BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI HUY CƯỜNG
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
NGHỆ AN NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2016
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI HUY CƯỜNG
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
NGHỆ AN NĂM 2015
CHUYÊN NGÀNH: TCQLD
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Xuân Thắng
Thời gian thực hiện: 18/7/2016 – 18/11/2016
1.1. KHÁI NIỆM DANH MỤC THUỐC VÀ XÂY DỰNG DANH MỤC
THUỐC BỆNH VIỆN .............................................................................................. 3
1.1.1. Khái niệm Danh mục thuốc .......................................................... 3
1.1.2. Các bước xây dựng danh mục thuốc bệnh viện ............................ 3
1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ...................... 6
1.2.1. Phương pháp phân tích ABC ........................................................ 7
1.2.2. Phương pháp phân tích VEN ........................................................ 8
1.2.3. Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN (hay ABC/VEN).... 10
1.2.4. Phương pháp phân tích nhóm điều trị ......................................... 11
1.3. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DANH
MỤC THUỐC.......................................................................................................... 12
1.3.1. Trên thế giới ................................................................................ 12
1.3.2. Tại Việt Nam............................................................................... 13
1.4. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC BỆNH VIỆN Ở VIỆT
NAM......................................................................................................................... 14
1.5. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO, CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG
DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN .................................................................... 17
1.6. GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN NỘI TIẾT NGHỆ AN................................ 19
1.6.1. Bệnh viện Nội tiết Nghệ An........................................................ 19
1.6.2. Khoa Dược .................................................................................. 21
1.7. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI .................................................................. 22
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 23
2.1.ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU...................... 23
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................. 23
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu..................................................................... 23
2.2.2. Các biến số nghiên cứu ............................................................... 23
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu ...................................................... 26
2.2.4. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu ...................................... 30
phương pháp ABC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BHYT
Bảo hiểm y tế
BV
Bệnh viện
BYT
Bộ Y Tế
DMT
Danh mục thuốc
GTSD
Giá trị sử dụng
HĐT
Hội đồng thuốc
HĐT&ĐT
Bảng 3.12.
Bảng 3.13.
Bảng 3.14.
Bảng 3.15.
Bảng 3.16.
Bảng 3.17.
Bảng 3.18.
Trang
Các bước xây dựng và thực hiện danh mục thuốc bệnh viện ....... 5
Một số hướng dẫn về phân loại VEN ........................................... 9
Phối hợp phân tích ABC và phân loại VEN ............................... 10
Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An năm 2015 phân
loại theo mã ICD 10.................................................................... 20
Các chỉ số phân tích danh mục thuốc ......................................... 29
Cơ cấu DMT sử dụng năm 2015 theo nhóm tác dụng dược lý .. 31
Cơ cấu về số lượng và giá trị sử dụng nhóm Hormon và các
thuốc tác động vào hệ nội tiết ..................................................... 34
Cơ cấu DMT sử dụng năm 2015 tại bệnh viện Nội tiết NA theo
nguồn gốc, xuất xứ ..................................................................... 35
Cơ cấu DMT sử dụng năm 2015 theo thuốc đơn/đa thành phần . 35
Cơ cấu DMT sử dụng theo tên gốc, tên thương mại, tên biệt dược 36
Cơ cấu DMT sử dụng theo quy chế thuốc gây nghiện - hướng tâm thần ... 37
Cơ cấu DMT sử dụng theo phân loại thuốc tân dược, thuốc chế
phẩm YHCT................................................................................ 37
Cơ cấu DMT sử dụng theo đường dùng ..................................... 38
Cơ cấu DMT sử dụng theo quy định thuốc cần hội chẩn ........... 39
Cơ cấu DMT sử dụng theo TT 01/2012/TTLT-BYT-BTC ........ 40
Cơ cấu DMT sử dụng chia theo kết quả thầu năm 2015 ............ 41
cả về số lượng và chủng loại. Điều này giúp cho việc cung ứng dễ dàng và
thuận tiện hơn tuy nhiên cũng gây ra nhiều khó khăn, lúng túng trong việc
chọn lựa, sử dụng thuốc ở các bệnh viện. Chính vì vậy một danh mục thuốc
hiệu quả sẽ mang lại lợi ích rất lớn.Trong lĩnh vực cung ứng, nó giúp cho
việc mua sắm dễ dàng hơn, đảm bảo thuốc có chất lượng, giá cả phù hợp.
