Header Page 1 of 16.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
LÊ THỊ LANH
HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ
SO SÁNH TRONG CÁC BÀI THƠ THUỘC
CHƢƠNG TRÌNH MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ
HÀ NỘI, 2016
Footer Page 1 of 16.
Header Page 2 of 16.
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong tổ
bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biêt ơn sâu sắc nhất tới cô giáo của em là cô
giáo – TS. Phạm Thị Hòa – người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế.
Kính mong nhận được sự dóng góp ý kiến của thấy cô giáo và các bạn để đề
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 3
NỘI DUNG....................................................................................................... 5
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn ................................................... 5
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 5
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ ....................................................................................... 5
1.1.2 Cơ sở tâm lí ............................................................................................ 12
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 15
1.2.1. Các bài thơ có sử dụng hình ảnh so sánh được dạy trong chương trình
mẫu giáo .......................................................................................................... 16
1.2.2. Thực tế việc cho trẻ làm quen với các bài thơ có sử dụng hình ảnh so
sánh trong chương trình mẫu giáo................................................................... 18
Chƣơng 2: Tìm hiểu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài
thơ thuộc chƣơng trình mầm non lứa tuổi mẫu giáo ................................. 20
2.1. Thống kê các hình ảnh so sánh trong các bài thơ được dạy trong chương
trình mẫu giáo.................................................................................................. 20
2.1.1. Số lượng các hình ảnh so sánh .............................................................. 20
2.1.2. Phân loại kết quả thống kê .................................................................... 31
Footer Page 4 of 16.
Header Page 5 of 16.
2.2. Phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ so sánh ................................. 35
2.2.1. Dạng so sánh 1: So sánh ngang bằng .................................................... 35
2.2.2. Dạng so sánh 2: So sánh không ngang bằng ......................................... 47
2.2.3. Dạng so sánh 3: So sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối) .......................... 48
sánh tu từ góp phần bồi dưỡng kĩ năng cảm thụ văn học, biết rung cảm với
niềm vui và nỗi buồn của con người, niềm tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên đất
nước con người Việt Nam. Từ đó hình thành và phát triển những nhận thức
tình cảm, thái độ đúng đắn trong cuộc sống. Các em biết phân biệt cái đẹp, cái
1
Footer Page 6 of 16.
Header Page 7 of 16.
xấu, cái thiện, cái ác, cái đúng, cái sai dần dần hướng các em tới cái Chân,
Thiện, Mĩ.
Một mặt, so sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh
mẽ. Mặt khác, so sánh giúp ta bày tỏ tình cảm thái độ của mình một cách kín
đáo tế nhị đối với sự vật hiện tượng. Trong các bài thơ nhờ các hình ảnh bóng
bẩy ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái kia giúp các em từ đó mà hình dung,
tưởng tượng bồi dưỡng tâm hồn thêm phong phú. Tuổi thơ các em sẽ được
chắp cánh cùng lời ca, tiếng nhạc qua hình ảnh so sánh xa xôi mà gần gũi, bay
bổng mà chân thực ở mỗi bài thơ.
Từ những lí do trên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Hiệu quả của
biện pháp tu từ so sánh trong các bài thơ thuộc chương trình mầm non” làm
đối tượng tìm hiểu cho mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về so sánh tu từ không phải là một vấn đề mới vì so sánh là
một biện pháp tu từ ngữ nghĩa phổ biến và được nhiều người tìm hiểu. Liên
quan đến vấn đề nghiên cứu “Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các
bài thơ thuộc chương trình mầm non” chúng tôi thấy có các công trình thuộc
2 nhóm:
2.1. Những giáo trình và tài liệu nghiên cứu về phong cách học:
Biện pháp tu từ so sánh trong các bài thơ được dạy trong chương trình
mẫu giáo
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Thống kê các hình ảnh so sánh trong các bài thơ viết cho trẻ mẫu giáo
- Tìm hiểu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài thơ viết cho trẻ
mẫu giáo
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: Được chúng tôi dùng để nhận diện và tập hợp những
trường hợp sử dụng so sánh tu từ trong các bài thơ viết cho trẻ mẫu giáo
3
Footer Page 8 of 16.
Header Page 9 of 16.
