TRÌNH bày và CÔNG bố THÔNG TIN TRÊN báo cáo tài CHÍNH - Pdf 41

I/ CÁC NỘI DUNG VỀ TRÌNH BÀY VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG CẤP
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
1.Tìm hiểu chung về hoạt động cấp tín dụng
1.1 Khái niệm :Theo Luật TCTD 20101, Cấp tín dụng (TD) là việc thoả thuận để cá
nhân, tổ chức sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cam phép sử dụng một khoản tiền
theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác.
1.2 Các hình thức cấp tín dụng:
Hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú, đây là hoạt động quan trọng nhất,
mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ suất sinh lợi cao. Theo Luật các tổ
chức tín dụng (2010), có bốn hình thức cấp tín dụng2:
-

-

-

Cho vay: Là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng
một số tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với
nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi
Cho vay bao gồm 8 phương thức quy định tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay
trả góp, cho vay hợp vốn, cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay
theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay theo hạn mức thấu chi.
Chiết khấu: Là hình thức cấp tín dụng qua đó tổ chức tín dụng mua lại các giấy tờ có giá
chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng.
Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn
bản của ngân hàng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bên nhận

trình bày trên Bảng cân đối kế toán ở phần TÀI SẢN qua các khoản mục (được công bố
số liệu năm trước và năm nay) gồm:
1. Cho vay các tổ chức tín dụng khác
2. Dự phòng rủi ro cho vay các tổ chức tín dụng khác
3. Cho vay khách hàng
4. Dự phòng rủi ro tín dụng
Ví dụ: Bảng cân đối kế toán hợp nhất năm 2014 của Ngân hàng Thương mại cổ
phần Công thương Việt Nam (VietinBank)3:
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu

Lấy số liệu từ TK

2014

2013

Tiền, vàng gửi tại các 131-136
TCTD khác

67.162.062

59.520.681

Cho vay các TCTD khác

201-205

8.271.562


Tài sản có khác

38,458,478,CL 50,51,52,56

3.376.800

2.782.048

Các khoản lãi, phí phải thu

391,392,394,397

12.706.283

10.035.489

XII. Tài sản có khác

3 Bảng CĐKT của BCTC 2014 của Vietinbank

3


1.2 BÁO CÁO KQHĐKD

Theo chuẩn mực kế toán số 22 quy định:
-

-



41.075.588

44.280.823

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ

71

2.404.468

2.096.679

Chi phí hoạt động dịch vụ

81

(936.683)

(576.553)

Chỉ tiêu

Lấy số liệu từ TK

4 Bảng BCKQHĐKD của BCTC Vietinbank

4



263.705.167
39.684.156
136.479.704

31/12/2013
227.697.332
32.972.090
115.619.546

5 Thuyết minh BCTC của Vietinbank

5


439.869.027

376.288.968

+ Theo chủ thể vay:
Chỉ tiêu
Cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước
Cho vay chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
Cho thuê tài chính
Các khoản trả thay khách hàng
Chovay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư
Cho vay đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài

31/12/2014
434.346.458
516.404

431.193.296
3.770.580
351.923
2.468.319
2.084.909
439.869.027

31/12/2013
369.774.495
2.744.180
515.442
1.005.801
2.249.050
376.288.968

Mục thuyết minh số 11: Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng và cam kết
ngoại bảng

Biến động số dư dự phòng rủi ro cho vay khách hàng cho năm tài chính kết thúc ngày 31
tháng 12 năm 2014:
Đơn vị : Triệu VNĐ
Dự phòng chung Dự phòng cụ thể Tổng cộng
Tại ngày 01/01/2014
2.628.031
672.195
3.300.226
Dự phòng trích lập trong 531.762
3.378.822
3.910.584
năm

