NGHIÊN CỨU SÀNG LỌC, PHÂN LẬP VÀ NHẬN DẠNG CÁC HOẠT CHẤT AXIT BÉO, AXIT ARACHIDONIC VÀ PROSTAGLANDIN TỪ RONG ĐỎ BIỂN - Pdf 41

Header Page 1 of 148.

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
……..….***…………

LÊ TẤT THÀNH

NGHIÊN CỨU SÀNG LỌC, PHÂN LẬP VÀ NHẬN DẠNG CÁC
HOẠT CHẤT AXIT BÉO, AXIT ARACHIDONIC VÀ
PROSTAGLANDIN TỪ RONG ĐỎ BIỂN

Chuyên ngành: Hóa học các hợp chất thiên nhiên
Mã số: 62 44 01 17

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC

Hà Nội - 2016
Footer Page 1 of 148.



 
Header
Page 2 of 148.
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: GS.TS. Phạm Quốc Long
Người hướng dẫn khoa học 2: TSKH. Andrey B. Imbs.

Phản biện 1: PGS.TS. Hoàng Thanh Hương

của gan, trứng của các loài cá biển. AA cũng là thành phần chính trong lipit
của một số loài rong biển. Axit arachidonic có tác dụng kích hoạt hệ
enzyme NADPH oxygenase giúp hoạt hoá quá trình trao đổi oxi, kích hoạt
các kênh ion K+, Ca2+…
Các prostaglandin (PG) được hình thành từ các các axit béo C20 đa
nối đôi qua quá trình chuyển hoá bằng enzym trong cơ thể và có chức năng
sinh học quan trọng đối với động vật. Chúng là một mắt xích quan trọng
trong chuỗi phản ứng miễn dịch của cơ thể, liên quan đến các hiện tượng
quan trọng như viêm tấy và ung thư. Chúng cũng tác động lên khả năng
chịu đựng của hệ cơ phẳng, hệ bài tiết, hệ tiêu hóa và hệ tuần hoàn trong cơ
thể sống. Chính vì vậy, chúng cũng được sử dụng làm thuốc để điều tiết các
quá trình thụ thai, mang thai và sinh đẻ và vì thế được coi như một chất
hormon. Các prostaglandin được các nhà khoa học nghiên cứu tổng hợp
hay tìm kiếm từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên, đặc biệt là nguồn sinh vật
biển và đã được phát hiện trong một số loài rong Đỏ biển cùng với hàm
lượng cao các axit béo không no đa nối đôi. Vì thế rong đỏ biển được đánh
giá là nguồn nguyên liệu tự nhiên tiềm năng để khai thác các hoạt chất này.
Trên cơ sở các phân tích nêu trên, chúng tôi đã lựa chọn rong Đỏ là
đối tượng nghiên cứu với đề tài: “Nghiên cứu sàng lọc, phân lập và nhận
dạng các hoạt chất axit béo, axit arachidonic và prostaglandin từ rong
Đỏ biển”.
2. Mục tiêu của luận án
Mục tiêu rộng của luận án là điều tra, khai thác tài nguyên lipit trong các
loài rong đỏ biển đỏ của Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể bao gồm:

Footer Page 3 of 148.

1
 


trong điều kiện PTN để theo dõi sự biến động hàm lượng các axit béo và
prostaglandin trong quá trình nuôi trồng.
- Phân lập, nhận dạng và chứng minh cấu trúc PGE2, PGE3 và axit
arachidonic từ loài rong Đỏ có tiềm năng thu ở biển Việt Nam và biển Viễn
Đông – Liên Bang Nga.

Header Page 4 of 148.

Footer Page 4 of 148.

 


  2
 



 
4. Những đóng góp mới của luận án
1. Tập dữ liệu về hàm lượng lipit, thành phần axit béo và prostaglandin
của 69 mẫu đại diện cho 25 loài thuộc 9 họ rong đỏ biển của Việt
Nam thu ở các địa phương, các điều kiện sinh trưởng, nuôi trồng và
thời kỳ thu hoạch khác nhau cùng với 01 mẫu rong đỏ Liên bang
Nga; Kết quả xác định và đánh giá các nhóm axit béo có giá trị cao
thuộc các dãy omega-3, omega-6, các axit béo không no thiết yếu
PUFA và HUFA, trong đó lần đầu tiên xác định được axit C22:6n-3
(DHA) có trong 5 mẫu rong đỏ.
2. Kết quả sử dụng phương pháp phân tích PCA và phân tích chùm xử
lý tập số liệu 12 thành phần axit béo chính yếu của 69 mẫu rong đỏ

  3
 


Header Page 6 of 148.


