TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
LÊ THỊ LANH
HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ
SO SÁNH TRONG CÁC BÀI THƠ THUỘC
CHƢƠNG TRÌNH MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong tổ
bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biêt ơn sâu sắc nhất tới cô giáo của em là cô
giáo – TS. Phạm Thị Hòa – người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế.
Kính mong nhận được sự dóng góp ý kiến của thấy cô giáo và các bạn để đề
tài hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 10, tháng 5, năm
2016
Sinh viên
Lê Thị Lanh
Chƣơng 2: Tìm hiểu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài
thơ thuộc chƣơng trình mầm non lứa tuổi mẫu giáo ................................. 20
2.1. Thống kê các hình ảnh so sánh trong các bài thơ được dạy trong chương
trình mẫu giáo.................................................................................................. 20
2.1.1. Số lượng các hình ảnh so sánh .............................................................. 20
2.1.2. Phân loại kết quả thống kê .................................................................... 31
2.2. Phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ so sánh ................................. 35
2.2.1. Dạng so sánh 1: So sánh ngang bằng .................................................... 35
2.2.2. Dạng so sánh 2: So sánh không ngang bằng ......................................... 47
2.2.3. Dạng so sánh 3: So sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối) .......................... 48
KẾT LUẬN .................................................................................................... 50
Tài liệu tham khảo ........................................................................................ 51
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ, ngôn ngữ làm phương
tiện thể hiện nó làm phong phú đời sống tâm hồn. Trong đó có các biện pháp
tu từ đặc biệt là tu từ so sánh đã góp phần không nhỏ để làm nên điều này.
Trên thực tế, dù tiếng Việt khá phong phú, đa dạng so với một số ngôn ngữ
khác trên thế giới nhưng nó cũng có giới hạn nhất định. Trong khi đó, đời
sống của con người ngày càng phát triển, nhu cầu diễn đạt tâm tư tình cảm
ngày càng cao nên nảy sinh ra các dạng thức tu từ làm giàu thêm vốn ngôn
ngữ, khiến cách diễn đạt thêm thuyết phục. Cùng với các biện pháp tu từ
khác, so sánh tu từ trở nên vô cùng cần thiết cho sự diễn đạt, đối với cùng một
đối tượng, ta có nhiều từ ngữ để biểu thị hơn và làm cho diễn đạt trở nên sâu
sắc, đa dạng, phong phú, mang nhiều nét nghĩa.
So sánh giúp ta nhận thức được sâu sắc hơn đặc điểm nào đó của sự vật
một biện pháp tu từ ngữ nghĩa phổ biến và được nhiều người tìm hiểu. Liên
quan đến vấn đề nghiên cứu “Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các
bài thơ thuộc chương trình mầm non” chúng tôi thấy có các công trình thuộc
2 nhóm:
2.1. Những giáo trình và tài liệu nghiên cứu về phong cách học:
- Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa, phong cách học tiếng Việt,
NXB Giáo dục, 1993, 1995.
- Cù Đình Tú, phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Đại học và
Trung học chuyên nghiệp Hà Nội.
2.2. Các khóa luận tốt nghiệp
- Tìm hiểu biện pháp so sánh tu từ ở các bài văn miêu tả trong sách giáo khoa
tiếng Việt tiểu học – Hoàng Thị Đặng, K27 Giáo dục Tiểu học.
2
- Bước đầu nghiên cứu về hiệu quả của so sánh tu từ trong các tác phẩm thơ
trong sách giáo khoa lớp 1, 2, 3 sau năm 2000 và lớp 3 thử nghiệm, Dương
Nguyệt Hằng, k26 Giáo dục Tiểu học.
Về cơ bản, các giáo trình và các đề tài nghiên cứu trên đều có nghiên cứu
về so sánh tu từ. Nhưng nghiên cứu về hiệu quả của phép tu từ so sánh trong
các bài thơ viết cho trẻ mẫu giáo là một đề tài khá mới mẻ. Chúng tôi dựa vào
các kiến thức lí thuyết trong giáo trình phong cách học và kế thừa kết quả
nghiên cứu của các công trình đi trước để triển khai các nhiệm vụ trong đề tài.
