CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA DOANH
NGHIỆP
1.1
1.1.1
Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan
đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Có nhiều định nghĩa khác nhau về
văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ
năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống
kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn
hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, dân
gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,.... và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó
định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Một số khái niệm :
Theo nhà nhân chủng học E.B.Tylor đưa ra năm 1871: “ Văn hóa doanh nghiệp là
một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong
tục và toàn bộ những kỹ năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của
một xã hội”[1] . Theo khái niệm này, văn hóa bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến
đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật … đây chính
là các lĩnh vực sáng tạo của con người.
Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo
nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật
chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng,
vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn
cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống,
tín ngưỡng…”[2]; Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “ Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu
trưng ( ký hiệu) chi phối cách ứng xư và gia tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc
thù riêng”[3].
được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, từ đó xuất hiện nhiều khái niệm khác nhau, thông
qua việc tìm hiểu các khái niệm này ta có thể hiểu về văn hóa doanh nghiệp một cách toàn
diện nhất:
2
Theo Georges de Saite Mairie chuyên gia Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ “ văn hóa
doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kị, các
quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”[ 6]. Khái niệm
này đã nêu ra tương đối đầy đủ các đặc điểm và thành tố cấu thành lên văn hóa doanh
nghiệp, tuy nhiên khái niệm này vẫn còn chưa đề cập đầy đủ vì văn hóa doanh nghiệp là tất
cả các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Theo tổ chức lao động quốc tế ( ILO): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt
các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà
toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”[7].
Theo quan điểm của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “Văn hóa doanh
nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong
quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”[7]
Theo quan điểm của hai học giả là Rolff Bergman và Ian Stagg đồng thời là
giảng viên của khoa quản trị kinh doanh trường đại học Monash - Úc cho rằng: “Văn
hoá doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa biểu đạt chung bao trùm lên toàn bộ doanh
nghiệp, có tính chất quyết định tới mọi hành vi và hoạt động của toàn bộ các thành
viên trong doanh nghiệp đó”[8].
Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp nhưng thông qua
một số cách hiểu trên ta có thể rút ra một khái niệm khái quát về văn hóa doanh nghiệp như
sau:
“ Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt
quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp; Là một hệ thống những ý nghĩa, giá
trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh
của chúng trong phòng vệ sinh…tất cả đều được thiết kế sao cho tiện ích dễ sử dụng, tạo ấn
tượng thân quen thể hiện thiện trí và sự quan tâm.
Nghi lễ, nghi thức: Đó là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ
lưỡng dưới hình thức các hoạt động, sự kiện văn hóa-xã hội chính thức, nghiêm trang, tình
cảm được tổ chức định kỳ hay bất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ trong doanh nghiệp,
giới thiệu về những giá trị được doanh nghiệp coi trọng và thường được tổ chức vì lợi ích của
những người tham dự. Có bốn loại nghi lễ cơ bản: Nghi lễ chuyển giao (khai mạc, bổ nhiệm
thành viên mới chức vụ mới, lễ ra mắt…), nghi lễ củng cố (phát phần thưởng, tuyên dương
4
trong các cuộc thi lao động giỏi…), Nghi lễ nhắc nhở (sinh hoạt văn hóa, chuyên môn, khoa
học…), nghi lễ liên kết (lễ hội, liên hoan, giao lưu văn nghệ, thể thao, tổ chức sự kiện…).
Biểu tượng: Là một thứ gì đó, biểu thị một cái gì đó không phải là chính nó và có tác
dụng giúp cho mọi người nhận ra hay hiểu được thứ mà nó biểu thị. Các công trình kiến trúc,
lễ nghi, giá thoại, khẩu hiệu đều chứa đựng những đặc trưng của biểu tượng, bởi thông qua
những giá trị vật chất, cụ thể, hữu hình, các biểu trưng này đều muốn truyền đạt những giá
trị, ý nghĩa tiềm ẩn bên trong. Một biểu tượng khác là logo hay một tác phẩm sáng tạo được
thiết kế để thể hiện về hình tượng của một tổ chức, một doanh nghiệp bằng ngôn ngữ nghệ
thuật phổ thông. Các biểu tượng vật chất này thường có sức mạnh rất lớn vì chúng hướng sự
chú ý của người thấy nó vào một vài chi tiết hay điểm nhấn cụ thể có thể diễn đạt được
những giá trị chủ đạo mà tổ chức doanh nghiệp muốn tạo ấn tượng, lưu lại hay truyền đạt cho
người thấy nó.