 

6. Bố cục của luận án
Luận án gồm 133 trang, trong đó có 37 hình, 15 bảng, 4 biểu đồ. Bố
cục của luận án: Mở đầu (3 trang); Chương 1: Tổng quan (36 trang);
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (13 trang), Chương 3:
Thực nghiệm (8 trang); Chương 4: Kết quả và thảo luận (60 trang); Kết
luận và kiến nghị (3 trang); Tài liệu tham khảo (9 trang); Ngoài ra còn có
51 trang phụ lục với các hình phổ, kết quả phân tích TLC, GC và GC-MS,
HPLC, NMR.
II. NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
MỞ ĐẦU
Phần mở đầu đề cập đến ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn, đối tượng
và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
Trong phần tổng quan, luận án đã giới thiệu chung lớp chất lipit, các
axit béo (đặc biệt là các axit béo có hoạt tính sinh học như axit arachidonic)
và prostaglandin cũng như phương pháp nhận dạng, phân lập lớp chất lipit,
axit béo và các hợp chất AA, PG.
Luận án đã tổng hợp và đánh giá tiềm năng nguyên liệu rong biển
Việt Nam từ một số công trình nghiên cứu về rong biển, trong đó tập trung
vào đối tượng rong Đỏ biển.
Việc đánh giá tổng quan tài liệu cho thấy, nguồn hoạt chất axit béo,

mẫu), Phyllophoraceae
Halymeniaceae (1 mẫu).

(1

mẫu),

Rhodymeniaceae

(1

mẫu),

Vị trí thu mẫu: 68 mẫu thu ở biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Ninh
Thuận; 01 mẫu thu tại vùng biễn Viễn Đông – Liên bang Nga.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu và bảo quản mẫu
Việc thu mẫu ở vùng triều dựa vào quy phạm tạm thời điều tra tổng
hợp biển (phần rong biển) của Uỷ ban KHKT Nhà nước ban hành năm
1981. Khảo sát vùng dưới triều dựa vào tài liệu hướng dẫn của Wilkinson
& Baker 1997 bằng thiết bị lặn SCUBA.
Mẫu rong biển sau khi thu (khoảng 2 kg tươi) được rửa sạch bằng
nước mặn sau đó rửa bằng nước ngọt và bảo quản ngay trong nhiệt độ≤
4OC, sau đó chia đôi và bảo quản bằng tủ lạnh sâu ở -20OC và -47OC.
2.2.2. Phương pháp phân lập, tách chiết lipit, axit béo, AA, PG
2.2.2.1. Phương pháp chiết lipit tổng

Chiết lipit tổng bằng phương pháp đặc hiệu Bligh&Dyer, 1959, sử
dụng hệ dung môi CHCl3 : CH3OH với tỉ lệ 1/2 (v/v).
2.2.2.2. Phương pháp phân lập các axit béo, AA, PG

1
H-1H COSY, HSQC, HMBC, NOESY.
2.2.4. Phương pháp phân tích cấu tử chính
Phương pháp phân tích cấu tử chính (PCA, Principle Component
Analysis) và phân tích chùm (cluster analysis) được sử dụng để xử lý các
số liệu đa biến về thành phần các axit béo của các mẫu rong đỏ nhằm tìm ra
các mối tương quan của chúng với nhau. Phần mềm Statistica-PCA 69
được sử dụng để thực hiện phép phân tích cấu tử chính và phần mềm Surfer
32 được sử dụng để thực hiện phép phân tích chùm. Các số liệu được xử lý
trước khi phân tích bằng phần mềm Microsof Excel.
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM
Các mẫu được tiến hành nghiên cứu theo sơ đồ chung như sau:

Footer Page 8 of 148.