Trong lĩnh vực kê đơn, sử dụng các bác sỹ sẽ tập trung được nhiều kinh
nghiệm khi số lượng thuốc ít đi, hạn chế sử dụng và thay thế thuốc bất hợp
lý. Để phản ánh hiệu quả của việc xây dựng danh mục thuốc và hoạt động
mua sắm cũng như có cái nhìn tổng thể về việc sử dụng thuốc tại Bệnh viện,
cần tiến hành phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng trong một khoảng
thời gian nhất định.
Bệnh viện Nội tiết Nghệ An là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh trực
thuộc Sở Y tế Nghệ An. Bệnh viện có chức năng và nhiệm vụ: Vừa tham mưu
cho Giám đốc Sở Y tế đề ra các chỉ tiêu, giải pháp vừa trực tiếp triển khai và
chỉ đạo tuyến y tế cơ sở trong toàn tỉnh thực hiện các giải pháp đề hoàn thành
các chỉ tiêu, nhiệm vụ phòng, chống các bệnh rối loạn nội tiết chuyển hóa trên
địa bàn toàn tỉnh.
Hàng năm bệnh viện sử dụng một số lượng khá lớn thuốc để phục vụ
công tác khám chữa bệnh, do đó tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả,
hợp lý đang là vấn đề cấp thiết hiện nay. Để thực hiện mục tiêu này, không
thể thiếu nhiệm vụ quan trọng là lựa chọn được danh mục thuốc bệnh viện
hợp lý. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào phân tích về danh
1
mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Nội tiết Nghệ An. Do đó, tôi tiến hành đề
tài: "Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An
năm 2015” với mục tiêu:
Phân tích cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện Nội tiết
và xây dựng danh mục thuốc là 1 nhiệm vụ của HĐT&ĐT [6].
Theo thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ Y Tế quy
định về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT trong bệnh viện, các bước xây
dựng danh mục thuốc được tiến hành như sau:
Khoa Dược (KD) sẽ xây dựng DMT bệnh viện và thông qua Hội đồng
thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) góp ý chỉnh sửa, sau khi HĐT&ĐT thống nhất,
khoa Dược tổng hợp thành danh mục dự thảo và trình lên Giám đốc bệnh viện
xem xét và ký duyệt ban hành danh mục chính thức. Việc lựa chọn danh mục
thuốc trong bệnh viện phải căn cứ vào các yếu tố sau:
3
- Mô hình bệnh tật (MHBT) của địa phương và cơ cấu bệnh tật do bệnh
viện thống kê hàng năm;
- Trình độ cán bộ và theo danh mục kỹ thuật mà bệnh viện được thực hiện;
- Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh do Bộ
Y Tế (BYT) ban hành;
- Khả năng kinh phí của bệnh viện: ngân sách Nhà nước, thu một phần
viện phí và Bảo Hiểm y tế (BHYT);
- Xem xét một số tiêu chí như an toàn, hiệu quả điều trị, hiệu quả - chi
phí hoặc nguồn cung ứng tại chỗ.
DMT bệnh viện phải được rà soát, bổ sung, hiệu chỉnh hàng năm cho
phù hợp với tình hình thực tế điều trị.
Các yếu tố liên quan đến hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc
được khái quát trong hình 1.1 như sau:
Mô hình bệnh tật
Phác đồ điều trị
Bước 1
Giới thiệu các khái niệm cần thiết để có được sự ủng hộ của Ban
giám đốc bệnh viện
Bước 2
Thành lập HĐT&ĐT
Bước 3
Xây dựng các chính sách và quy trình
Giai đoạn 2: Xây dựng danh mục thuốc
Bước 4
Xây dựng hoặc lựa chọn các phác đồ điều trị
Bước 5
Thu thập các thông tin để đánh giá lại danh mục thuốc hiện tại
Bước 6
Phân tích mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc
Bước 7
Đánh giá lại các nhóm thuốc và xây dựng phác thảo DMTBV
đây là quy định của bệnh viện [1].