- Phương pháp phân loại: Đây là phương pháp được chúng tôi sử dụng để
phân tích ngữ liệu thống kê về so sánh tu từ thành những tiểu loại nhỏ dựa
trên những tiêu chí đã xác định
- Phương pháp miêu tả: Được chúng tôi sử dụng khi cần tái hiện những ví dụ
tiêu biểu có so sánh tu từ
- Phương pháp phân tích phong cách học: Là một trong những phương pháp
chủ yếu được chúng tôi sử dụng để phân tích hiệu quả tác động của so sánh tu
từ đến nhận thức, tình cảm và thẩm mĩ của trẻ mẫu giáo.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài các phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khóa luận được tổ
chức thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung
Chương 2: Tìm hiểu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài
Sau định nghĩa, Cù Đình Tú bổ sung
“Trong so sánh tu từ các đối tượng đưa ra so sánh là đối tượng khác
loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc
điểm của một đối tượng”.
5
Footer Page 10 of 16.
Header Page 11 of 16.
Trong sách Ngữ văn 6 tập 2 các tác giả sách khoa đã định nghĩa so sánh
tu tư so sánh: “So sánh là sự đối chiếu nhân vật, sự việc này với sự vật, sự
việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn
đạt”. [6, tr.24]
Từ các định nghĩa đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn định nghĩa của Cù
Đình Tú (1983) đồng thời tiếp nhận ý kiến bổ sung của các tác giả để đưa ra
cách hiểu về so sánh tu từ:
So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác
loại dựa trên một nét tương đồng nào đó giữa chúng, nhằm biểu thị bằng hình
ảnh một trong những đối tượng đó.
b. Phân loại tu từ so sánh
* Hình thức của phép tu từ so sánh
Theo giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt” của các tác giả Đinh Trọng
Lạc (chủ biên) và Nguyễn Thái Hòa thì hình thức đầy đủ nhất của phép so
sánh tu từ gồm 4 yếu tố như sau:
1. Cái so sánh
2. Cơ sở so sánh
3
4
[Cà rốt và củ cải, 1, tr.144]
- Dạng 2: So sánh thiếu yếu tố (1)
Đây là dạng so sánh thiếu yếu tố (1), tức là không có cái so sánh. Cái so
sánh là gì, điều đó phụ thuộc vào khả năng liên tưởng của người đọc người
nghe.
VD: Mình đỏ như lửa
Bụng chứa đầy nước
[Xe chữa cháy - Phạm Hổ, 1, tr.176]
- Dạng 3: So sánh vắng yếu tố (2)
So sánh vắng yếu tố (2) còn gọi là so sánh chìm tức là so sánh không có
cơ sở so sánh. Thông thường, khi bớt cơ sở so sánh thì phần thuyết minh miêu
tả ở cái được so sánh sẽ rõ ràng hơn. Ngoài ra, nó còn tạo được sự liên tưởng
rộng rãi, phát huy sức sáng tạo của người đọc, người nghe hơn. Dạng so sánh
này kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn để có thể xác
định được những nét giống nhau giữa hai đối tượng ở hai vế và từ đó nhận ra
đặc điểm của đối tượng miêu tả.
VD: Nắng như sợi mềm
Xâu từng chuỗi ngọc
[Buổi sáng - Lam Giang, 2, tr.229]
- Dạng 4: So sánh vắng yếu tố (2) và (3)
7
Footer Page 12 of 16.
8
Footer Page 13 of 16.
Header Page 14 of 16.
Đây là dạng so sánh dùng để khẳng định một việc gì đó theo cách nhìn
nhận, cách đánh giá riêng của người so sánh
Có thể so sánh bậc cao nhất được thể hiện bằng câu hỏi tu từ
VD: Ai yêu các nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh?
[Thư trung thu- Hồ Chí Minh, 2, tr.227]
Cũng có thể dùng cặp từ bao nhiêu – bấy nhiêu để so sánh.
Dựa vào cấu trúc chung của so sánh thì cấu trúc so sánh được phát triển
như sau:
Cấu trúc của phép tu từ so sánh luôn luôn vận động và phát triển theo
quá trình phát triển của tư duy và quá trình hoàn thiện các phong cách chức
năng trong Tiếng Việt. Quá trình này được thể hiện qua sự biến đổi về cấu
trúc hình thức và nội dung ngữ nghĩa bên trong của phép so sánh.
Thứ nhất về mặt hình thức, trong thời kì hiện đại phép tu từ so sánh có
chiều hướng phát triển về độ dài cấu trúc dưới các dạng sau:
A x B → A x B x C → A x B1 x B2 x B3
Trong đó: A là cái so sánh
B là cái được so sánh
x là mức độ so sánh
VD1: A x B
Mắt bé cười
Như hoa nở.
[Cây thược dược – Ngô Quân Miện, 2, tr.181]
-
(Trừu tượng)
Hoặc: A
-
B
(cụ thể)
x
-
(Cụ thể)
B
(trừu tượng)
Nhưng trong phong cách nghệ thuật hiện đại ta gặp các phép so sánh ở
tất cả các dạng lí tưởng của nó.