3. Mục đích nghiên cứu
Giúp trẻ mẫu giáo thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương thông qua
giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tu từ so sánh trong các bài thơ thuộc chương trình mầm
4
NỘI DUNG
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ
a. Khái niệm so sánh tu từ
Trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt” tác giả Đinh
Trọng Lạc đã phát biểu như sau:
“So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối
chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với
nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng một
hình ảnh, một lối tri giác mới mẻ về đối tượng”. [4, tr.154]
Sau này, ở giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt” tác giả Đing Trọng
Lạc (chủ biên) và Nguyễn Thái Hòa cũng đưa ra định nghĩa về so sánh:
“So sánh tu từ là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối
chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó,
để gơi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người
đọc, người nghe”. [5, tr.189]
Cù Đình Tú trong cuốn “Phong cách học Tiếng Việt và đặc điểm tu từ
Tiếng Việt” cũng đưa ra định nghĩa về so sánh. Theo ông:
“So sánh tu từ là so sánh công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có
một nét giống nhau nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối
tượng”. [7, tr.272]
Sau định nghĩa, Cù Đình Tú bổ sung
“Trong so sánh tu từ các đối tượng đưa ra so sánh là đối tượng khác
loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc
điểm của một đối tượng”.
của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõ phương
tiện so sánh.
- Yếu tố (3) là từ so sánh, mức độ so sánh được đưa ra ở mức độ ngang bằng
như nhau. Ngoài từ như còn có từ tựa, tựa như, giống như…
- Yếu tố (4) là cái được so sánh tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh.
* Các dạng của phép tu từ so sánh
Khi xem xét phép so sánh, có thể dựa vào mặt cấu trúc hoặc dựa vào mặt
ngữ nghĩa của nó.
6
Dựa vào mặt cấu trúc, có thể chia ra các dạng so sánh như sau:
- Dạng 1: Phép so sánh đầy đủ 4 yếu tố
Đây là dạng so sánh chuẩn vì nó có đầy đủ 4 yếu tố: cái so sánh, cơ sơ so
sánh, từ so sánh và cái được so sánh.
VD: Cà rốt/ đỏ/ như/ lửa
1
2
3
4
[Cà rốt và củ cải, 1, tr.144]
- Dạng 2: So sánh thiếu yếu tố (1)
Đây là dạng so sánh thiếu yếu tố (1), tức là không có cái so sánh. Cái so
sánh là gì, điều đó phụ thuộc vào khả năng liên tưởng của người đọc người
nghe.
Dựa vào mặt ngữ nghĩa ta có thể chia phép so sánh thành các dạng:
- Dạng 1: So sánh ngang bằng
Đây là dạng so sánh thường dùng từ “như”, từ “là”, từ “giống”…để làm
từ so sánh.
VD: Trăng tròn như mắt cá
Không bao giờ chớp mi
[Trăng ơi…từ đâu đến? - Trần Đăng Khoa, 1, tr.187]
- Dạng 2: So sánh không ngang bằng
Là dạng so sánh mà cơ sở so sánh luôn gắn liền với từ hơn: khỏe hơn,
cao hơn, đẹp hơn…
VD: Chiếc máy bay thật bé
Nhìn kĩ thật đáng yêu
Cánh mỏng hơn cả lụa
Bay không một tiếng kêu.
[Chuồn chuồn - Phạm Hổ, 2, tr.194]
- Dạng 3: So sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối)
8
Đây là dạng so sánh dùng để khẳng định một việc gì đó theo cách nhìn
nhận, cách đánh giá riêng của người so sánh
Có thể so sánh bậc cao nhất được thể hiện bằng câu hỏi tu từ
VD: Ai yêu các nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh?
[Thư trung thu- Hồ Chí Minh, 2, tr.227]
Cũng có thể dùng cặp từ bao nhiêu – bấy nhiêu để so sánh.
Dựa vào cấu trúc chung của so sánh thì cấu trúc so sánh được phát triển
như sau:
Cấu trúc của phép tu từ so sánh luôn luôn vận động và phát triển theo
Như cà ra nụ.
[Tùng dinh, tùng dinh – Sinh Thảo, 2, tr.170]
Thứ hai, về mặt nội dung ngữ nghĩa sự thay đổi cấu trúc A x B còn được
biểu hiện qua sự biến đổi ngữ nghĩa về hai vế. Xét về mức độ ý nghĩa, mô
hình so sánh thường gặp là:
A
-
x
-
(Trừu tượng)
Hoặc: A
-
B
(cụ thể)
x
-
(Cụ thể)
B
(trừu tượng)
khác loại, khác bản chất có thể chuyển hóa được cho nhau, có những đặc
điểm, những nét giống nhau. Một so sánh đẹp là một so sánh phát hiện, phát
hiện ra những gì nhiều người không nhìn ra, không nhận thấy.
c. Tác dụng và chức năng của tu từ so sánh trong thơ.