 


  6
 



 
3.1. Chiết tách và xác định hàm lượng lipit tổng
Cân 100 gam mẫu rong biển tươi, nghiền nhỏ bằng máy xay, chiết
bằng hệ dung môi CHCl3:CH3OH tỉ lệ 1:2 (100ml CHCl3: 200ml CH3OH),
siêu âm trong 6 giờ. Bổ sung 100ml CHCl3, thêm 100ml nước cất, lắc đều,
đợi phân lớp lấy phần dung dịch ở phía dưới, rửa lại bằng nước cất thêm 2
lần sau đó làm khan bằng Na2SO4. Cô cất loại dung môi thu lipit tổng


Footer Page 9 of 148.

 


  7
 



 
chuẩn là PGB2 và PGE2. Tính toán hàm lượng PGE2 có trong 1 g rong tươi
(µg/g rong tươi).
3.3.3. Khảo sát sự biến động và tích luỹ prostaglandin và axit béo trong
quá trình sinh trưởng và phát triển của loài rong câu Gracilaria
vermiculophylla của Nga nuôi trong PTN ở Việt Nam
Mô tả chi tiết cách bố trí thí nghiệm theo dõi sự sinh trưởng và phát
triển của loài rong G. vermiculophylla nuôi trong phòng thí nghiệm. Thu
mẫu và phân tích đánh giá biến động hàm lượng PG, các axit béo.
3.4. Phân lập prsotaglandin từ rong Đỏ
3.4.1. Phân lập PGE2 từ loài rong câu Gracilaria vermiculophylla
Sơ đồ phân lập PGE2 gồm các bước: Xử lí mẫu; Chiết dịch tổng bằng
etyl axetat; Phân lập và tinh chế PGE2 bằng HPLC điều chế.
• Các dữ liệu phổ của PGE2 phân lập được:
Hợp chất phân lập được dạng bột, màu vàng. Điểm nóng chảy 65,5 – 660C.
Rf = 0,5 (TLC, silica-gel, C6H6 : EtOAc 1:1, màu vàng, H2SO4 10%/ MeOH).
Phổ khối ESI-MS: m/z = 375 [M+Na]+.
Phổ 1H-NMR (500 MHz, CDCl3 & CD3OD), δ ppm: 5,62 (1H, m, H14); 5.58 (1H, m, H-13); 5,43 (1H, m, H-5); 5,34 (1H, m, H-6); 4,06 (2H,
m, H-11, H-15); 2,70 (1H, ddd, J = 1.5, 7.5, 18.0 Hz, H-10a); 2,42 (1H, m,

2ml/phút. Chế độ MS: Mẫu đo được ion hóa bằng phương pháp APCI
(positive-ion mode), quá trình phân mảnh của các ion giả phân tử được xác
định bằng MS/MS dùng khí Argon để bắn phá.
3.5. Phân lập, tinh chế thu nhận axit arachidonic từ loài rong Câu
Gracilaria tenuistipitata
Sơ đồ phân lập AA gồm 4 bước: Chiết lipit tổng; Thuỷ phân lipit
tổng; Làm giàu các axit béo không no bằng phương pháp tạo muối với
LiOH; Phân lập và tinh chế AA.
• Các dữ liệu phổ của hợp chất phân lập được (etyl arachidonat)
Phổ khối EI-MS: m/z = 332 [M]+
Phổ 1H NMR (500 MHz, CDCl3), δ ppm: 5,37 (8H, m, H-5, H-6, H8, H-9, H-11, H-12, H-14, và H-15); 4,12 (2H, q, J = 7,0; 14.0 Hz, H-21);
2,81 (6H, m, H-7, H-10, H-13); 2,30 (2H, t, J = 7,5 Hz, H-2); 2,10 (2H, m,
H-4); 2.06 (2H, m, H-16); 1,70 (2H, q, J = 7.5 Hz, H-3); 1.36 (2H, m, H19); 1,30 (4H, m, H-17, H-18); 1.27 (3H, t, J = 7.0 Hz, H-22); 0,90 (3H, t, J
= 7,0 Hz, H-20).
Phổ 13C NMR (125 MHz, CDCl3,), δ ppm: 173,6 (C-1); 130,4 (C15); 129.0 (C-8); 128,8 (C-9); 128,5 (C-11); 128,2 (C-12 và C-14); 127,9
(C-5); 127,5 (C-6); 60,2 (C-21); 33,7 (C-2); 31,5 (C-18); 29,3 (C-17); 27,2
(C-16); 26,5 (C-4); 25,6 (C-3, C-7, và C-10); 24,8 (C-3); 22,5 (C-19); 14,2
(C-22); 14,0 (C-20).
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Nghiên cứu sàng lọc lipit và axit béo của rong Đỏ
4.1.1. Khảo sát hàm lượng lipit tổng
Kết quả xác định hàm lượng lipit tổng của 69 mẫu rong Đỏ, chúng
tôi chia thành 4 nhóm: Nhóm I có hàm lượng lipit ≤0,2% (nhóm có hàm
lượng lipit thấp); Nhóm II từ >0,2 đến ≤0,4% (nhóm có hàm lượng lipit
trung bình); Nhóm III từ >0,4 đến ≤0,6% (nhóm có hàm lượng lipit cao);