phòng
Tại ngày 31/12/2013
2.628.031
672.195
3.300.226
Mục thuyết minh số 43: Nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết đưa ra
Theo QĐ 493 và QĐ 18 của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng phải thực hiện
phân loại đối với các khoản bảo lãnh, chấp nhận thanh toán và cam kết cho vay không
huỷ ngang vô điều kiện và có thời điểm thực hiện cụ thể (gọi chung là các khoản cam kết
ngoại bảng) và các nhóm nợ theo quy định tài Điều 6 và Điều 7 của QĐ 493, theo đó, các
cam kết ngoại bảng được phân loại từ nhóm 1 đến nhóm 5 như cho vay khách hàng và
trích lập dự phòng chung theo quy định.
Chi tiết các khoản công nợ tiềm ẩn và cam kết tại ngày 31/12/2014:
Chỉ tiêu
Nghĩa vụ nợ tiềm ẩn
+ Bảo lãnh tài chính
+ Thư tín dụng
Các cam kết đưa ra
+ Cam kết giao dịch hoán đổi
+ Hợp đồng mua bán giấy tờ có giá
+ Cam kết khác

31/12/2014
54.122.956
24.380.253
29.742.703
26.392.728
11.534.369
9.708.739
5.149.620

Cho vay khách hàng

Sai lệch trọng yếu có thể xảy ra:
 Sai lệch có thể xảy ra đối với khoản mục cho vay khách hàng: khai khống số
tiền cho vay với khách hàng bằng cách làm giả giấy tờ nhưng không giải ngân,
làm tăng thu nhập lãi, tăng khả năng thanh toán của ngân hàng
 Không ghi nhận khoản tiền thanh toán của khách hàng làm sai lệch số dư
khoản mục cho vay của ngân hàng
 Ghi nhận sai lệch số tiền cho khách hàng vay, dẫn tới sai lêch trên khoản mục
 Dự phòng rủi ro tín dụng:
 Việc trích lập dự phòng sẽ ảnh hưởng làm tăng chi phí dẫn đến làm giảm lợi
nhuận của ngân hàng.
 DPRRTD bị khai thiếu (DP giảm xuống  giá trị khoản cho vay tăng)
 Các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán
 Sai lệch trọng yếu của các chỉ tiêu ngoại bảng: thiếu sót, không khai báo các
hoạt động ngoại bảng mà ngân hàng thực hiện cho khách hàng
Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự, thu khác về hđ td, thu nhập
từ hđ dịch vụ:
 Có thể phân loại không đúng kì ghi nhận lãi  khai khống
 Có thể sai lệch do cách tính lãi, sử dụng phương pháp tính lãi không đồng
nhất.
 Khi NH sử dụng phần mềm máy tính để tính lãi có thể xảy ra sai sót do
phần mềm bị lỗi, tính toán sai, chuyển kì hạn sai
Chi phí dự phòng:
+ Tính toán sai mức dự phòng cần lập, giảm chi phí  lợi nhuận tăng  VCSH
tăng
Thuyết minh báo cáo tài chính.
Dự phòng rủi ro tín dụng
Sai lệch trọng yếu:

trong thông tư này nêu rõ:
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể
xảy ra do khách hàng của tổ chức tài chính quy mô nhỏ không thực hiện nghĩa vụ theo
cam kết vay. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt
động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và
Dự phòng chung.
+ Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại nợ để dự phòng cho
những tổn thất có thể xảy ra đối với từng nhóm nợ.
+ Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác
định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường
9


hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ khi chất lượng các khoản
nợ suy giảm
-

Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ như sau:

a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): 0%;
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): 2%;
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): 25%;
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn): 50%;
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): 100%.
2. Định nghĩa rủi ro tiềm tàng:

Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản
mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp,
mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng của các

dụng ngày 15 tháng 06 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP
ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức tín dụng, Nghị định số
85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 về sửa đổi bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ-CP và
Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành
Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng (Quyết định 1627), Quyết định số 127/2005/QĐNHNN về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định 1627, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày
21/01/2013 quy định phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi
ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài. Dựa vào sự chuẩn hóa các quy định an toàn về hoạt động
tín dụng trên, kiểm toán viên có thể hạ thấp đánh giá rủi ro tiềm tàng trong hồ sơ kiểm
toán của mình tại những ngân hàng chấp hành tốt các quy định nêu trên.


