Luận văn Thạc sỹ Khoa học Giáo dục Những giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An - Pdf 41

Header Page 1 of 16.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN TRUNG DŨNG

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH - 2009

Footer Page 1 of 16.


Header Page 2 of 16.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN TRUNG DŨNG

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PPDH BỘ MÔN GIÁO DỤC
CHÍNH TRỊ

Tác giả
Nguyễn Trung Dũng

Footer Page 3 of 16.


Header Page 4 of 16.

QUY ĐỊNH CHỮ VIẾT TẮT

Footer Page 4 of 16.

CĐYT

Cao đẳng Y tế

CBYT

Cán bộ y tế

CNH, HĐH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

KTTT

Kinh tế thị trường

SV


7. Kết cấu đề tài .................................................................................................. 4
B. NỘI DUNG ................................................................................................... 5
Chương 1. Cơ sở lý luận của công tác giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An ............ 5
1.1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Trường Cao đẳmg Y tế Nghệ An ............................................................... 5
1.2. Vai trò của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp đối với sinh viên
ngành Y .................................................................................................... 23
Kết luận chương 1 ............................................................................................ 29
Chương 2. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An hiện nay .............. 30
2.1. Sơ lược vài nét về Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An. ................................ 30
2.2. Thực trạng nhận thức đạo đức nghề nghiệp của sinh viên Trường
Cao đẳng Y tế Nghệ An hiện nay. ............................................................ 33
2.3. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An hiện nay................................................ 43
Kết luận chương 2 ............................................................................................ 51

Footer Page 5 of 16.


Header Page 6 of 16.

Chương 3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Y
tế Nghệ An .................................................................................. 52
3.1. Đổi mới nội dung, biện pháp tổ chức thực hiện công tác giáo dục
chính trị - tư tưởng theo hướng gắn liền với đặc thù của ngành Y. ......... 53
3.2. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp thông qua giảng dạy các môn học. ......... 54
3.3. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp thông qua thực tập thực tế lâm sàng

công tác giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt là SV, nhưng hiệu quả của
công tác này chưa cao. Nhiều nội dung kiến thức trong chương trình còn chung
chung mang nặng tính hàn lâm, thiếu sự hướng dẫn kỹ năng cụ thể và nặng về lý
thuyết. SV còn thụ động trước kiến thức khô khan, không có điều kiện tham gia
các hoạt động ngoại khoá, hoạt động cộng đồng để có những môi trường rèn
luyện, thử thách tốt hơn. Trong các trường chuyên nghiệp, việc giảng dạy, giáo
dục đạo đức nghề nghiệp còn mang nặng tính lý thuyết, thiếu các biện pháp,
hình thức phong phú, sôi động hấp dẫn khuyến khích SV tham gia vào những
sân chơi tập thể lành mạnh, các hoạt động nói chung còn mang tính hình thức,
đối phó, hiệu quả không cao.
Thực trạng đạo đức SV hiện nay nổi cộm nhiều vấn đề đáng lo ngại. Một
bộ phận chạy theo lối sống thực dụng, đua đòi, sa vào tệ nạn xã hội, thiếu bản
lĩnh, bàng quan với thời cuộc, thờ ơ trước cái thiện, vô cảm trước cái ác, thiếu
kỹ năng sống và ứng xử có trách nhiệm trong các mối quan hệ xã hội.
SV ngành Y tế, những người làm nhiệm vụ cứu giúp người bệnh trong
tương lai, hơn ai hết phải là người được rèn luyện về đạo đức nói chung và đạo
đức nghề nghiệp nói riêng, theo 12 điều y đức mà Bộ Y tế quy định.

Footer Page 7 of 16.


Header Page 8 of 16.

2
Vì vậy, vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành Y đang được
các trường đại học và cao đẳng chuyên ngành Y quan tâm chú ý. Trong mối
quan hệ đó, để từng bước nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho SV ngành Y, tôi đã chọn đề tài: “Những giải pháp cơ bản nâng cao
hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế
Nghệ An”.