A – B: Trừu tượng – cụ thể
A – B: Trừu tượng – trừu tượng
A – B: Cụ thể - cụ thể
10
Footer Page 15 of 16.
11
Footer Page 16 of 16.
Header Page 17 of 16.
So sánh tu từ còn có chức năng:
- Chức năng nhận thức:
Vì so sánh là dựa trên những nét nghĩa tương đồng giữa các đối tượng
cho nên so sánh tu từ là sự phát hiện, đối chiếu những nét tương đồng ấy.
Muốn được như thế thì người sử dụng phải có sự nhạy bén trong các giác
quan, sự tế nhị trong tâm hồn. Từ đó phát hiện ra những điều mà người khác
không để ý đến vì vậy chức năng nhận thức giúp cho chúng ta hiểu một cách
đầy đủ cặn cẽ những hàm ý ẩn chứa bên trong câu thơ.
- Chức năng biểu cảm:
Qua các hình ảnh so sánh tu từ, người nói thể hiện ít nhiều tình cảm: yêu,
gét, buồn, vui, khen, chê, khinh, trọng…đối với đối tượng và qua đó tác động
đến người đọc, người nghe. Chính vì thế so sánh tu từ còn có chức năng biểu
cảm. Muốn thấy rõ được chức năng biểu cảm thì chúng ta phải khai thác
những hàm ẩn chứ không chỉ là những liên tưởng đến những nét chung nhất.
Đây là chức năng quan trọng. Hiển nhiên, một phép so sánh nào cũng chứa
đựng một lượng thông tin, từ lượng thông tin ta có thể nhận ra một ý nghĩa
nào đó.
So sánh tu từ có chức năng vừa là công cụ nhận thức vừa là phương tiện
giúp chúng ta bày tỏ tình cảm, thái độ trước những sự vật, hiện tượng xung
quanh.
1.1.2 Cơ sở tâm lí
Tuy cùng chịu sự chi phối của những quy luật và yếu tố nhỏ ở các giai
đoạn phát triển khác, nhưng mỗi một giai đợn một lứa tuổi trong quá trình
phát triển tâm lí của con người nói chung và trẻ em nói riêng là một khoảng
Trí nhớ không chủ định của trẻ ở các dạng hoạt động phát triển khác
nhau và tốc độ phát triển rất nhanh.
Ở độ tuổi này, các loại trí nhớ: hình ảnh, vận động, từ ngữ đều được phát
triển tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều được hình thành và tham gia tích cực
trong các hoạt động vui chơi, lao động, tạo hình... ở trẻ.
Tư duy:
13
Footer Page 18 of 16.
Header Page 19 of 16.
Tư duy trực quan hành động vẫn tiếp tục phát triển, nhưng chất lượng
khác với trẻ 3 - 4 tuổi ở chỗ trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem xét nhiệm vụ hoạt
động, phương pháp và phương tiện giải quyết nhiệm vụ tư duy.
Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế.
Nhờ có sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư duy
trừu tượng.
Ở trẻ 4 - 5 tuổi các loại tư duy đều được phát triển nhưng mức độ khác
nhau. Một số đặc điểm trong tư duy ở trẻ 4 - 5 tuổi:
Mức độ khái quát ngẫu nhiên giảm dần từ 4 đến 5 tuổi trong hoạt động
tư duy của trẻ.
Mức độ tích cực huy động vốn kinh nghiệm (liên tưởng) của trẻ tăng lên
từ 4 - 5 tuổi .
Sự khái quát các dấu hiệu chung giảm dần từ 4 - 5 tuổi, nhường chỗ cho
các chi tiết đặc thù của các sự vật hiện tượng.
Cô giáo cần tổ chức các tiết học vui chơi kích thích sự phát triển tư duy
ở trẻ, kích thích trẻ tìm tòi các dấu hiệu giống nhau, khác nhau, so sánh các đồ
vật, tranh ảnh, hoa quả, đồ chơi.
Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết nối kết giữa tình huống
hiện tại với quá khứ thành một "văn cảnh".
Vốn từ của trẻ tăng lên không chỉ số lượng từ mà điều quan trọng là lĩnh
hội được các cấu trúc ngữ pháp đơn giản.
Đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm
tiết... Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm
nhầm.
Dưới sự hướng dẫn của cô giáo, đặc biệt trong hoạt động vui chơi, tạo
hình, các tiết kể chuyện, tham quan, âm nhạc, thể dục...và các nhiệm vụ do
người lớn giao cho trẻ, xác định trách nhiệm của trẻ một cách đơn giản, trẻ
lĩnh hội được nhiều từ mới và ý nghĩa sử dụng của chúng, là tiền đề quan
trọng giúp trẻ hoạt động sau này.