Footer Page 11 of 148.

 


A16 là 15,51%, A3 là 14,93%.
Omega-3: hàm lượng chỉ đạt 1,501%, dao động từ 0 đến 18,44%.
Thành phần omega-3 chủ yếu là 2 axit béo C20:5n-3 (eicosapentaenoic axit
- EPA) và axit C22:5n-3 (Docosapentaenoic acid, DPA). Tuy nhiên, EPA
xuất hiện ở nhiều mẫu hơn và có hàm lượng cao hơn, cá biệt có mẫu T29
hàm lượng EPA là 8,17% tổng axit béo.
Omega-6: hàm lượng trung bình là 8,174%, dao động từ 0,61% đến
46,34%. Omega-6 cao nhất là mẫu rong Câu Nga đạt 46,34%, gấp > 2 lần
mẫu có hàm lượng cao nhất của Việt Nam (mẫu A5), đạt 21,08%.
Thành phần omega-6 chủ yếu là 3 axit: C18:2n-6, C20:3n-6, C20:4n6, trong đó axit chiếm hàm lượng cao nhất trong tất cả các mẫu là C20:4n-6
(axit arachidonic).

  10
 
Footer Page 12 of 148.

 



 
Omega-9: Hàm lượng nhóm omega-9 trung bình đạt 10,389%, dao
động trong khoảng 3,17 đến 19,79%. Trong đó chủ yếu là axit C18:1n-9
(axit oleic), trung bình đạt 9,39%.
Về chỉ số PUFA/SFA: Giá trị trung bình đạt 2,454, dao động từ 0
đến 16,12. Theo khuyến cáo của WHO, yêu cầu cho thực phẩm lành là chỉ
số PUFA/SFA >0,4 thì có đến 45/47 mẫu (chiếm 95,7%) đạt yêu cầu.
Về chỉ số n3/n6: Giá trị trung bình đạt 0,176, dao động từ 0 đến
4,64. Theo khuyến cáo của WHO, thực phẩm có chỉ số n3/n6 >0,1 là tốt
cho sức khoẻ con người. Kết quả phân tích cho thấy có 24 mẫu đạt yêu cầu,

 


  11
 



 
của loài H. japonica. Ví dụ như đối với AA ở các mẫu N10 và N11 của loài
H. flegelliformis hàm lượng chỉ đạt 0,33 và 0,1% thì ở cùng loài là N6 lại
lên tới 22,35%.
4.1.2.3. Thành phần và hàm lượng các axit béo của 12 mẫu thuộc 7 họ rong
Đỏ Ceramiaceae, Bangiaceae, Hylamaniaceae, Bonnemaisoniaceae,
Phyllophoraceae, Rhodymeniaceae, Halymeniaceae

Header Page 14 of 148.