Tác giả Nguyễn Thị Minh Chiến, công tác tại khoa Hoá học Trường
Đại Sư phạm Hà Nội có bài viết: “Giáo dục đạo đức cho học sinh”. Bài viết
này đã đề cao sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã
hội.
Nhìn chung các tác giả của công trình trên đã đưa ra các biện pháp khá
phong phú, đa dạng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức cho
SV hiện nay. Tuy nhiên, trong lĩnh vực giáo dục đạo đức ở Trường CĐYT Nghệ
An chưa có công trình nào đi sâu khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu và đề ra những
giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho SV ngành Y. Vì vậy, với tư cách là người giáo viên làm
nhiệm vụ giáo dục chính trị, đạo đức cho SV và cán bộ quản lý ở phòng công tác
chính trị học sinh - sinh viên của nhà trường, chúng tôi lựa chọn vấn đề nghiên
cứu này để mong kết quả sẽ góp phần thiết thực phục vụ cho công tác giảng dạy,
nghiên cứu và quản lý SV tại Trường CĐYT Nghệ An.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích:
Nghiên cứu những nội dung cơ bản đạo đức nghề nghiệp của nghề thầy
thuốc và đề ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho SV Trường CĐYT Nghệ An.
b. Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp của
SV ngành Y.
- Tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV tại
Trường CĐYT Nghệ An.

Footer Page 9 of 16.


Header Page 10 of 16.


Header Page 11 of 16.

5

Footer Page 11 of 16.


Header Page 12 of 16.

6

B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NGHỆ AN
1.1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Đạo đức
Đạo đức là một phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi
bình minh của lịch sử xã hội loài người. Trải qua quá trình phát triển của lịch sử,
qua các chế độ xã hội khác nhau, đạo đức ngày càng được hoàn thiện. Khi nói
đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện những mối quan hệ
nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Ở Phương
Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm
được biểu hiện trong quan niệm về đạo đức của họ. Đạo đức là một phạm trù
quan trọng nhất trong triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường,
đường đi, đạo còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội, là đạo
nghĩa. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính. Như vậy, đạo đức được hiểu là
các nguyên tắc luận lý thể hiện đạo nghĩa của quan hệ giữa người với người

Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông… đến những thầy thuốc nổi tiếng thời hiện đại
như Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Hoàng Đắc Trí… F. Ăng-ghen đã từng
viết: “Trong thực tế mỗi giai cấp và đến cả mỗi nghề nghiệp đều có luân lý
riêng của nó” [15, tr 298 - 299].
Đào tạo nghề nghiệp được hiểu là toàn bộ các quá trình học tập của con
người và những tích luỹ của cá nhân về kiến thức, kỹ xảo và các đặc điểm tâm
lý. Ngoài ra, đào tạo nghề nghiệp được hiểu là toàn bộ các hoạt động, được
triển khai theo cá nhân hay tập thể, một cách ngẫu nhiên hay có tổ chức. Đào
tạo nghề nghiệp được tiến hành thông qua các hình thức sau: Dạy nghề, hoàn
thiện nghề nghiệp, chuyên môn hóa nghề nghiệp, đào tạo bằng kinh nghiệm,
thông tin đạo đức nghề nghiệp. Ba hình thức đầu được xem là các giai đoạn của
việc đào tạo đạo đức nghề nghiệp chính quy. Hai hình thức sau có thể gặp cả

Footer Page 13 of 16.


Header Page 14 of 16.

8
trong việc đào tạo nghề nghiệp chính quy lẫn trong đào tạo nghề nghiệp phi
chính quy. Trong các hình thức trên đây, dạy nghề là quan trọng nhất. Dạy
nghề là hoạt động trang bị cho người học những kiến thức tối thiểu, kỹ năng,
kỹ xảo và những đặc điểm nhân cách để thực hiện tốt một loại hình nghề
nghiệp nhất định.
1.1.1.3. Đạo đức nghề nghiệp
Trong xã hội, mỗi người có một công việc, nghề nghiệp khác nhau theo
đúng sự phân công lao động của xã hội. Bất kỳ công việc nào cũng có vai trò
chức năng nhất định đối với đời sống xã hội, ở các lĩnh vực khác nhau. Trên cơ
sở vấn đề đạo đức chung, do đặc thù của từng ngành với các vai trò khác nhau
trong đời sống xã hội hình thành nên khái niệm đạo đức nghề nghiệp. Khái niệm