Bước tiếp theo của HĐT&ĐT là xây dựng hoặc lựa chọn các nhóm
thuốc cho DMTBV. Trước khi xây dựng danh mục, cần thu thập những dữ
liệu cần thiết để phân tích các mô hình sử dụng thuốc hiện có. Các thông tin
cần thu thập trước khi xây dựng DMTBV: Tổng giá trị tiền thuốc đã sử dụng
trong năm trước, tỷ lệ giá trị tiền thuốc so với tổng chi phí của bệnh viện, số
lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử dụng tại bệnh viện, giá trị của thuốc
bị huỷ trong năm, tên của thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại của
thuốc đã được thu thập, số lượng các ca tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm sử
dụng, thuốc giả, thuốc kém chất lượng đã được thông tin [40].
Trong giai đoạn tiếp theo, HĐT&ĐT cần xây dựng một cuốn Cẩm nang
DMT. Thông tin trong cuốn cẩm nang nhằm giúp cán bộ Y tế trong bệnh viện,
đặc biệt là bác sỹ hiểu được hệ thống DMT và chức năng của HĐT&ĐT [1].
Giai đoạn cuối cùng trong quá trình xây dựng DMTBV là duy trì DMT.
Việc sử dụng thuốc không hợp lý vẫn xảy ra ngay cả khi có một DMT lý
tưởng. Vì vậy để tăng cường kê đơn hợp lý cần có hướng dẫn điều trị chuẩn
hay phác đồ điều trị [40].
1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
Để giải quyết vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong bệnh viện, bước
đầu tiên cần phải đo lường, phân tích và hiểu được nguyên nhân sâu xa của các
vấn đề. Theo tổ chức Y tế thế giới, có 3 phương pháp chính để làm rõ các vấn đề
sử dụng thuốc tại bệnh viện mà HĐT&ĐT nên thường xuyên sử dụng, đó là:
- Thu thập thông tin ở mức độ cá thể: những dữ liệu này được thu thập từ
người không kê đơn để có thể xác định được những vấn đề xung quanh liên quan
đến sử dụng thuốc. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là thường không
có đủ thông tin để có thể điều chỉnh thuốc sử dụng phù hợp với chẩn đoán.
- Các phương pháp định tính: như tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn
sâu vấn đề và bộ câu hỏi sẽ là những công cụ hữu ích để xác định nguyên
nhân của vấn đề sử dụng thuốc.
Bước 6. Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản
phẩm bắt đầu với sản phẩm thứ nhất, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo
trong danh sách.
7
Bước 7. Phân nhóm như sau:
- Nhóm A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80 % tổng giá trị tiền;
- Nhóm B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20 % tổng giá trị tiền;
- Nhóm C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 - 10 % tổng giá trị tiền.
Về số lượng, nhóm A chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, nhóm B
chiếm 10 – 20% và còn lại là nhóm C chiếm 60 -80% [6],[32].
1.2.1.3. Vai trò và ý nghĩa của phân tích ABC
Từ phân tích ABC có thể chỉ ra các thuốc được sử dụng nhiều mà thuốc
thay thế có giá thấp hơn sẵn có trong danh mục hoặc trên thị trường, có thể
lựa chọn các thuốc thay thế có chỉ số chi phí - hiệu quả tốt hơn, hoặc xác định
các liệu pháp điều trị thay thế, tiếp đến có thể đàm phán với các đơn vị cung
cấp với mức giá thấp hơn.
Áp dụng phương pháp này giúp đo lường mức độ tiêu thụ thuốc, phản
ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vì vậy có thể xác định được việc
sử dụng thuốc chưa hợp lý dựa vào lượng thuốc tiêu thụ và mô hình bệnh
tật. Bên cạnh đó phân tích ABC có thể xác định việc mua sắm các thuốc
không nằm trong DMT thiết yếu của bệnh viện, ví dụ các thuốc không nằm
trong DMT bảo hiểm.
