước
về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi
quốc tế.
99
CEDAW là tên viết tắt của “Công ước của Liên
Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối
Mặt khác, phân biệt đối xử với phụ nữ là vi phạm
quyền con người của phụ nữ, làm hạn chế sự phát
triển, sự đóng góp tích cực của họ vào quá trình phát
triển của mỗi nước và của cả thế giới. Bởi vì mọi
người sinh ra đều tự do, bình đẳng về nhân phẩm và
quyền lợi, không có sự phân biệt nào dù nam hay nữ,
con trai hay con gái.
99
17. Hỏi: Công ước CEDAW quy định quyền
được bảo vệ trước mọi hình thức bạo lực về thể
chất, tình dục, cảm xúc, tinh thần và kinh tế của
phụ nữ như thế nào?
Đáp: Tại Điều 6 quy định: Các quốc gia thành
viên phải áp dụng tất cả các biện pháp thích hợp, kể cả
biện pháp pháp luật để loại bỏ mọi hình thức buôn bán
phụ nữ và bóc lột phụ nữ làm nghề mại dâm.
18. Hỏi: Công ước của Liên hợp quốc về quyền
trẻ em quy định các biện pháp gì để trẻ em được
100
bảo vệ tránh khỏi tất cả các hình thức phân biệt
đối xử hay trừng phạt?
Đáp:
Công ước quốc tế về quyền trẻ em là một văn bản
pháp luật quốc tế nhằm bảo vệ trẻ em mà tất cả mọi
người cần thực hiện. Khi một quốc gia ký và phê
các nước quốc gia thành viên phải bảo đảm các
quyền gì của trẻ em?
Đáp: Theo quy định từ Điều 6 đến Điều 41 của
Công ước thì các quốc gia thành viên phải có các biện
pháp để bảo đảm các quyền của trẻ em gồm: Quyền
được sống; Quyền có họ tên; Quyền có quốc tịch;
Quyền được làm con nuôi người khác; Quyền không
bị cách ly cha mẹ trái ý muốn; Quyền được đoàn tụ
với gia đình; Quyền được giữ gìn bản sắc của mình;
Quyền được tự do bày tỏ ý kiến; Quyền tự do kết giao
và tự do hội họp hoà bình; Quyền tự do tư tưởng, tín
ngưỡng và tôn giáo; Quyền được thu nhận thông tin;
Quyền được bảo vệ khỏi tất cả các hình thức bạo lực
về thể chất hoặc tinh thần, bị thương tổn hay lạm
dụng, bị bỏ mặc hoặc sao nhãng việc chăm sóc, bị
ngược đãi hoặc bóc lột, gồm cả lạm dụng tình dục;
Quyền được chăm sóc nuôi dưỡng; Quyền được học
hành; Quyền hưởng an toàn xã hội; Quyền được bảo
vệ tính mạng, sức khoẻ; Quyền được giải trí và tiêu
100
khiển; Quyền được bảo vệ không bị bóc lột về kinh tế
và không phải làm bất kỳ công việc gì nguy hiểm hoặc
ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ em, hoặc có hại
đối với sức khoẻ hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ,
tinh thần, đạo đức, hay xã hội của trẻ em.
20. Hỏi: Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam
quy định thế nào về quyền cơ bản của công dân?
Đáp: Theo quy định tại Chương V Hiến pháp
đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lí
tưởng xã hội xã hội của thanh niên; Quyền được
hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước của thương
binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, quyền được Nhà
nước và xã hội giúp đỡ của người già, người tàn tật,
trẻ em mồ côi.
- Các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân:
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được
thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy
định của pháp luật; Quyền tự do tín ngưỡng; Quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo; Quyền bất khả xâm phạm về
thân thể; Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; Quyền bí
mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân; Quyền
tự do đi lại và cư trú.
100
21. Hỏi: Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định
như thế nào về các quyền dân sự của cá nhân?
Đáp:
Khi quyền dân sự của chủ thể bị xâm phạm thì
chủ thể có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật
này hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền:
Quyền dân sự là nội dung rất quan trọng của quan
hệ pháp luật dân sự. Quyền dân sự là khái niệm có nội
hàm rất rộng và có sự liên kết mật thiết với các khái
niệm quyền con người hay quyền công dân.
những quyền nhân thân nào?
Đáp: Điều 24, Bộ Luật dân sự năm 2005 quy
định: Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật
này là quyền dân sự gắn với mỗi cá nhân, không thể
chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
Về nguyên tắc, quyền nhân thân của cá nhân là
các quyền không thể chuyển giao cho người khác; các
quyền này sẽ chấm dứt khi cá nhân đó chết. Trừ
những trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định
quyền nhân thân của cá nhân có thể chuyển giao cho
người khác. Ví dụ: Theo quy định tại Điểm c, Khoản
2, Điều 738 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì quyền công
bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm được
100
coi là quyền nhân thân thuộc quyền tác giả. Tuy nhiên,
quyền công bố hoặc giao cho người khác công bố tác
phẩm của tác giả có thể được chuyển giao cho người
khác khi đảm bảo các điều kiện do pháp luật về sở hữu
trí tuệ quy định (Khoản 1, Điều 742).
Các quyền nhân thân được quy định trong Bộ Luật
dân sự năm 2005 bao gồm một số các quyền dân sự cơ
bản gắn liền với mỗi cá nhân, có thể chia thành 05
nhóm với 26 quyền sau:
+ Nhóm các quyền có liên quan đến lĩnh vực hộ
tịch (gồm 6 quyền)
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh; Quyền được bảo
Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; Quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo; Quyền tự do đi lại, tự do cư trú;
99
1. Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính
mạng, sức khỏe, thân thể.
2. Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính
mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm đưa
đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu
chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng
hiện có để cứu chữa.
3. Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới
trên cơ thể một người, việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy
ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của
100
người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực
hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải
được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc
người giám hộ của người đó đồng ý; trong trường hợp
có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà
không chờ được ý kiến của những người trên thì phải
có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế.
4. Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường
hợp sau đây:
- Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người
đó chết;
- Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã
thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến
n) Có tính chất côn đồ;
Đáp: Theo quy định tại Điều 93, Bộ Luật hình
sự thì:
p) Tái phạm nguy hiểm;
1. Người nào giết người thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến
hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết nhiều người;
b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
c) Giết trẻ em;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do
công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy
giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó
lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt
nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
99
o) Có tổ chức;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do
công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31%
đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a
đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm
đến bảy năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở
99
lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60%
nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại
các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì
bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong
trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù
từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
26. Hỏi: Hành vi hiếp dâm sẽ bị xử lý như
thế nào?
Đáp: Điều 111, Bộ Luật hình sự quy định về tội
tội hiếp dâm như sau:
1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực
hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của
nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân
trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến
bảy năm.
c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ
thương tật từ 31% đến 60%;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
d) Đối với người mà người phạm tội có trách
nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;
c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến
mười năm.
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,
thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định
tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo
mức hình phạt quy định tại các khoản đó.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
từ một năm đến năm năm.
a) Có tổ chức;
b) Nhiều người hiếp một người;
c) Phạm tội nhiều lần;
d) Đối với nhiều người;
đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