hợp với đạo đức xã hội, và đối với những xã hội khác nhau thì yêu cầu đạo đức y
học cũng khác nhau. Khi nghiên cứu đạo đức y học của người thầy thuốc (những
vấn đề đạo đức học của người thầy thuốc) hai tác giả M. E. Teleshevskaia và N.I.
Pogibko người Nga đã viết: “Đạo đức y học là phần khoa học về vai trò của
những nguyên tắc, phẩm hạnh của các nhân viên y tế, về các mối quan hệ nhân
đạo cao cả đối với bệnh nhân, coi như là điều kiện cần thiết để điều trị và củng cố
sức khoẻ cho con người có kết quả tốt” [8, tr 7]. Trong giai đoạn hiện nay bản
chất đạo đức của người thầy thuốc có những phẩm chất sau:
- Trước hết phải có đạo đức của một công dân XHCN. Đó là việc luôn coi
trọng trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức thầy thuốc, hai yếu tố này có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, tác động lẫn nhau (vì trách nhiệm
của thấy thuốc trước người bệnh khiến cho họ không ngừng vươn lên đỉnh cao
của đạo đức y học và ngược lại vì nghề nghiệp mà người thầy thuốc không
ngừng học tập nâng cao tay nghề, nâng cao trách nhiệm...). Trách nhiệm và đạo
đức người thầy thuốc luôn hướng tới những điều kiện thuận lợi nhất cho sức
khoẻ người bệnh. Sức khoẻ người bệnh là trên hết “Đạo đức y học có mục đích
cứu người, trách nhiệm nghề nghiệp yêu cầu người thầy thuốc phải có tri thức
khoa học, nghệ thuật chữa bệnh và chuyên môn sâu” [13, tr 62].
- Phải có tấm lòng nhân ái đối với người bệnh. Lòng nhân ái của người
thầy thuốc XHCN xuất phát từ bản chất chế độ và trách nhiệm cao cả của thầy

Footer Page 15 of 16.


Header Page 16 of 16.

10
thuốc trong chế độ XHCN. Thầy thuốc XHCN phải có quan hệ rộng với mọi
tầng lớp nhân dân, tận tuỵ, chu đáo trong quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
nhân dân.


11
thể. Trong hoạt động hàng ngày của mình, CBYT luôn có mối liên hệ mật thiết
với các thành viên khác. Xuất phát từ các đặc điểm trên, mối quan hệ đồng
nghiệp của CBYT cần lưu ý các vấn đề sau:
+ Phải tôn trọng lẫn nhau:
Người thầy thuốc không bao giờ được xem thường người khác, luôn tôn
trọng lẫn nhau. Y học có nhiều chuyên khoa, chuyên ngành khác nhau không ai
có thể cho mình là người chuyên sâu các chuyên ngành. Trong ngành, các
chuyên khoa đều bình đẳng, vì vậy các chuyên khoa cần kết hợp chặt chẽ với
nhau, vì sức khoẻ người bệnh.
+ Phải thân ái, đoàn kết, giúp đỡ nhau tiến bộ.
Do yêu cầu công tác tổ chức bộ máy của ngành được chia làm nhiều
tuyến, nhiều khu vực, nên các tuyến phải có sự liên kết giúp đỡ nhau, tuyến sau
chỉ đạo tuyến trước về chuyên môn nghiệp vụ, tuyến trước cung cấp thông tin y
tế, kết hợp làm tốt công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. Trong mỗi
cơ quan, mỗi tổ chức, mỗi đơn vị đều có người quản lý, người thực hiện, vì vậy
cần xây dựng một phong cách làm việc thật hài hoà, đảm bảo được nguyên tắc,
nghiêm túc, thân tình, thoải mái: công việc thì bàn bạc dân chủ, khi đã có thống
nhất thì thực hiện nghiêm túc, cấp dưới phải phục tùng cấp trên.
Với công tác khoa học kỹ thuật: Bản chất việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân
là quá trình thực hiện công tác khoa học kỹ thuật, đòi hỏi người thầy thuốc
phải làm việc nghiêm túc, phát triển toàn diện trên 2 lĩnh vực y sinh học và y
xã hội học.
Đặc điểm đặc thù của y học là liên quan đến sức khoẻ và tính mạng
con người. Vì vậy trong công tác khoa học phải tuân thủ nghiêm ngặt các
quy định sau:

Footer Page 17 of 16.


người một cách toàn diện trên tất cả các mặt: Đức, Trí, Thể, Mỹ. Giáo dục đạo
đức là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung

Footer Page 18 of 16.


Header Page 19 of 16.

13
của giáo dục. Giá trị nhân cách của một con người luôn được đo bằng các yếu tố
tài và đức. Chính vì vậy, trong kho tàng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Người
luôn quan tâm đến giáo dục đạo đức và khuyên nhủ mọi người phải thường
xuyên chăm lo rèn luyện đạo đức. Người đã từng khẳng định: “ Có tài mà không
có đức ví như một anh làm kinh tế, tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì
chẳng những không làm gì được cho xã hội mà còn hại cho xã hội nữa. Nếu có
đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi
gì cho loài người” [17, tr 222].
Trong thực tiễn giáo dục đạo đức nghề nghiệp được tổng hợp trong các
hoạt động giáo dục nói chung. Trong các trường đại học, cao đẳng và THCN,
đạo đức học, tâm lý học là một môn cơ bản, bắt buộc. Ngoài ra, đối với các
trường Y tế còn có y đức là môn học bắt buộc. Bên cạnh đó có các hoạt động
bổ trợ khác như các câu lạc bộ thực hành Y, diễn đàn SV, chương trình ngoại
khóa, tham quan thực tế đều có ý nghĩa và tác dụng giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho SV.
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là sự tác động qua lại giữa các hoạt động
giáo dục đạo đức nghề nghiệp với người học nghề nhằm hình thành ở người
học nghề những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết. Như vậy, nếu xem xét dưới
góc độ lý thuyết hệ thống thì giáo dục đạo đức nghề nghiệp bao gồm nhiều
thành tố: mục đích và yêu cầu, nội dung và phương pháp, biện pháp, phương
tiện, các lực lượng tham gia, người dạy nghề, người học nghề và kết quả giáo

Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế được biểu hiện
bằng tinh thần trách nhiệm cao tận tụy, hết lòng thương yêu chăm sóc người
bệnh, đúng như lời Bác dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Để cụ thể hóa lời dạy
của Bác, ngành Y tế đề ra 12 điều y đức giúp mỗi người CBYT tự đánh giá, tu
dưỡng mình và không ngừng học tập rèn luyện để trở thành thầy thuốc có đức
có, tài.
1. Chăm sóc sức khỏe cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện
đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có
lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm
chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu

Footer Page 20 of 16.


Header Page 21 of 16.

15
khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn
gian khổ, vì sự nghiệp chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân.
2. Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn.
Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn
đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp
nhận của người bệnh.
3. Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân, tôn trọng
những bí mật riêng tư về sức khỏe người bệnh. Khi thăm khám, chăm sóc cần
bảo đảm bảo sự kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người trong diện chính
sách ưu đãi xã hội, không được phân biệt đối xử với người bệnh, không được có
thái độ được ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh,
phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
4. Khi tiếp xúc với bệnh nhân và gia đình họ phải luôn luôn có thái độ

