BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
___________________
ĐINH DUY TRUNG
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU VÀ TỶ
SUẤT SINH LỢI CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh –2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
_____________________
ĐINH DUY TRUNG
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG GIÁ DẦU VÀ TỶ SUẤT
SINH LỢI CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
2.3 Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt
Nam. ............................................................................................................................ 27
2.4 Tóm tắt chương II ................................................................................................. 28
CHƯƠNG III: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .......................................................................................... 30
3.1 Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................... 30
3.2 Mô hình nghiên cứu. ............................................................................................. 30
3.3 Quy trình hồi quy .................................................................................................. 33
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................ 35
4.1 Kết quả hồi quy giải thích cho ảnh hưởng của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh
lợi cổ phiếu khi phân loại ngành. ................................................................................ 35
4.2 Kết quả hồi quy giải thích cho ảnh hưởng của độ trễ biến động giá dầu đến tỷ
suất sinh lợi cổ phiếu .................................................................................................. 43
4.3 Kết quả hồi quy giải thích cho ảnh hưởng của biến động giá dầu và độ trễ biến
động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp được phân loại theo
quy mô. ....................................................................................................................... 52
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN .......................................................................................... 58
5.1 Kết luận ................................................................................................................. 58
5.2 Hạn chế của đề tài ................................................................................................. 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Giá dầu thế giới giai đoạn 04.01.2010 cho đến 10.06.2015 (Nguồn website
tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC): ................................ 3
Hình 1.2 Chỉ số giá cổ phiếu của một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu
khí (Nguồn sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) ....... 3
khác nhau cùng với đó kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi xét đến ảnh hưởng của
độ trễ biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp thuộc các
ngành khác nhau dường như ảnh hưởng này có ý nghĩa thống kê đặc biệt là các doanh
nghiệp hoạt động trong các ngành sau: sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất sản phẩm
từ khoáng phi kim loại khác, sản xuất kim loại; sản xuất và phân phối điện, khí đốt,
nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; vận tải, kho bãi; hoạt động tài chính, ngân
hàng và bảo hiểm.
1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu rất quan trọng trong nền kinh tế thế giới
hiện nay, đặc biệt là trong các ngành sử dụng dầu như một nguyên vật liệu không thể
thay thế được như vận tải, năng lượng, khai thác. Bên cạnh đó, dầu còn là một nhân tố
có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế thế giới, điều này được minh chứng khá cụ
thể sau khi thế giới trải qua hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1973-1974 và
2005-2006 khiến cho nền kinh tế trên toàn cầu đi vào suy thoái. Chính vì điều này đã
khiến cho chủ đề ảnh hưởng của giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô hay là ảnh hưởng
của giá dầu đến thị trường chứng khoán nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều học
giả trên thế giới. Cụ thể như những nghiên cứu của Jones và Kaul (1996), Huang
(1996), Sadorsky (2001) về ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán các
nước phát triển như Anh, Mỹ, Canada và Nhật Bản, hay là Ciner (2001) về mối quan
hệ của giá dầu đến biến động giá chứng khoán tại thị trường chứng khoán Mỹ và Anh.
Bên cạnh những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán hay
các yếu tố kinh tế vĩ mô của các nước phát triển cũng có một số các nghiên cứu về ảnh
hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán các nước đang phát triển như Basher và
Sadorsky (2006), Maghyereh (2004) hay Masih, Peters, De Mello (2011). Trong khi đó
đó thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường dầu mỏ Việt Nam cũng được đánh
giảm mạnh trong quý I năm 2015, cụ thể trị giá mặt hàng xăng dầu xuất khẩu quý
I.2015: 1.292.781.000 USD so với trị giá mặt hàng xăng dầu xuất khẩu quý I.2014:
1.957.690.323USD, mức giảm giá trị từ mặt hàng xăng dầu do ảnh hưởng của giá dầu
thế giới là -34%.