Biểu đồ 4.2. Hàm lượng các họ axit béo của 12 mẫu thuộc 7 họ rong Đỏ
Đã xác định được 47 axit béo C12 đến C24.
Axit béo no: Hàm lượng SFA trung bình là 65,05%, dao động từ
40,18% đến 76,92%.
PUFA: hàm lượng trung bình là 13,47%, dao động từ 3,35% đến
36,12%. 50% số mẫu trong khoảng 7,51% đến 12,78%.
HUFA: hàm lượng trung bình là 9,48%, dao động từ 0 đến 30,8%.
50% số mẫu nằm trong khoảng từ 2,88% đến 11,67%.
Omega-3: Đã phát hiện 9 axit omega-3 mạch cac bon từ C18 đến C22
có hàm lượng trung bình là 3,84%, dao động từ 0 đến 17,67%.
Tiếp tục phát hiện 2 mẫu rong Đỏ có chứa DHA là mẫu N4, loài
Liagora sp1, hàm lượng đạt 1,82% và mẫu T2, loài Grateloupia lithophila,

Đỏ thu tại đảo Cồn Cỏ - Quảng Trị.

Header Page 15 of 148.

Cồn Cỏ - Quảng Trị đặc trưng của vùng biển miền Trung có khí hậu
chủ yếu là nắng, nóng trong năm. Chúng tôi đã nghiên cứu 11 mẫu của 11
loài thuộc 8 họ rong Đỏ (bảng 4.3) là đặc trưng cho các họ rong Đỏ khác
nhau trong một vùng sinh thái.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sinh tổng hợp axit béo không chỉ
rất khác biệt giữa các mẫu khác họ mà còn ở những cặp mẫu của các loài
có quan hệ phát sinh sinh vật gần gũi (cùng chi) như N2/N6, N4/N7 và
N5/CC2. Minh chứng qua hàm lượng AA (C20:4n-6) và EPA (C20:5n-3).
Chẳng hạn như trong khi ở mẫu N6 hàm lượng AA rất cao (22,35%) thì ở
mẫu N2 lại vằng mặt hoạt chất này. Tương tự như vậy ở mẫu N7 không
phát hiện được AA và EPA trong khi hàm lượng các hoạt chất này ở N4 lần
lượt là 1,7 và 6,24% tổng axit béo.
• Đúc kết các yếu tố ảnh hưởng trên cơ sở số liệu của các mẫu rong
Đỏ thu tại khu vực Phù Long - Hải Phòng
Khu vực Phù Long – Hải Phòng là khu vực điển hình cho vùng biển
Đông Bắc, nơi có một mùa đông lạnh trong năm, tập trung nhiều loài thuộc
chi rong Câu. Chúng tôi thu thập được 4 loài thuộc chi rong Câu tại khu
vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng lipit của các mẫu ở mức
trung bình và thấp. Về thành phần axit béo, chúng có 3 đặc trưng tương tự
như 8 họ rong Đỏ khác thu tại Cồn Cỏ - Quảng Trị là (1) hàm lượng axit

Footer Page 15 of 148.

 



bản chất sinh học của loài song vẫn chịu tác động không nhỏ của điều kiện
tự nhiên.
Khi so sánh 2 mẫu rong Câu chỉ vàng (Gracilaria tenuistipitata) thu
tự nhiên (mẫu T28) và mẫu nuôi trong PTN, hàm lượng lipit tổng thì không
thay đổi đáng kể tuy nhiên thành phần các axit béo thì biến động rất đáng
chú ý. Mẫu rong nuôi phát sinh thêm 5 axit là C15:1n-7, C15:1n-5, C16:1n9, C17:0 và C20:3n-6. Hàm lượng axit C16:0 đặc trưng cho họ axit béo no
của mẫu rong thu tự nhiên giảm 23,2% so với tổng axit béo trong khi đó
axit C20:4n-6 tăng 10,03%. Như vậy có thể nhận định điều kiện nhiệt độ
trong quá trình sinh trưởng của rong ảnh hưởng lớn đến thành phần và hàm
lượng axit béo theo hướng giảm axit béo no và tăng các axit béo không no.

Footer Page 16 of 148.