So sánh vừa có tác dụng gợi hình giúp cho việc miêu tả sự vật, sự việc
được cụ thể, sinh động, vừa có tác dụng biểu hiện tư tưởng tình cảm sâu sắc.
Nêu lên một cách tri giác mới mẻ về đối tượng.
11
So sánh tu từ còn có chức năng:
- Chức năng nhận thức:
Vì so sánh là dựa trên những nét nghĩa tương đồng giữa các đối tượng
cho nên so sánh tu từ là sự phát hiện, đối chiếu những nét tương đồng ấy.
Muốn được như thế thì người sử dụng phải có sự nhạy bén trong các giác
quan, sự tế nhị trong tâm hồn. Từ đó phát hiện ra những điều mà người khác
không để ý đến vì vậy chức năng nhận thức giúp cho chúng ta hiểu một cách
đầy đủ cặn cẽ những hàm ý ẩn chứa bên trong câu thơ.
- Chức năng biểu cảm:
Qua các hình ảnh so sánh tu từ, người nói thể hiện ít nhiều tình cảm: yêu,
gét, buồn, vui, khen, chê, khinh, trọng…đối với đối tượng và qua đó tác động
đến người đọc, người nghe. Chính vì thế so sánh tu từ còn có chức năng biểu
cảm. Muốn thấy rõ được chức năng biểu cảm thì chúng ta phải khai thác
những hàm ẩn chứ không chỉ là những liên tưởng đến những nét chung nhất.
Đây là chức năng quan trọng. Hiển nhiên, một phép so sánh nào cũng chứa
đựng một lượng thông tin, từ lượng thông tin ta có thể nhận ra một ý nghĩa
nào đó.
So sánh tu từ có chức năng vừa là công cụ nhận thức vừa là phương tiện
giúp chúng ta bày tỏ tình cảm, thái độ trước những sự vật, hiện tượng xung
tri giác, hiểu và sử dụng chúng như một phương tiện giao tiếp với những
người xung quanh tuy ở mức độ đơn giản.
Trí nhớ không chủ định của trẻ ở các dạng hoạt động phát triển khác
nhau và tốc độ phát triển rất nhanh.
Ở độ tuổi này, các loại trí nhớ: hình ảnh, vận động, từ ngữ đều được phát
triển tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều được hình thành và tham gia tích cực
trong các hoạt động vui chơi, lao động, tạo hình... ở trẻ.
Tư duy:
13
Tư duy trực quan hành động vẫn tiếp tục phát triển, nhưng chất lượng
khác với trẻ 3 - 4 tuổi ở chỗ trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem xét nhiệm vụ hoạt
động, phương pháp và phương tiện giải quyết nhiệm vụ tư duy.
Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế.
Nhờ có sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư duy
trừu tượng.
Ở trẻ 4 - 5 tuổi các loại tư duy đều được phát triển nhưng mức độ khác
nhau. Một số đặc điểm trong tư duy ở trẻ 4 - 5 tuổi:
Mức độ khái quát ngẫu nhiên giảm dần từ 4 đến 5 tuổi trong hoạt động
tư duy của trẻ.
Mức độ tích cực huy động vốn kinh nghiệm (liên tưởng) của trẻ tăng lên
từ 4 - 5 tuổi .
Sự khái quát các dấu hiệu chung giảm dần từ 4 - 5 tuổi, nhường chỗ cho
các chi tiết đặc thù của các sự vật hiện tượng.
Cô giáo cần tổ chức các tiết học vui chơi kích thích sự phát triển tư duy
ở trẻ, kích thích trẻ tìm tòi các dấu hiệu giống nhau, khác nhau, so sánh các đồ
vật, tranh ảnh, hoa quả, đồ chơi.
Tưởng tượng:
Đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm
tiết... Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm
nhầm.
Dưới sự hướng dẫn của cô giáo, đặc biệt trong hoạt động vui chơi, tạo
hình, các tiết kể chuyện, tham quan, âm nhạc, thể dục...và các nhiệm vụ do
người lớn giao cho trẻ, xác định trách nhiệm của trẻ một cách đơn giản, trẻ
lĩnh hội được nhiều từ mới và ý nghĩa sử dụng của chúng, là tiền đề quan
trọng giúp trẻ hoạt động sau này.