Mẩu chuyện, giai thoại, tấm gương điển hình: Đây chính là các bài học kinh nghiệp
hay minh họa điển hình, mẫu mực, dễ hiểu về văn hóa doanh nghiệp được rút ra từ việc thực
hiện thành công hay thất bại một giá trị, triết lý. Mẩu chuyện là những câu chuyện thường
được thêu dệt từ những sự kiện có thực điển hình về những giá trị, triết lý của văn hóa doanh
nghiệp được các nhân viên trong doanh nghiệp thường xuyên nhắc lại và phổ biến những
nhân viên mới. Một số mẩu truyện gắn với sự kiện mang tính lịch sử và có thể khái quát hóa
trong những hoàn cảnh nhất định. Ở các doanh nghiệp luôn đánh giá cao tính trung thực,
nhất quán và sự cởi mở, nhân viên luôn hiểu rằng họ cần hành động một cách thật thà, kiên
định và thẳng thắn.
Thái độ: Thái độ được định nghĩa là một thói quant ư duy theo kinh nghiệp để phản
ứng theo một cách thức nhất quán thể hiện sự mong muốn hoặc không mong muốn đối với
sự vật, hiện tượng. Thái độ được hình thành theo thời gian từ sự tiếp thu, phân tích những giá
trị của văn hóa doanh nghiệp và trên cơ sở những giá trị và triết lý đã được nhận thức. Thái
độ của con người bị ảnh hưởng từ cảm giác và tình cảm, chúng tương đối ổn định và có
những ảnh hưởng nhất định tới hành động.
Niềm tin : Niềm tin là đề cập đến mọi người cho rằng làm thế nào là đúng, làm thế
nào là sai; là giá trị được hình thành một cách bững chắc về một cách thức hành động hay
6
trạng thái nhất định.Thực tế, khái niệm đúng-sai rất khó tách rời vì trong niềm tin luôn chứa
đựng các giá trị và triết lý đã nhận thức, nhưng mức đệ nhận thức phát triển ở mức độ cao
hơn. Khi nhận thức ở cấp độ niềm tin, con người luôn có xu thế hành động một cách chủ
động, tự nguyện,; bộc lộ trạng thái tình cảm thông qua sự tự giác và sự nhiệt tình trong hành
động.
Lý tưởng/ Sứ mệnh: Lý tưởng được định nghĩa là sự vận dụng lý luận vào thực tiễn. Ở
mức độ nhận thức này, trạng thái tình cảm của con người không chỉ là sự tự giác và lòng
nhiệt tình, mà hơn thế nữa còn là sự sẵn sang hy sinh và cống hiến. Lý tưởng tác động mạnh
mẽ đến hành động, tình cảm của nhân viên, tạo ra động lực và những hành động cụ thể thể
hiện sự cảm thông, chia sẻ và cống hiến.
Giá trị, niềm tin, thái độ hay lý tưởng đều được hình thành trong quá trình phát triển
của doanh nghiệp. Theo thời gian chúng được các thành viên chấp nhận và có ảnh hưởng sâu
sắc đến việc tình cảm, cảm xúc và hành vi của từng người. Là một trong các giá trị văn hóa
mà doanh nghiệp quan tâm.