 


  14
 



 
4.1.3. Sử dụng phương pháp PCA và phương pháp phân tích chùm để xử
lý tập dữ liệu về thành phần axit béo của các mẫu rong đỏ
Từ 69 mẫu rong Đỏ chúng tôi đã xác định được 12 axit béo chính
yếu là C14:0, C15:0, C16:0, C16:1n-7, C18:0, C18:1n-9, C18:1n-7,
C18:2n-6, C20:3n-6, C20:4n-6, C20:5n-3 và C22:0. Các mẫu rong Đỏ phân
bố trên giản đồ 2 chiều như hình 4.1 trong đó thể hiện rõ rệt nhất là các họ
Gracilariaceae, Hypneaceae, Ceramiaceae.
Hình 4.1. Kết quả phân tích PCA của các loài rong Đỏ


Gra10
0.50

0.00

-0.50

Gra39

Gra11
Ban1

Gra35

Gra6
Gra25
Gra13
Gra3
Gra1
Gra40
Gra16
Gra41
Gra45
Gra46
Cer3
Gra14
Gra22
Gra43
Gra17

Gra33

Gra20

Cer2

GraNga

Hyp1
Hyp8
Hyp3

Hyp7

-2.00

Hyl2

Phy

-2.50
Gra15
-1.50

-1.00

-0.50

0.00


20

15

10

0

GraNga
Hyl2
Gra15
Ban2
Ban1
Gra11
Phy
Hyl1
Hal
Rho
Hyp2
Gra8
Hyp9
Hyp8
Hyp10
Gra34
Hyp3
Gra44
Hyp6
Hyp4
Hyp1
Hyp7

Gra24
Gra27
Gra19
Gra35
Gra18
Gra43
Gra20
Gra17
Gra12
Gra13
Gra16
Gra14
Gra22
Cer2
Cer1
Cer3
Cer4

5

Footer Page 17 of 148.

 


  15
 





 


  16
 



 
4.2.3. Khảo sát sự biến động và tích luỹ hàm lượng các axit béo,
prostaglandin trong quá trình sinh trưởng và phát triển của loài rong
câu Gracilaria vermiculophylla của Nga nuôi trong PTN ở Việt Nam.
4.2.2.1. Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của loài rong câu Gracilaria
vermiculophylla trong điều kiện phòng thí nghiệm
Kết quả nghiên cứu (bảng 4.7 và biểu đồ 4.3).

Header Page 19 of 148.

Biểu đồ 4.3. Tốc độ tăng sinh khối của rong Câu G. vermiculophylla
Kết quả khảo sát cho thấy rong có khả năng sống khi nuôi trong điều
kiện thí nghiệm với thời gian 5 tháng. Đặc biệt là trong 3 tháng đầu, tốc độ
tăng trọng đạt 1-3%/ngày, sau đó rong bị chết và ngừng sinh trưởng.
4.2.2.2. Khảo sát sự biến động hàm lượng lipit các axit béo trong quá trình
sinh trưởng và phát triển của rong câu G. vermiculophylla
Kết quả khảo sát (bảng 4.8) cho thấy, hàm lượng lipit tổng sau 5
tháng nuôi giảm dần từ 1,39% (mẫu M0, M1) xuống còn 0,55% (mẫu M5).
Các axit béo no hàm lượng tăng từ 33,68 lên đến 55,76% tổng axit
béo (tăng 60,4%). Hàm lượng các axit béo không no PUFA và omega-6
giảm tương ứng từ 49,41% và 46,34% xuống còn 15,91% tổng axit béo ở

4.3. Phân lập hoạt chất prostaglandin từ rong Đỏ

Header Page 20 of 148.

Phân lập các prostaglandin (PGE2, PGE3) theo sơ đồ hình 4.5.

Hình 4.5. Sơ đồ phân lập PG từ rong câu Gracilaria vermiculophylla
4.3.1. Phân lập PGE2 từ loài rong Câu Gracilaria vermiculophylla
4.3.1.1. Khảo sát các điều kiện phân lập PGE2.
Đã xác định điều kiện nghiền mẫu: bằng nitơ lỏng, thêm nước cất và
ủ trong các điều kiện tối ưu. Các thông số cho quá trình ủ để phân lập
PGE2: nhiệt độ 3-60C, pH 2-3, thời gian: 2h.
4.3.1.2. Tinh chế PGE2
Tách PGE2 trên cột silica gel với hệ dung môi etyl axetat:hexan:axit
axetic biến đổi gradient (30:70:2 – 50:50:2 – 70:30:2), thu được các phân
đoạn E1-E7. Tiếp tục tinh chế phân đoạn E6 bằng HPLC điều chế thu được
PGE2 ở phút thứ 39. Độ tinh sạch >90%.
4.3.1.3. Xác định cấu trúc hoá học của PGE2

Footer Page 20 of 148.