1
Thông tin được thu thập từ cổng thông tin bộ tài chính Việt Nam báo cáo giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua
các năm website:
2
Thông tin thu thập từ bộ năng lượng Hoa Kỳ :
3
Hình 1.1 Giá dầu thế giới giai đoạn 04.01.2010 cho đến 10.06.2015 (Nguồn
website tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC): )
Oil Price
130
120
110
100
90
80
70
60
50
40
I
II III IV
2014
I
II
2015
Hình 1.2 Chỉ số giá cổ phiếu của một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu
khí (Nguồn sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) )
Vn-index
650
600
550
500
450
400
350
300
I
II III IV
2010
I
II III IV
2011
4
Theo dữ liệu được thu thập từ sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE),
về giá chỉ số VN-INDEX đại diện cho thị trường chứng khoán Việt và giá dầu thô thu
thập từ tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) hình 1.1 và 1.2 cho thấy rằng
dường như thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chịu nhiều ảnh hưởng bởi giá dầu thế
giới và có xu hướng di chuyển cùng chiều với giá dầu thế giới. Tuy rằng Việt Nam có
quỹ bình ổn giá dầu tuy nhiên phải đối mặt với sự biến động cực kỳ cao của giá dầu thế
giới luôn khiến cho chính phủ Việt Nam luôn phải có những điều chỉnh về giá dầu nội
địa một cách thích hợp nhằm hạn chế bớt sự ảnh hưởng mạnh mẽ của giá dầu thế giới
đến nền kinh tế Việt Nam, việc điều chỉnh này được thực hiện theo nghị định số
83/2014/NĐ-CP và thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC tuy nhiên những
ảnh hưởng của sự biến động giá dầu thế giới dù có bị giảm bớt ảnh hưởng bởi quỹ bình
ổn giá dầu tuy nhiên cũng tạo được những ảnh hưởng không chỉ nền kinh tế Việt Nam
nói chung mà còn có ảnh hưởng nhất định đến thị trường chứng khoán Việt Nam.
Do đó tại Việt Nam, chủ đề ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán
cũng nhận được một số quan tâm nhất định từ giới học giả cụ thể như nghiên cứu của
PK Narayan, S Narayan (2010), CC Nguyen, MI Bhatti (2012) các kết quả của nghiên
cứu này đều chỉ ra rằng giá dầu có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam và
ảnh hưởng này theo chiều hướng tích cực có nghĩa là khi giá dầu tăng khiến cho thị
trường chứng khoán Việt Nam có xu hướng tăng và ngược lại. Tuy nhiên các nghiên
cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân tích ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường
chứng khoán Việt Nam tức các nghiên cứu trước đây lấy một chỉ số để đại diện cho
toàn thể thị trường chứng khoán Việt Nam khi chịu sự ảnh hưởng của thay đổi giá dầu
chứ ít có nghiên cứu nào tiến hành kiểm tra ảnh hưởng của sự thay đổi giá dầu tác động
như thế nào đến tỷ suất sinh lợi của các ngành, nhóm ngành khác nhau của các doanh
nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hoặc là chưa có một nghiên cứu
nào xem xét đến yếu tố quy mô của các doanh nghiệp niêm niêm yết trên sàn giao dịch
chứng khoán Việt Nam cùng với đó là trong khoảng thời gian trước đây có trên thị
Ảnh hưởng của biến động giá dầu và độ trễ biến động giá dầu đến tỷ suất
sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp có khác nhau khi xem xét đến yếu
tố quy mô hay không?
1.2 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Để trả lời cho các câu hỏi trên tác giả tiến hành thu thập dữ liệu và phân tích
trong giai đoạn năm 2012 cho đến năm 2015. Bài nghiên cứu sử dụng chỉ số giá chứng
khoán của các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành khác nhau và dựa theo cách
phân ngành đã được công bố bởi sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh “danh sách
phân ngành các các công ty niêm yết trên HOSE 2014” thông qua website:
. Dữ liệu giá dầu là giá dầu thô trên thị trường giao ngay được thu
thập từ tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC): được thể
hiện dưới đơn vị tính USD/thùng. Dữ liệu về tỷ giá hối đoái đồng Dollar Mỹ được thu
thập từ ngân hàng thương mại ngoại thương Việt Nam thông qua website
. Lãi suất trái phiếu chính phủ ngắn hạn thời hạn 3
tháng
được
thu
thập
thông
qua
cơ
sở
nghiên cứu đã được đặt ra trong chương I.