Triết lý kinh doanh và cam kết hành động: Triết lý kinh doanh là những giá trị cốt lõi
mà một doanh nghiệp luôn hướng tới và đảm bảo để nó được thực hiện một cách tốt nhất.
cho doanh nghiệp. Bởi bì khi văn hóa doanh nghiệp mạnh sẽ tạo ra niềm tự hào của nhân
viên về doanh nghiệp, từ đó mọi người luôn sống, phấn đấu và chiến đấu hết mình vì mục
tiêu chung của doanh nghiệp một cách tự nguyện, giúp cho Lãnh đạo dễ dàng hơn trong công
việc quản lý công ty, giúp cho nhân viên thoải mái và chủ động hơn trong việc định hướng
cách nghĩ và cách làm của mình, từ đó tạo ra sự thống nhất, giảm thiểu rủi ro, tăng cường sự
phối hợp và giám sát, thúc đẩy động cơ làm việc của mọi thành viên, tăng hiệu suất và hiểu
quả trong thực hiện công việc, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đặc biệt là
từ nửa sau thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, giao lưu hàng hóa trên phạm vi toàn cầu đã trở
nên phổ biến, việc áp dụng ISO đã trở nên thông lệ quốc tế, chất lượng không còn là công cụ
tạo ra lợi thế cạnh hiệu quả mà là trở thành điều kiện cần thiết để có thể tham gia thị trường
toàn cầu. Để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thời kỳ này, buộc các doanh nghiệp của Việt Nam
phải cạnh tranh bằng vốn tri thức, bằng tài nguyên của con người, và một công cụ quản lý
mới chính là : Văn hóa doanh nghiệp. Việc xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp làm
nền tảng gắn kết, thu hút, lôi kéo nhân tài trong và ngoài doanh nghiệp, tạo ra một môi
trường làm việc tốt với đời sống văn hóa cao tạo điều kiện cho nâng cao năng lực cá nhân,
tạo động lực, thúc đẩy lòng nhiệt huyết, tính tự giác, sáng tạo và gắn kết các tư tưởng cá
nhân vào hệ tư tưởng của tập thể.
8
Thứ hai: Tạo ra bản sắc riêng cho doanh nghiệp.
Việc xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp khẳng định
được tên tuổi của mình trên thương trường, in đậm hình ảnh doanh nghiệp trong tâm trí của
khách hàng, tạo sự nhận biết, phân biệt đối với các doanh nghiệp khác. Bản sắc đó được thể
hiện thông qua các giá trị tài sản vô hình như: sự trung thành của mỗi nhân viên, bầu không
khí làm việc của doanh nghiệp như gia đình thứ hai, tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt huyết
của nhân viên từ đó đẩy nhanh tiến độ trong thảo luận và ra quyết định, sự tin tưởng vào các
quyết định, chính sách của doanh nghiệp… Mặt khác thông qua các yếu tố hữu hình như:
kiến trúc, nghi lễ, biểu tượng logo, bao bì, mẫu mã sản phẩm,… tạo nên sự nhận biết, cái
riêng của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng.
lòng tin với khách hàng và các đối tác kinh doanh.
Thứ sáu: Văn hóa doanh nghiệp quyết định sự trường tồn của doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp di truyền, bảo tồn cái bản sắc của doanh nghiệp qua nhiều thế
hệ thành viên, tạo ra khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp, truyền tải ý thức,
giá trị của tổ chức tới các thành viên trong tổ chức đó,văn hoá tạo nên một cam kết chung vì
mục tiêu và giá trị của tổ chức, nó lớn hơn lợi ích của từng cá nhân trong tổ chức đó, văn
hoá tạo nên sự ổn định của tổ chức, cụ thể là, văn hóa doanh nghiệp giúp ta: giảm xung đột,
điều phối và kiểm soát, tạo động lực làm việc, tạo lợi thế cạnh tranh… thông qua việc nêu
cao tinh thần làm việc tập thể vì sự thành công của tập thể.
1.2.3
Mối quan hệ giữa văn hóa doanh nghiệp với văn hóa kinh doanh và
văn hóa dân tộc
Doanh nghiệp được hình thành nên từ một tập hợp các cá thể riêng biệt, chính vì
vậy mà khi tìm hiểu về thực trạng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam nói chung hoặc một
doanh nghiệp nói riêng không thể không xem xét các nguồn đầu vào của văn hóa doanh
nghiệp, trong đó phải kể đến nguồn từ văn hóa dân tộc, văn hóa vùng, văn hóa cá nhân và
đặc biệt là văn hóa của người đứng đầu tổ chức.