 


  18
 



 

11

2,70, ddd, 1.5, 7.5, 18.0
2,17, m
4,06, m

12

2,42, m

13
14
15

5,58, m
5,62, m
4,06, m
1,58, m
1,48, m
1,33, m
1,33 m
1,35 m
0,91, t, 7.5

10

16
17
18
19

14,3


 


  19
 

H-10, H-12
H-11, H-13,
H-8
H-12, H-14
H-13, H-15
H-14, H-16
H-15, H-17

H-16
H-19, H-20, H-17
H-20
H-19

Prostaglandin E2

Footer Page 21 of 148.

H-3
H-2, H-4
H-3, H-5
H-4, H-6

Hình 4.16. Phổ LCMS của PGE3
4.3.3. Bàn luận về sự chuyển hoá của axit béo họ eicosanoit thành các
prostaglandin bằng enzyme nội sinh từ rong Đỏ
Các kết quả nghiên cứu cho thấy mẫu rong Nga Gracilaria
vermiculophylla ngoài hàm lượng AA rất cao (33% tổng axit béo) còn chứa
một lượng đáng chú ý EPA (2,08% tổng axit béo). Đây là 2 tiền chất cho
quá trình sinh tổng hợp các prostaglandin có 2 và 3 nối đôi. Điều này là
nguyên nhân trực tiếp phát sinh PGE2 và PGE3 thu được trong quá trình
phân lập các hoạt chất từ mẫu rong này. Đây cũng là mẫu được xem như
một nguồn nguyên liệu tiềm năng cho việc thu nhận các prostaglandin.
4.4. Phân lập axit arachidonic từ loài rong Câu chỉ vàng Gracilaria
tenuistipitata
4.4.1. Quy trình phân lập axit arachidonic (hình 4.17)
4.4.2. Thuỷ phân lipit tổng
Quá trình thủy phân sử dụng KOH và dung môi là etanol. Điều kiện
tiến hành phản ứng thủy phân như sau: Thời gian 120 phút; Nồng độ cồn
70%; Nhiệt độ 750C. Hàm lượng AA sau khi thuỷ phân là 12,18%.

Footer Page 22 of 148.

 


  20
 


Header Page 23 of 148.



Header Page 24 of 148.

Bảng 4.14. Các dữ liệu phổ 1H, 13C, COSY and HMBC NMR của
1

STT

H
(δ, J in Hz)

COSY

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18


H-22

22

1,27

14,2

H-21

H-21

Footer Page 24 of 148.

 

etyl arachidonat
C
HMBC
(δ, ppm)
173,5
H-21; H-2; H-3
33,7
H-3, H-4
25,6
H-2, H-4, H-5
26,5
H-2, H-3, H-5
127,8



  22
 

H-3
H-2, H-4
H-3, H-5
H-4, H-6
H-5, H-7
H-6, H-8
H-7, H-9
H-8, H-10
H-9, H-11
H-10, H-12
H-13
H-12, H-14
H-13, H-15
H-14, H-16
H-15, H-17
H-16, H-18
H-19, H-20
H-18, H-20
H-19


Header Page 25 of 148.


 

PUFA/SFA và omega-3 / omega-6 cao, thích hợp làm chất bổ sung
dinh dưỡng (mẫu T29, N6, A3, A16, A17, T28), xứng đáng được
nghiên cứu kỹ lưỡng hơn để chọn ra các giống có tính chất ưu việt
cho thu hái và nuôi trồng.
3. Qua nghiên cứu việc hình thành tích luỹ lipit và axit béo ở các mẫu
đặc trưng cho họ, chi và loài của ngành rong Đỏ ở các vùng sinh thái
khác nhau rút ra kết luận sơ bộ: Sự hình thành và tích luỹ lipit và axit
béo của rong Đỏ chịu tác động không nhỏ của điều kiện tự nhiên như
vùng biển thu mẫu, dinh dưỡng, độ sâu mà rong phân bố và đặc biệt


 



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status