Năng lực thanh tra giám sát của các cơ quan chính phủ:

Việc NHNN ban hành những chính sách cụ thể để đảm bảo an toàn cho hoạt động cho
vay của hệ thống NHTM, nhưng điều này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro rằng các NHTM sẽ
thay đổi các số liệu, sổ sách để đạt đúng các chỉ tiêu theo giới hạn của NHNN (Ví dụ:
Hạn mức cho vay trên vốn huy động, tỷ lệ cấp tín dụng trên vốn tự có…). Điều này đòi
hỏi kiểm toán viên phải quan tâm đến mức độ tin cậy và phạm vi của hoạt động giám sát
của NHNN (về việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, phân loại nợ, giới hạn cho vay,
ngành nghề hạn chế cho vay…). Nếu phạm vi hoạt động giám sát của NHNN về các điều
kiện đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay được tiến hành với tần suất ngắn, phạm vi
thực hiện rộng trên nhiều điểm giao dịch và địa bàn, kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro
tiềm tàng của các khoản mục trên báo cáo tài chính liên quan đến hoạt động cho vay và
dự phòng rủi ro tín dụng ở mức độ thấp. Và ngược lại, nếu năng lực thanh tra, giám sát
của NHNN còn hạn chế trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, rủi ro đồng
thời tần suất giám sát không thường xuyên thì rủi ro tiềm tàng sẽ ở mức cao hơn.


Nguyên nhân từ phía khách hàng

thực hiện cấp tín dụng, thì khả năng có xảy ra sai sót trong việc cho vay của ngân hàng sẽ
được giảm thiểu.
ii.

Chất lượng cán bộ tín dụng

Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ cho vay yếu kém dẫn đến
cán bộ cho vay không đánh giá chính xác về khách hàng và phương án vay vốn, từ đó
làm phát sinh những hợp đồng cho vay kém an toàn. Mức độ rủi ro trong trường hợp này
sẽ ngày càng tăng dần trong suốt quá trình kể từ khi xét duyệt đến khi giám sát và cuối
cùng là thu nợ. Cùng với sự hạn chế về trình độ là vấn đề phẩm chất đạo đức của cán bộ
cho vay. Đặc thù nghề nghiệp buộc một cán bộ tín dụng phải không những có trình độ mà
còn phải có đạo đức tốt. Trước sự cám dỗ của vật chất, nhiều cán bộ cho vay đã xa ngã,
có thể hành động vô nguyên tắc, vô tổ chức, làm trái quy định, móc ngoặc với khách
hàng, gây tổn thất to lớn với ngân hàng cho vay.
iii.

Cơ cấu danh mục cho vay khách hàng của ngân hàng

Khi xem xét danh mục cho vay của khách hàng, nếu Kiểm toán viên nhận thấy ngân
hàng đã cho vay một số lượng nhỏ các khoản vay lớn, nghĩa là dư nợ tín dụng tập trung
vào một số khách hàng thì khả năng xảy ra rủi ro của ngân hàng sẽ cao hơn so với việc
ngân hàng cho vay một số lượng lớn các khoản cho vay nhỏ. Sẽ rủi ro hơn nữa nếu các
khách hàng mà ngân hàng cho vay là nhóm khách hàng có liên quan mật thiết. Cần lưu ý
12


mức độ tập trung tín dụng của ngân hàng vào các ngành nghề, lĩnh vực chủ yếu, chẳng
hạn với những ngành nghề về nông nghiệp sẽ lâu thu hồi nợ vay và dễ xảy ra rủi ro .
iv.