Trước hết văn hóa doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất sâu đậm bởi văn hóa dân tộc,
đây là lý do vì sao có sự khác biệt giữ văn hóa doanh nghiệp các nước phương Tây và các
10
doanh nghiệp châu Á. Văn hóa doanh nghiệp kế thừa những đặc trưng của văn hóa dân
tộc, là một phần quan trọng của văn hóa dân tộc được lưu truyền, kế thừa và bồi đắp qua
các thế hệ, được gìn giữ và bảo tồn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Bênh cạnh đó văn hóa doanh nghiệp nước ta có sự tiếp
thu, học hỏi những nét văn hóa hay, hiện đại của các nền kinh tế hàng hóa trên thế giới,
từ đó tạo nên bản sắc văn hóa doanh nghiệp Việt Nam vừa mang tính truyền thống lâu
Thứ nhất, sự đối lập giữ chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể: Trong những
nền văn hóa mà chủ nghĩa cá nhân được coi trọng thì quan niệm cá nhân hành động vì lợi
ích của bản thân họ hoặc những người thân của họ rất phổ biến. Nền văn hóa mà chủ
nghĩa tập thể được coi trọng thì quan niệm việc thỏa mãn lợi ích của các cá nhân được
thực hiện thông qua việc đạt được lợi ích của tổ chức, hay cá nhân phải hành động theo
lợi ích của tổ chức và tổ chức chăm lo lợi ích của cá nhân. Trong thời buổi hiện nay thì
hai quan niệm được thừa nhận ở mọi tổ chức, và nhiệm vụ của người lãnh đạo là tạo ra
một môi trường làm việc có thể dung hòa hệ tư tưởng cá nhân theo một trật tự hướng tới
lợi ích của công ty.
Thứ hai, sự phân cấp quyền lực: Đây là một thực tế tất yếu bởi các cá thể trong xã
hội không thể có sự tương đồng về thể chất, trí tuệ và năng lực. Biểu hiện của sự phân
cấp quyển lực trong một quốc gia là sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân, quan
niệm về sự phân hóa giai cấp, mức độ phụ thuộc giữa các mối quan hệ cha me- con cái,
thầy- trò, lãnh đạo- nhân viên,… trong một công ty được biểu hiện qua biểu tượng của
địa vị, mức thu nhập, vị trí công tác, khối lượng công việc, trách nhiệm được giao… sự
phân cấp quyền lực càng cao thì phạm vi quyền lợi và trách nhiệm càng rõ ràng, cụ thể.
Thứ ba, quan niệm về nam quyền và nữ quyền: trong hầu hết các nền văn hóa thì
vai trò của giới tính luôn rất được coi trọng, sự phân chia trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền
lợi đối với nam và nữ ăn sâu vào trong tiềm thức hàng ngàn năm. Chính vì vậy văn hóa
doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng từ hệ tư tưởng này, và để tạo ra sự bình đẳng nam và
nữ trong doanh nghiệp thì việc phát triển văn hóa phải tuân thủ những quy định trong luật
bình đẳng giới và tạo ra môi trường thi đua công bằng giữa các cá nhân.
Thứ tư, cách thứ xây dựng mối quan hệ: điều này thể hiện khá rõ nét trong cách
thức ký kết hợp đồng của người phương Tây và người phương Đông. Bởi vì người
phương Đông luôn muốn ký kết hợp đồng trong bàn tiệc còn người phương Tây là ở văn
phòng. Do tư duy người phương tây mang tính phân tích hơn, trìu tượng hơn, giàu tính
tưởng tưởng hơn nên khi xem xét công việc họ khá chú trọng đến lợi ích cá nhân họ
nhân được. Trong khi đó người phương Đông lại có tư duy tổng hợp hơn, thiên về tình
cảm và trực giác hơn nên chú trọng tới không gian làm việc tạo ra sự thoải mái và đề cao
12
kích thích sáng tạo và đổi mới các giá trị văn hóa kinh doanh của dân tộc.. Bản thân doanh
13
nghiệp phải biết cập nhật, học hỏi, chọn lọc tiếp thu phương châm hoạt động, kinh doanh
mới tiến bộ, phù hợp.