chống dịch bệnh, cứu chữa người bị tai nạn, ốm đau tại cộng đồng, gương mẫu
thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường sống trong sạch [3, tr 7 - 9].
Những quy định về y đức xác định bốn mối quan hệ mật thiết đó là:
Thứ nhất, mối quan hệ của người CBYT với đồng nghiệp, đã tình nguyện
hành nghề y phải hun đúc trong chính mình lòng yêu nghề, ham mê công việc,
cần cù học tập vươn lên. Tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát
triển nền y học Việt Nam.
Thứ hai, mối quan hệ của người CBYT với người bệnh, phải tôn trọng và
thông cảm sâu sắc với người bệnh, tận tình cứu chữa "coi họ đau đớn cũng như
mình đau đớn". Không phân biệt đối xử giữa người bệnh giàu nghèo hay sang
hèn. Thực hiện chữa bệnh theo bệnh. Thận trọng trong chẩn đoán cũng như chỉ
định điều trị, đặc biệt trong phẫu thuật.
Thứ ba, mối quan hệ giữa người CBYT với các bậc thầy, với đồng
nghiệp. Dân tộc Việt Nam có truyền thống "tôn sư trọng đạo", đã học thầy phải
kính trọng và nhớ ơn thầy, giúp đỡ thầy khi già yếu hay lúc khó khăn, quan tâm
chăm sóc tới các con của thầy. Đối với đồng nghiệp phải khiêm tốn học hỏi, thật
thà đoàn kết và tương trợ lẫn nhau, không nói xấu và đổ lỗi cho đồng nghiệp. Tự
giác nhận trách nhiệm về mình khi bản thân có sai sót.

Footer Page 22 of 16.


Header Page 23 of 16.

17
Thứ tư, mối quan hệ giữa người CBYT với xã hội, phải luôn quan tâm tới
sức khoẻ cộng đồng, gương mẫu thực hiện và tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh,
rèn luyện sức khoẻ và cứu chữa người bị nạn, đồng thời xã hội cũng có trách
nhiệm ủng hộ người hành nghề y hoàn thành nhiệm vụ [6, tr 159 - 160].
1.1.3. Các nguyên tắc của đạo đức y học

- Nguyên tắc công bằng:
Nguyên tắc này được hiểu như một chuẩn mực đạo đức không thiên vị,
không mưu cầu lợi ích riêng cho ngành Y trong việc xem xét các bất đồng xảy
ra trong cuộc sống. Người thầy thuốc phải luôn quan tâm đến điều kiện tốt nhất
cho người bệnh, tùy mức độ nặng nhẹ của bệnh mà bố trí chữa trị cho các bệnh
nhân, tuyệt đối không căn cứ vào tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp. Người thầy
thuốc phải tùy theo mức độ bệnh để kê đơn, không căn cứ vào mức độ giàu sang
hay nghèo khổ của người bệnh.
1.1.4. Truyền thống đạo đức y học Việt Nam
Đạo đức y học được hình thành từ rất lâu, từ khi có y học thì đã có đạo
đức nghề y. Hypocrate (337 - 465 TCN), người được coi là ông tổ của ngành Y
thời cổ đại Hy Lạp, cách đây hơn 2000 năm đã nêu tấm gương đạo lý mà người
hành nghề y, dược noi theo và phải tuyên thệ '"Lời thề Hypocrate" trước khi
hành nghề, trong lời thề có câu: "Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân
thiết". Ở Việt Nam các bậc danh y như Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh thế kỷ kỷ
XIV) và đặc biệt là Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (thế kỷ XVIII) luôn nêu
cao tấm gương y đức, cả cuộc đời rèn luyện và phục vụ, Cụ luôn tự nhắc nhở
mình: "Tiến đức, Tu nghiệp" [6, tr 140]. Tiến đức là mỗi ngày phải rèn luyện
cho toàn diện, toàn mỹ về đạo đức của người hành nghề y. Trong cuốn Y huấn
cách ngôn, Hải Thượng Lãn Ông có 9 điều dạy và Ông luôn tha thiết với lòng
mong mỏi đào tạo lớp lương y kế tiếp có đạo đức và lành nghề. Trong cuốn Âm
án và Dương án ông đã nêu lên tám đức tính của người lương y và tám điều tội
lỗi mà người hành nghề y dược phải tránh.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới sức khoẻ của đồng
bào, trong thư gửi Hội nghị CBYT tháng 2 năm 1955, Bác Hồ đã căn dặn CBYT

Footer Page 24 of 16.


Header Page 25 of 16.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status