Chương IV: Kết quả nghiên cứu.
Trong chương này tác giả sẽ trình bày về kết quả của mô hình đã đựa lựa chọn
trong chương III và cùng với đó là phân tích về kết quả thu được khi tiến hành chạy mô
hình.
Chương V: Kết luận
Tác giả đưa ra kết luận của bài nghiên cứu và hạn chế của bài nghiên cứu.
8
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY
2.1 Mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán
Theo quan điểm của học thuyết Keynes đã chỉ ra rằng có ba loại chính của lạm
phát bao gồm lạm phát cầu kéo, lạm phát chi phí đẩy và lạm phát vốn có. Trong đó
nguyên nhân gây nên lạm phát chi phí đẩy là do sự sụt giảm của tổng cung, diều này có
thể là do yếu tố tự nhiên hoặc do sự tăng giá của nguyên liệu đầu vào. Ví dụ, sự sụt
giảm đột ngột trong việc cung cấp dầu khiến cho giá dầu tăng lên, có thể gây ra lạm
phát chi phí đẩy. Đặc biệt, dầu thô là một trong những mặt hàng có thể gây ra lạm phát
chi phí đẩy được vì dầu được sử dụng trong rất nhiều trong các hoạt động kinh tế như
dầu là nhiên liệu chính cho giao thông vận tải và nền công nghiệp năng lượng. Vì vậy,
dầu ắt hẳn là một đầu vào quan trọng trong nền kinh tế và nếu giá dầu vì bất cứ một lý
do nào đó tăng lên sẽ khiến chi phí đầu vào tăng do đó sẽ dẫn đến sự gia tăng của chi
phí của sản phẩm cuối cùng do đó có thể kéo theo sự gia tăng của lạm phát do chi phí
đẩy. Bởi vì lạm phát tăng cao sẽ khiến cho việc chi phí phải trả cho việc sử dụng vốn
sẽ tăng lên phù hợp với tốc độ tăng của lạm phát. Cụ thể điều này khiến cho lãi suất
huy động của các ngân hàng sẽ tăng và ảnh hưởng không chỉ đến hành vi của người
tiêu dùng, nhà đầu tư mà còn là chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Những
điều này sẽ khiến các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí đầu tư hoặc là tạo ra ít lợi
hoạt động trong nền kinh tế trong nước vì vừa thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và hoạt
động tiêu dùng và khi đó doanh thu của các doanh nghiệp trong nước sẽ tăng do tiêu
dùng tăng và kéo theo đó là lợi nhuận tăng. Ngược lại đối với các nước nhập khẩu dầu
ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán là tiêu cực, cụ thể theo lập luận của
các tác giả Arouri Nguyen 2010; Backus và Crucini 2000; Kim và Loungani 1992 cho
rằng giá dầu tăng sẽ dẫn đến chi phí sản xuất ra các sản phẩm cao hơn bởi vì dầu như là
một trong những yếu tố sản xuất rất quan trọng do đó khi đối mặt với giá dầu tăng các
doanh nghiệp đối mặt với sự gia tăng trong chi phí và doanh nghiệp đối mặt với việc
10
tăng giá bán sản phẩm hoặc đối mặt với sự sụt giảm trong lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp
chuyển giao chi phí do ảnh hưởng của giá dầu cho người tiêu dùng đồng nghĩa với việc
tăng giá bán sản phẩm sẽ khiến nhu cầu thấp hơn và do đó người tiêu dùng ít chi tiêu đi
do việc tăng chi phí khi sử dụng sản phẩm. Bên cạnh đó việc tiêu thụ hàng hóa ít đi có
thể dẫn đến sản xuất thấp hơn và do đó có thể gia tăng tỷ lệ thất nghiệp và ảnh hưởng
tới dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp điều này dẫn đến tác động tiêu cực đến
giá chứng khoán của doanh nghiệp và nếu ảnh hưởng này tác động đến nhiều doanh
nghiệp trên thị trường chứng khoán sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán.