e) Lịch sử hình thành doanh nghiệp
Đây là một trong các yếu tố cốt lõi có vai trò quyết định tới việc xây dựng và phát
triển văn hóa doanh nghiệp, là nền tảng cho sự hình thành và phát triển văn hóa doanh
nghiệp. Lịch sử hình thành của doanh nghiệp là một quá trình lâu dài của sự nỗ lực xây dựng
và vun đắp cho doanh nghiệp, là niềm tự hào cho các nhân viên trong doanh nghiệp. Thực tế
cho thấy, những doanh nghiệp có lịch sử phát triển lâu đời và bề dày truyền thống thương
khó thay đổi về tổ chức hơn là các doanh nghiệp mới, non trẻ, chưa định hình rõ phong cách
hay đặc trưng văn hóa. Những truyền thống, tập quán, nhân tố văn hóa đã định hình và xuất
hiện trong lịch sử vừa là chỗ dựa, những cũng có thể trở thành những rào cản tâm lý không
dễ vượt qua trong xây dựng và phat triển những đặc trưng văn hóa mới.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG TY TNHH GIẢI PHÁP
PHẦN MỀM CMC TRONG GIẠN ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Giới thiệu khái quát về công ty TNHH giải pháp phần mềm CMC
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Cổ phần Giải pháp phần mềm CMC ( CMCSoft) là một thành viên của CMC
Group – một trong những tập đoàn ICT lớn của Việt Nam
1996, Trung tâm phát triển phần mềm CMCSoft – tiền thân của Công ty Giải pháp
phần mềm CMC ngày nay, được thành lập với mục tiêu trở thành một đơn vị kinh doanh
chiến lược của CMC Group. Ngay từ những ngày đầu thành lập, CMCSoft đã tập trung vào
việc phát triển phần mềm dành cho doanh nghiệp và chính phủ.
Năm 1997, Phòng Hệ thống và phần mềm CMC đổi tên thành Trung tâm phát triển
phần mềm của CMC đồng thời cho ra đời Docman – phần mềm quản lý văn bản và luồng
trong lĩnh vực CNTT và truyền thông.
-
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của công ty
Chức năng:
Công ty TNHH giải pháp phần mềm CMC là đơn vị kinh tế độc lập, thực hiện
chức năng sản xuất trong lĩnh vực sản xuất phần mềm và dịch vụ công nghệ thông
tin phụ vụ lĩnh vực quản lý hệ thống thông tin Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Giáo
15
dục, Chính phủ… góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Bao gồm:
•
Sản xuất, kinh doanh phần mềm đóng gói và cung cấp các dịch vụ theo
sản phẩm đóng gói.
•
Cung cấp giải pháp và dịch vụ phần mềm trong lĩnh vực Tài Chính,
Bảo Hiểm, Ngân hàng, Viễn thông, Quản lý Thư viện, Chính phủ và Doanh nghiệp.
•
Tư vấn và triển khai các ứng dụng ERP, Business Intelligence, Billing,
…
•
•
-
Kinh doanh cung cấp dịch vụ gia công phần mềm.
Kinh doanh cung cấp các thiết bị, phần mềm đặc thù và chuyên dụng.
doanh
GĐ Công nghệ
GĐ Chi nhánh
SG
Marketing
eDocman
Tổ chức-Nhân
sự
Phòng gia công phần
mềm-OSDC
IU
Kế toán- kiểm
toán
ILib
Chất lượng
FIS
Phòng giải pháp
phần mềm-CSS
Hành chính
động.
+ Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho vật tư, các thiết bị phụ trợ, xây dựng các hướng
•
dẫn thực hiện, kiểm tra chất lượng xây lắp, tổ chức kiểm tra và nghiệm thu công trình.