1.2. Cơ sở thực tiễn
15
1.2.1. Các bài thơ có sử dụng hình ảnh so sánh được dạy trong chương
trình mẫu giáo
- Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề trẻ 3-4 tuổi
Dấu hỏi - Sưu tầm
Bé vẽ - Sưu tầm
Bàn tay cô giáo - Định Hải
Bé không khóc nữa - Vũ Thị Minh Tâm
Cô giáo của con - Hà Quang
Chơi bán hàng - Nguyễn Văn Thắng
Mẹ và cô - Trần Quốc Toàn
Gió từ tay mẹ - Vương Trọng
Trong đầm gì đẹp bằng sen - Sưu tầm
Quả - Giáo viên mầm non (Phòng Giáo dục – Đào tạo Gia Lai)
Cà rốt và củ cải - Sưu tầm
Vườn cải - Trần Đăng Khoa
Rong và cá - Phạm Hổ
Con chuồn chuồn ớt - Xuân Nùng
Đoàn tàu lăn bánh - Tạ Hữu Yên
Con rắn thép - Nguyễn Quỳnh Thi
Trên chin tầng mây - Cao Xuân Sơn
Thư trung thu - Hồ Chí Minh
Hoa quanh lăng Bác - Nguyễn Bao
Buổi sáng - Lam Giang
Buổi sáng ở quê nội - Nguyễn Lãm Thắng
Mưa - Nguyễn Diệu
Trưa hè - Dạ Thảo
Trăng lưỡi liềm - Nguyễn Hưng Hải
Sao Hôm, sao Mai - Đặng Vương Hưng
17
Cầu vồng - Phạm Hổ
Nước - Vương Trọng
Mùa hè của em - Tuyết Hoa
Mùa đông - Trần Quốc Toàn
- Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề trẻ 5-6 tuổi
Bập bênh - Giáo viên Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh
Lời bé - Nguyễn Văn Bình
Những con mắt - Trường mầm non tuổi thơ (Hải Hậu- Đà Nẵng)
Xòe tay - Phong Thu
Ông cháu nhà vịt - Trần Minh
Hạt gạo làng ta - Trần Đăng Khoa
Chú bộ đội hành quân trong mưa - Vũ Thùy Dương
Hoa kết trái - Thu Hà
Gà nở - Phạm Hổ
Đom đóm - Hoàng Hương
Thực tế các bài thơ có sử dụng hình ảnh so sánh đã được đưa vào trong
chương trình giáo dục mầm non ở các độ tuổi khác nhau. Và việc cho trẻ làm
quen với các bài thơ có sử dụng hình ảnh so sánh là nhiệm vụ của giáo viên
mầm non. Giáo viên mầm non đã khai thác, lấy ví dụ, sử dụng hình ảnh, mô
hình, vật thật, video, kết hợp giải thích , giảng giải, phân tích, tích hợp dạy học
các môn học giúp trẻ dễ dàng liên tưởng, nhận biết được các hình ảnh so sánh
trong các bài thơ.
Tuy nhiên, người giáo viên còn gặp không ít khó khăn như cơ sở vật
chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít. Người giáo viên còn
chú trọng, quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học nên chưa khai
thác triệt để các hình ảnh có sử dụng so sánh tu từ.
Do khả năng tri giác, tư duy, liên tưởng, tưởng tượng của trẻ còn dừng
lại ở mức độ đơn giản, trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật so sánh tu từ
19
còn hạn chế. Nên khi tiếp thu về nghệ thuật so sánh tu từ rất khó khăn vì vậy
đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có phương pháp giảng dạy phù hợp,
tạo được hứng thú cho trẻ. Người giáo viên phải gợi ý, hướng dẫn giúp trẻ
liên tưởng, tưởng tượng được các hình ảnh so sánh nhằm nâng cao hứng thú
và kết quả học tập. Qua đó giúp trẻ mở rộng hiểu biết, giáo dục tình cảm và
thẩm mĩ.
Tiểu kết: Như vậy ở chương 1, khi xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực
tiễn cho đề tài khóa luận, chúng tôi đã dựa vào những kiến thức về biện pháp
tu từ so sánh trong các giáo trình phong cách học và những hiểu biết về đặc
điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo. Những kiến thức lí thuyết này cùng với cơ sở
thực tiễn việc cho trẻ mẫu giáo làm quen với các bài thơ có hình ảnh so sánh
trong các trường mầm non hiện nay chính là cơ sở vững chắc để chúng tôi
thực hiện các nhiệm vụ của đề tài.
Bé thật tài ba
Như là họa sĩ
3
Bàn tay cô giáo
Bàn tay cô giáo
20
1, tr.117