2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
2.2.1 Ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán
Bjornland (2009) tiến hành nghiên cứu tác động của giá dầu lên thị trường
chứng khoán ở một nước xuất khẩu dầu mỏ đó là Na Uy, sử dụng mô hình VAR cấu
trúc (Structural Var) và các biến như lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá, giá dầu
là biến độc lập và giá chứng khoán là biến phụ thuộc để đo lường ảnh hưởng các yếu tố
lên thị trường chứng khoán. Kết quả của tác giả chỉ ra rằng giá dầu có ảnh hưởng lớn
hơn so với các yếu tố như tỷ giá, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát đến thị trường
chứng khoán cụ thể khi giá dầu tăng 10% sẽ khiến giá chứng khoán tăng ngay lập tức
2%-3% và đạt mức tối đa 4%-5% sau 14-15 tháng sau đó.
K.Mohanty, Mohan
Nandha,
Abdullah
Q.Turkistani, Muhammed
Y.Alaitani (2011) tiến hành nghiên cứu về sự thay đổi của giá dầu và biến động giá
chứng khoán trên thị trường các nước GCC. Dữ liệu nghiên cứu được tác gia thu thập
theo tuần bắt đầu từ tháng 06 năm 2005 đến tháng 12 năm 2009. Kết quả của tác giả
đưa ra phù hợp với các kết quả được đưa ra bởi Huang (1996); Jones và Kaul (1996);
Driesprong (2008); Kilian và Park (2009), tác giả tiến hành kiểm tra thực nghiệm mối
quan hệ giữa hai biến sự thay đổi trong giá dầu và sự thay đổi trong giá chứng khoán.
Tác giả lập luận rằng những thay đổi trong giá dầu có thể sẽ có tác động đáng kể đến
nền kinh tế thực của các nước GCC và thị trường chứng khoán thông qua các kênh
khác nhau do những thay đổi trong chi phí sản xuất biên, cũng như những thay đổi
trong chi tiêu của người tiêu dùng.
12
Bert Scholtens, Cenk Yurtsever (2011) tiến hành phân tích những phản ứng của
các ngành công nghiệp châu Âu với những cú sốc giá dầu. Tác giả điều tra 38 ngành
công nghiệp ở châu Âu trong giai đoạn từ năm 1983 cho đến 2007. Tác giả sử dụng
nhiều mô hình khác nhau để ước lượng và đánh giá phản ứng của ngành công nghiệp
trước cú sốc giá dầu. Cú sốc giá dầu có thể ảnh hưởng đến giá trị công ty thông qua
ảnh hưởng của cú sốc giá dầu trên cả thu nhập dự kiến và tỷ lệ chiết khấu. Tuy nhiên
tác giả đã không thể cung cấp một câu trả lời cho câu hỏi làm thế nào các ngành công
nghiệp phản hồi lại những cú sốc dầu. Tác giả cho rằng sự phản ứng này phụ thuộc vào
thô (West Texas Intermediate - WTI), dữ liệu được thu thập theo tháng. Chính vì điều
này cho phép chúng tác giả hiểu được rõ ràng hơn mối quan hệ giữa giá dầu và lợi
nhuận chứng khoán. Tiếp đó, tác giả xem xét các mối quan hệ giữa giá dầu và lợi
nhuận chứng khoán bằng cách sử dụng một chuỗi thời gian mô hình hồi quy tiên đoán
dựa trên một mô hình ước lượng được đề xuất bởi Westerlund và Narayan (2012,
2014). Kết quả của tác giả chỉ ra hai ý nghĩa quan trọng, hàm ý thứ nhất liên quan đến
tính chất lịch sử của mối quan hệ giữa giá dầu và biến động giá chứng khoán. Trong
khi cập nhật bằng cách sử dụng các nhịp ngắn của dữ liệu tác giả chỉ ra rằng giá dầu có
thể dược dùng để dự đoán lợi nhuận của chứng khoán, tác giả cho thấy rằng khả năng
dự báo về mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận của chứng khoán vẫn được giữ ngay
cả khi chúng ta xem xét mối quan hệ này trong một khoảng thời gian mẫu trải dài 150
năm. Hàm ý thứ hai liên quan đến bản chất phi tuyến của các mối quan hệ giữa dầu giá
cả và giá chứng khoán. Tác giả thấy rằng sự thay đổi trong giá dầu dẫn đến những ảnh
hưởng ngược chiều đến biến động giá chứng khoán. Điều này có nghĩa rằng các tín
hiệu được phát ra từ các thị trường dầu là tương đối quan trọng cho việc dự đoán biến
động chứng khoán.