+ Quy hoạch thiết kế, triển khai các ứng dụng CNTT với các thị trường.
Khối kinh doanh:
+ Tiếp nhận và sử lý các đơn hàng gia công
+ Tổng hợp phân tích đánh giá tình hình kinh doanh của công ty và các thị trường đưa
ra khuyến nghị.
+ Truyền thông nội bộ, bên ngoài. Xây dựng thương hiệu tổ chức các sự kiện của
công ty.
Thông qua mô hình tổ chức của công ty ta có thể thấy rằng, công ty chưa có phòng
ban chuyên phụ trách nghiên cứu thị trường và triển khai các hoạt động tại các thị trường.
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh của Công ty
•
Phát triển phần mềm đóng gói và cung cấp các dịch vụ theo sản phẩm
đóng gói.
Cung cấp giải pháp và dịch vụ phần mềm trong lĩnh vực Tài Chính,
•
Bảo Hiểm, Ngân hàng, Viễn thông, Quản lý Thư viện, Chính phủ và Doanh nghiệp.
•
Tư vấn và triển khai các ứng dụng ERP, Business Intelligence, Billing,
…
Dịch vụ gia công phần mềm.
Cung cấp các thiết bị, phần mềm đặc thù và chuyên dụng.
18
và
T
ỷ
lệ(%)
Số
tiền
T
ỷ
lệ(%)
Doanh
thu
95.
8
86.
-
hàng bán
167,361
Lợi
nhuận
quản
thuần từ hoạt động
kinh doanh
Lợi
nhuận
sau thuế
000,58
1.0
97,783
17,69
140,574
485,512
119,161
39,371
804,442
1.1
1.
16.
,037
3.040,45
1
-
9
136,16
683,445
1.8
1.
3,47
-
thuần bán hàng
405,16
9.176,61
Giá
vốn
73.
7.8
,79
99,409
50,56
3
( Nguồn : Phòng kế toán – kiểm toán )
Nhận xét: Thông qua bảng số liệu, có thể thấy rằng kết quả kinh doanh của công ty đã
có những thay đổi trong 3 năm qua.
•
Doanh thu của 3 năm giảm dần, doanh thu năm 2011 giảm 6.228,55
triệu đồng chỉ chiếm 93,47% so với doanh thu năm 2010. Còn năm 2012 tiếp tục
giảm so với năm 2011 số tiền là 3.040,45triệu đồng chỉ chiếm 96,59%.
•
Về lợi nhuận sau thuế của công ty trong 3 năm qua có sự biến động rõ
rệt. Cụ thể như năm 2011 mức lợi nhuận đạt được là quá thấp chỉ đạt 839,371 triệu
đồng , so với năm 2010 đã giảm đi 11.524,763 triệu đồng chỉ bằng 6,79% so với lợi
nhuận sau thuế năm 2010. Tuy nhiên năm 2012 công ty đã ngay lập tức có sự thay đổi
như giảm mạnh chi phí tài chính xuống chỉ còn là 1.685,176 triệu đồng, chỉ bằng
62,8% so với năm 2011, đồng thời đầu tư tăng thêm vào chi phí bán hàng thêm
117,11 triệu đồng bằng 111,7% so với 2011 đã khiến lợi nhuận sau thuế của công ty
tăng thêm 7.899,409 triệu đồng bằng 950,56% so với năm 2011, điều này cho ta thấy
19
6
Công ty TNHH giải pháp phần mềm CMC được thành lập và đi vào hoạt
động với tiền thân là trung tâm phát triển phầm mềm CMC từ năm 1996. Từ đó
tới nay công ty đã thu được nhiều thành tựu đáng kể như: Top 2 Công ty phần
mềm hàng đầu Việt Nam ( bình trọn của HCA liên tục từ năm 2007- năm 2011);
Sản phẩm ATTT được yêu thích ( bình chọn của VNISA năm 2010), mặt khác
công ty còn dẫn đầu thị trường phần mềm đóng gói trong lĩnh vực giáo dục, quản
lý thông tin doanh nghiệp ( chiếm khoảng 40% thị phần so với các sản phẩm cùng
loại) và là một trong số ít doanh nghiệp Việt Nam có năng lực mạnh trong tự
nghiên cứu và phát triển phần mềm đóng gói, doanh số và thị phần cùng với số
lượng lao động luôn ổn định và không ngừng tăng lên, đời sống vật chất và tinh
thần của cán bộ công nhân viên không ngừng được nâng cao. Có được như ngày