Tài sản đảm bảo là nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên
không thực hiện được. Do đó nếu các khoản vay có tài sản đảm bảo, rủi ro tiềm tàng sẽ
thấp hơn các khoản vay không có tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, hình thái tài sản đảm bảo
cũng cần được xem xét khi đánh giá rủi ro (ví dụ tài sản đảm bảo là bất động sản, giấy tờ
có giá).


Quy trình cho vay

Đối với các khoản cho vay đáp ứng đủ các điều kiện và nhận được vốn vay, không có
nghĩa là những khoản cho vay đó không tồn tại vấn đề. Kiểm toán viên phải tiếp tục xem
xét quy trình cho vay của ngân hàng để đánh giá xem có rủi ro tiềm tàng hay không.
Những điều kiểm toán viên cần quan tâm trong quy trình cho vay sẽ là:
13


Ngân hàng có lưu giữ hay lãng quên khoản cho vay cho đến khi món vay đến hạn và
người vay thực hiện xong khoản thanh toán cuối cùng. Nếu như trong các tài liệu lưu trữ
tại ngân hàng cho thấy, các cán bộ tín dụng luôn quan tâm theo dõi từng khoản vay, tình
hình tài chính của khách hàng, chất lượng và tình trạng của tài sản thế chấp, thì kiểm toán
viên có thể tin tưởng hơn về những khoản đã cho vay cũng như việc trích lập dự phòng
cho những khoản vay có dấu hiệu không thu hồi được.
Mức độ phân bố theo ngành nghề và địa lý của khách hàng là phân tán hay tập trung:
Đối tượng khách hàng của hình thức cho vay khá đa dạng xuất phát từ sự đa dạng về mục
đích của khách hàng: vay đầu tư xây dựng cơ bản, vay kinh doanh, vay tiêu dùng... Mỗi
khách hàng hoạt động, kinh doanh đa dạng lĩnh vực ngành nghề trên các địa bàn khác
nhau sẽ bao hàm các rủi ro trong hoạt động với mức độ khác nhau (các lĩnh vực như bất
động sản, nông nghiệp… chứa đựng rủi ro cao hơn so với các ngành nghề khác). Trong
trường hợp tốc độ phát triển của nền kinh tế suy giảm hay các ngành chiếm tỷ trọng lớn
trong danh mục cho vay của ngân hàng phải đối mặt với những vấn đề lớn (sự xuất hiện


Khách hàng thanh toán tiền vay không đúng kế hoạch.
Kỳ hạn trả nợ của khoản cho vay bị thay đổi liên tục.
Lãi suất cao bất thường (cố gắng bù đắp rủi ro cao).
Sự tích tụ bất thường của các khoản phải thu hoặc hàng tồn kho của khách hàng.
Tỷ lệ (đòn bẩy) nợ trên vốn cổ phần tăng.
Thất lạc các tài liệu (đặc biệt là các báo cáo tài chính của khách hàng phải lưu tại
ngân hàng)
Tài sản thế chấp không đủ tiêu chuẩn
Không có các báo cáo hay dự đoán về dòng tiền.
Việc trông chờ của khách hàng vào các nguồn vốn bất thường để đáp ứng nghĩa vụ
thanh toán (ví dụ, bán các toà nhà chung cư, các trang thiết bị có giá trị, mà không
phải là hàng hoá kinh doanh của đơn vị vay).

Nếu các dấu hiệu kể trên không tồn tại, kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro tiềm
tàng của khoản mục cho vay và lập dự phòng rủi ro tín dụng ở mức thấp.
v.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng

KTV cần xem xét song song giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và quy mô của ngân
hàng. Nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng cao trong khi quy mô ngân hàng lại tăng
chậm thì khả năng rủi ro tiềm tàng là cao.
Đặc biệt, KTV cần chú ý vào việc tăng trưởng tín dụng nóng, quá tập trung vào một
lĩnh vực hay tập trung cao vào những lĩnh vực đang chậm phát triển thì rủi ro tiềm tàng
cũng sẽ cao.
vi.

Rủi ro tiềm tàng của hệ thống thông tin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status