Basher, Sadorsky (2006) tiến hành bài nghiên cứu nhằm nục đích để đóng góp
cho lý thuyết về những tác động của thay đổi giá dầu trong những biến động của thị
trường chứng khoán mới nổi, dữ liệu của bài nghiên cứu này được tác giả thu thập bao
gồm giá chỉ số giá chứng khoán theo dạng chuỗi dữ liệu ngày trên 21 thị trường tài
14
chính mới nổi, dữ liệu được thu thập từ nguồn dữ liệu từ Datadtream bắt đầu từ ngày
31 tháng 12 năm 1992 đến ngày 31 tháng 10 năm 2005. Những quốc gia trong nghiên
cứu này là Argentina (ARG), Brazil (BRA), Chile (CHL),Colombia (COL), India
(IND), Indonesia (IDN), Israel (ISR), Jordan (JOR), Korea (KOR),Malaysia (MYS),
Mexico (MEX), Pakistan (PAK), Peru (PER), Philippines (PHL), Poland (POL), South
Africa (ZAF), Sri Lanka (LKA), Taiwan (TAI), Thailand (THA), Turkey (TUR) và
chứng khoán.
Jungwook Parka, Ronald A. Ratti (2008) nghiên cứu về tác động của cú sốc giá
dầu và biến động giá dầu tới lợi nhuận chứng khoán thực của Mỹ và 13 quốc gia châu
Âu trong khoảng thời gian tháng 01 năm 1986 đến tháng 12 năm 2005, bằng cách sử
dụng mô hình một phân tích vector tự hồi quy VAR. Tác giả tìm thấy bằng chứng thực
nghiệm chứng tỏ rằng cú sốc giá dầu có ảnh hưởng đáng kể và có nghĩa về mặt thống
kê trên lợi nhuận thực chứng khoán ngay trong cùng tháng xảy ra cú sốc giá dầu hoặc
trong trễ hơn một tháng so với thời điểm xảy ra cú sốc giá dầu. Tác giả chỉ ra rằng cú
sốc giá dầu thực tính được bằng giá dầu thực của thế giới thay vì giá dầu thực quốc gia
và giá dầu thực này có ảnh hưởng đáng kể và có ý nghĩa về mặt thống kê đến lợi nhuận
thực của chứng khoán trên tất cả các nước trong dữ liệu nghiên cứu, điều này ngụ ý
rằng những dự đoán về cú sốc giá dầu sẽ có hiệu ứng lan tỏa và ảnh hưởng đến hầu hết
các nước trong mẫu dữ liệu của tác giả và nó được phản ánh thông qua sự thay đổi của
giá chứng khoán. Khi hiệu ứng lan tỏa xảy ra, cú sốc giá giá dầu có tác động tiêu cực
và có ý nghĩa về mặt thống kê lên giá chứng khoán tại nền kinh tế Anh. Kết quả phân
rã phương sai cho thấy khi xảy cú sốc giá dầu cho một kết quả có ý nghĩa về mặt thống
kê và giải thích đến 6% của sự biến động trong lợi nhuận chứng khoán thực. Tác giả
chỉ ra rằng các kết quả là khác cho hiệu quả của cú sốc giá dầu lên giá chứng khoán
khác giữa các quốc gia, đối với nhiều nước châu Âu sự tăng lên trong sự biến động của
giá dầu có ảnh hưởng đáng kể đến áp lực giá chứng khoán thực trả giảm trong tháng
hoặc tháng tới. Tác giả cho rằng đối với Hoa Kỳ và các quốc gia châu Âu đóng góp của