hôm nay, ngay từ khi thành lập, lãnh đạo công ty TNHH giải pháp phần mềm
CMC luôn đề cao sự quan tâm việc xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp
cho mình bên cạnh việc đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.2.1 Các nhân tố truyền thống
Toàn bộ cán bộ nhân viên của Công ty CMCSoft được làm việc tại tòa nhà CMC 19
tầng có tiêu chuẩn hạng A về không gian và trang thiết bị làm việc, với nhiều tiện ích văn
phòng mang tính ứng dụng công nghệ cao. Từ vị trí kiến trúc, cách trang trí nội ngoại thất
đều hướng tới sự tiện nghi hiện đại, mang lại cảm giác thoải mái cho khách hàng, đối tác và
nhân viên. Bên cạnh đó công ty đã xây dựng cho mình một biểu trưng, biểu tượng thương
hiệu(logo), khẩu hiệu( slogan), tầm nhìn, sứ mệnh, triết lý kinh doanh, cam kết hành động.
Ngoài ra công ty đã và đang rất nỗ lực xây dựng và phát triển một nền văn hóa doanh
nghiệp vững mạnh. Đối với các nhân viên mới, điều đầu tiên không phải là nhận một công
20
việc mà họ phải được giới thiệu, cung cấp thông tin về các hoạt động, hệ tư tưởng, nền tảng,
nguyên tắc, qui định, triết lý, chiến lược kinh doanh của công ty, con người cũng như phong
cách ứng xử trong doanh nghiệp để mỗi thành viên đều có thể hòa đồng nhanh chóng, nắm rõ
nhiệt tình của tất cả các thành viên trong công ty. Các đội văn nghệ và đội bóng đá được
thành lập, duy trì hoạt động thường xuyên nhằm mong muốn tạo sân chơi bổ ích cho các
thành viên công ty thư giãn sau giờ làm. Các hoạt động ngoài khóa mới đây như chương
trình “ Đón xuân trao niềm hi vọng” lần thứ 6-2013 do CMCSoft và Viện Huyết học &
Truyền máu TW đã thu hút được rất nhiều các anh chị em CMCSoft cũng như các thành viên
công ty khách trong tập đoàn CMC tham gia hiến máu nhân đạo, có thể nói đây là một trong
những chương trình thường niên khá thành công và mang lại nhiêu giá trị nhân văn của công
ty. đã trở thành các hoạt động thường niên của công ty. Các hoạt động giao lưu văn nghệ, thể
dục thể thao như : Ngày phái đẹp nên ngôi 8-3, Merry Christmas and Happy New Year 2013
to CMCSoft’s Fans ( chào giáng sinh và năm mới 2013 cho thành viên CMCSoft), Đón noel
ở xứ CMCSoft, … tuy là một phần rất nhỏ trong văn hóa doanh nghiệp những nó góp phần
tạo nên một tinh thần làm việc hăng say, sự đoàn kết của cán bộ nhân viên.
2.2.2 Giá trị văn hóa cốt lõi
Bên cạnh các giá trị truyền thống đã đi vào nề nếp, đề đạt được những thành công như
ngày hôm nay CMCSoft đã không ngừng học hỏi các giá trị tốt đẹp của các doanh nghiệp
thành công ở trong và ngoài nước, không ngừng nhắc nhở bản thân công ty luôn quan tâm
đới hệ tư tưởng của các thành viên trong công ty, tạo ra sự thống nhất trong quan điểm làm
việc. Đó là:
Thứ nhất, tính kỷ luật: tính kỷ luật đã được nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra là một trong
những điểm mấu chốt để một Công ty “ tốt” trở thành một Công ty “vĩ đại” có những bước
nhảy vọt. ở CMCSoft, trong một môi trường làm việc hiện đại thì tính kỷ luật luôn được
công ty quan tâm. Điều này giúp công ty dễ dàng hơn trong quản lý và phát triển mở rộng
quy mô, đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống.