1.2. Cơ sở thực tiễn
15
Footer Page 20 of 16.
Header Page 21 of 16.
1.2.1. Các bài thơ có sử dụng hình ảnh so sánh được dạy trong chương
trình mẫu giáo
- Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề trẻ 3-4 tuổi
Dấu hỏi - Sưu tầm
Bé vẽ - Sưu tầm
Bàn tay cô giáo - Định Hải
Bé không khóc nữa - Vũ Thị Minh Tâm
Cô giáo của con - Hà Quang
Chơi bán hàng - Nguyễn Văn Thắng
Mẹ và cô - Trần Quốc Toàn
Mẹ và con - Nguyễn Bá Đan
Cây cau - Đồng dao
Cây bang - Xuân Quỳnh
Cây xấu hổ - Thái Thăng Long
Cây thược dược - Ngô Quân Miện
Đồng dao về củ - Vương Trọng
Dây bí đỏ - Cao Xuân Thái
Chuồn chuồn - Phạm Hổ
Con trâu - Cao Xuân Thái
Xe cần cẩu - Nguyễn Đức
Đoàn tàu lăn bánh - Tạ Hữu Yên
Con rắn thép - Nguyễn Quỳnh Thi
Trên chin tầng mây - Cao Xuân Sơn
Thư trung thu - Hồ Chí Minh
Hoa quanh lăng Bác - Nguyễn Bao
Buổi sáng - Lam Giang
Buổi sáng ở quê nội - Nguyễn Lãm Thắng
Mưa - Nguyễn Diệu
Trưa hè - Dạ Thảo
Trăng lưỡi liềm - Nguyễn Hưng Hải
Sao Hôm, sao Mai - Đặng Vương Hưng
17
Footer Page 22 of 16.
Header Page 23 of 16.
Cầu vồng - Phạm Hổ
Nước - Vương Trọng
Header Page 24 of 16.
trọng trong sự nghiệp trồng người. Đối tượng của giáo viên mầm non là trẻ
nhỏ, nhạy cảm với các tác động bên ngoài đồng thời cũng là lúc phát triển rất
nhanh về mọi mặt, cả về thể chất, tinh thần và trí tuệ. Cho nên cho trẻ bước
đầu làm quen với các môn học người giáo viên mầm non mang trách nhiệm
cao cả đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ mầm
non.
Việc cho trẻ mẫu giáo làm quen với các bài thơ có sử dụng hình ảnh so
sánh có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện nhân cách cho trẻ cả
về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ nó ảnh hưởng trực tâm hồn trẻ thơ. Làm quen với
các bài thơ có hình ảnh so sánh là trẻ được làm quen với vạn vật, với thiên
nhiên đầy bí ẩn diệu kì, trẻ được làm quen với các con vật ngộ nghĩnh đáng
yêu, đem lại hiểu biết về cuộc sống xung quanh, quê hương, đất nước con
người từ đó giáo dục trẻ, biết yêu thương mọi người, yêu quê hương đất nước,
biết khen, chê biết đúng, sai, thiện, ác để tích lũy kinh nghiệm sống cho mình.
Thực tế các bài thơ có sử dụng hình ảnh so sánh đã được đưa vào trong
chương trình giáo dục mầm non ở các độ tuổi khác nhau. Và việc cho trẻ làm
quen với các bài thơ có sử dụng hình ảnh so sánh là nhiệm vụ của giáo viên
mầm non. Giáo viên mầm non đã khai thác, lấy ví dụ, sử dụng hình ảnh, mô
hình, vật thật, video, kết hợp giải thích , giảng giải, phân tích, tích hợp dạy học
các môn học giúp trẻ dễ dàng liên tưởng, nhận biết được các hình ảnh so sánh
trong các bài thơ.
Tuy nhiên, người giáo viên còn gặp không ít khó khăn như cơ sở vật
chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít. Người giáo viên còn
chú trọng, quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học nên chưa khai
thác triệt để các hình ảnh có sử dụng so sánh tu từ.
Do khả năng tri giác, tư duy, liên tưởng, tưởng tượng của trẻ còn dừng
lại ở mức độ đơn giản, trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật so sánh tu từ
Trang
1
Ơ cái dấu hỏi
Dấu hỏi
1, tr.115
Bé vẽ
1, tr.116
Trông ngộ nghĩnh ghê
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe
2
Bé thật tài ba
Như là họa sĩ
3
Bàn tay cô giáo
Bàn tay cô giáo
20