các cú sốc giá dầu vào sự biến động của lợi nhuận của chứng khoán thực sự là lớn hơn
16
hơn so với ảnh hưởng của lãi suất. Một một gia tăng độ lệch chuẩn trong thế giới giá
dầu thực có ảnh hưởng đáng kể đến việc tăng lãi suất ngắn hạn ở Mỹ và 8 trong số 13
nước châu Âu với độ trễ một tháng hoặc hai tháng
Rumi Masiha, Sanjay Peters, Lurion De Mello (2011) tiến hành thu thập số liệu
định có ảnh hưởng đến các chỉ số thị trường chứng khoán cụ thể là bán cổ phiếu.
Abdallah Fayyad, Kevin Daly (2010) tiến hành thu thập dữ liệu hàng ngày lấy
từ thị trường chứng khoán của bảy nước bao gồm Kuwait, Oman, United Arab
Emirates (UAE), Bahrain, Qatar, Anh và Mỹ, và giá dầu giao ngay. Dữ liệu được thu
thập từ giai đoạn ngày 21 tháng 09 năm 2005 đến ngày 12 tháng 02 năm 2010 và tác
giả mô hình tự hồi quy VAR để kiểm tra tác tác động của sự thay đổi giá dầu lên thị
trường chứng khoán các nước GCC, Anh và thị trường chứng khoán Mỹ. Để nghiên
cứu tập trung vào các mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán chứng
khoán, dữ liệu được tác giả chia làm giai đoạn bao gồm giai đoạn giá dầu ít có biến
động, giai đoạn giá dầu tăng và giai đoạn giá dầu giảm. Các kết quả của tác giả cho
thấy rằng. Biến động của giá dầu không thể dự đoán được biến động của thị trường
chứng khoán các nước GCC, Anh và thị trường chứng khoán Mỹ trong giai đoạn đầu
tiên. Tuy nhiên, sau khi giá dầu tăng mạnh trong giai đoạn thứ hai, biến động của giá
dầu dầu có thể dự đoán được thị trường chứng khoán Kuwait, UAE và thị trường
chứng khoán Mỹ nhưng không thể dự đoán được thị trường chứng khoán Qatar,
Bahrain, Oman và Anh. Trong giai đoạn ba tất cả biến động giá chứng khoán thuộc tất
cả các thị trường đều có thể được dự đoán bởi sự biến động giá dầu ngoại trừ Kuwait
và Bahrain. Các phản ứng xung chỉ ra rằng trong giai đoạn kỳ đầu tiên, phản ứng của
thị trường chứng khoán các nước GCC trước các cú sốc giá dầu là yếu và không đáng
kể. Trong giai đoạn thứ hai và thứ ba thị trường chứng khoán của các nước GCC, Mỹ
và Anh chịu sự ảnh hưởng đáng kể hơn rất nhiều so với giai đoạn đầu tiên. Tóm lại kết
quả cho thấy rằng giá dầu có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán các nước
GCC và thị trường chứng khoán Anh, Mỹ thêm vào đó là mức độ của giá dầu đến các
thị trường chứng khoán là khác nhau.
18
Yu dong Wang, Chong feng Wu, Li Yang (2013) tiến hành nghiên cứu để so
sánh các tác động của các cú sốc giá dầu trên thị trường chứng khoán ở các nước nhập