Thứ hai, tính đoàn kết: Ở CMCSoft, việc giữ gìn sự đoàn kết luôn được quan tâm đặt
lên hàng đầu, CMCSoft quan niệm để có thể hoàn thành bất cứ công việc gì thì giữa các
thành viên phải luôn hòa đồng đoàn kết một lòng, xây dựng Công ty trở thành ngôi nhà thứ 2
22
phòng Bộ Y tế, Ngân hàng Techcombank, Ngân hàng Quân đội,… và gần đây nhất CMCSoft
trúng thầu “ Xây dựng phần mềm tổng hợp thông tin tính chỉ số ICT Index”- bộ tài chính và
cuối năm 2012 đầu năm 2013. Có thể “ cách làm nhanh” đang giúp CMCSoft đạt nhiều
thành công.
Thứ sáu, triệt để: Không triệt để dễ tạo ra thói quen. Làm việc triệt để giúp CMCSoft
giải quyết vấn đề đến gốc và rút ra kinh nghiệm từ đó. Công ty quan niệm khi đã nhất trí làm
một công việc thì không làm nửa vời, đã quyết là sẽ làm đến cùng., bởi nếu không làm đến
cùng sẽ phí phạm tài nguyên và công sức.
2.3
Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tới việc phát triển văn hóa doanh
nghiệp tại Công ty TNHH giải pháp phần mềm CMC
2.3.1 Nhân tố môi trường bên ngoài
2.3.1.1 Văn hóa dân tộc
Văn hóa Việt Nam mang đậm chất văn hóa Á Đông coi trọng truyền thống gia đình,
trung- lễ- nghĩa- trí- tín, chuộng sự hài hòa, tinh thần cầu thực, ý chí phấn đấu tự lực, tự
cường, coi trọng tình đoàn kết, đề cao giá trị cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau lá lành đùm lá
rách,... đây chính là những nét dẹp văn hóa mà Công ty cần học hỏi, chắt lọc để xây dựng và
phát triển văn hóa doanh nghiệp mang bản sắc Việt Nam trong thời hiện đại. Những lời cha
ông ta để lại, nền văn hiến hàng ngàn năm đã ăn sâu vào tâm trí mỗi con người Việt Nam, từ
đó ảnh hưởng tới văn hóa doanh nghiệp Công ty, văn hóa dân tộc tạo nên chất keo kết dính
các thành viên trong công ty, hoạt động theo tiêu chí đoàn kết thống nhất hơn là nhấn mạnh
vào sự ganh đua để tạo ra hiệu quả; chọn công việc trọng về tình cảm, sự tôn trọng hơn là vì
lương, thu nhập; nhanh nhẹn tháo vát thích ứng tốt trước những thay đổi của môi trường;
dùng tình cảm để hòa giải, giải quyết các mâu thuẫn nội bộ; giúp đỡ lẫn nhau, các thành viên
mới, các thành viên khó khăn trong doanh nghiệp tạo nên môi trường làm việc thân thiện,
bình đẳng, tôn trọng cấp trên, đồng nghiệp, nghiêm chỉnh chỉnh chấp hành nội quy của doanh
luôn gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ cùng ngành, CMCSoft cũng không nằm
ngoài trong số đó. Bởi vậy để tăng cường khả năng cạnh tranh với các đối thủ Công ty buộc
phải thay đổi, thích nghi, học hỏi và chắt lọc các nét văn hóa tốt đẹp nhằm tạo nên các điểm
nhấn khác biệt thu hút sự chú ý của khách hàng đến với công ty.
2.3.2 Nhân tố môi trường bên trong
2.3.2.1 Bộ phận lãnh đạo công ty
25