Tóm lại, phân tích ABC có ưu điểm là có thể xác định được những
thuốc nào chiếm phần lớn chi phí dành cho thuốc, nhưng nhược điểm lớn nhất
của phương pháp này là không cung cấp được các thông tin để có thể so sánh
các thuốc về sự khác biệt hiệu quả điều trị [32].
1.2.2. Phương pháp phân tích VEN
Thiết yếu
(E)
Không thiết
yếu (N)
% số người mắc bệnh
>5%
1-5%
5
1-5
Có thể
Có
Luôn luôn Thường xuyên Có thể/ không
Có hiệu quả đã được chứng minh
Không
bao giờ
Hiệu quả điều trị không rõ ràng
9
Hiếm khi
Có thể
1.2.2.2. Ý nghĩa của phân tích VEN
Phân tích VEN là 1 phương pháp đặc biệt giúp cho nhà quản lý bệnh
viện đưa ra ưu tiên trong mua sắm và dự trữ thuốc [32]. Kết quả của phân tích
VEN giúp xác định những chính sách ưu tiên cho việc lựa chọn, mua thuốc và
sử dụng trong hệ thống, quản lý hàng tồn kho và xác định sử dụng thuốc với
giá cả phù hợp. Cụ thể:
Về lựa chọn thuốc, các thuốc V và E nên được đưa ra ưu tiên lựa chọn,
đặc biệt là khi ngân sách hạn hẹp.
Về mua sắm thuốc: các thuốc V và E cần phải được kiểm soát thường
xuyên khi đặt hàng, và dự trữ thường xuyên các thuốc này, giảm dự trữ các
BE
BN
C
CV
CE
CN
10
Từ đây có 3 nhóm:
Nhóm I: Gồm AV, BV, CV, AE, AN
(Giám sát ở mức độ cao hơn vì cần nhiều ngân sách hoặc cần cho điều trị)
Nhóm II: BE, CE, BN
(Giám sát ở mức độ thấp hơn)
Nhóm III: CN
(Giám sát ở mức độ thấp hơn, không cần thiết phải dự trữ nhiều) [30], [32].
Việc phân tích ABC–VEN đã được đưa vào thông tư số 21/2013/TTBYT ban hành ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế là một trong những phương pháp
phân tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy
trình xây dựng DMTBV, cung cấp cho HĐT&ĐT các dữ liệu quan trọng để
quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào cần thiết và thuốc nào ít
quan trọng hơn.
1.2.4. Phương pháp phân tích nhóm điều trị
Các bước thực hiện:
DANH MỤC THUỐC
1.3.1. Trên thế giới
Vilfredo Pareto là người đầu tiên lý thuyết Pareto 20/80 trong quản trị
doanh nghiệp, tức là 80% tổng tiền dành cho mua sắm 20% lượng hàng hóa
và phân loại hàng hóa thành các nhóm ABC [28]. Nhờ phân tích đơn giản
nhưng quan trọng này mà có thể đưa ra hình ảnh rõ nét về tình hình hiện tại
giúp cho quá trình quản lý được dễ dàng.
Một nghiên cứu tại bệnh viện ở Indonesia năm 2012 sử dụng phân tích
ABC cho các thuốc được mua năm 2010. Sau khi phân tích ABC cho thấy
một loại thuốc mê có chi phí cao nhất, sau đó đã đưa ra đề xuất với bệnh viện
nên có những phân tích và lựa chọn hợp lý các thuốc gây mê khác để đảm bảo
tiết kiệm nhưng vẫn hiệu quả [29].
Một nghiên cứu của Mỹ (1982) sau khi phân tích ABC, để tiết kiệm chi
phí những thuốc trong nhóm A (chiếm 80% tổng số tiền) mà có giá thành cao
thì có thể tìm nhà cung cấp khác với cùng thuốc nhưng giá thấp hơn [37].
Trong một nghiên cứu tại Canada (1986), sau phân loại các thuốc vào nhóm
A, B và C, đã có chiến thuật thay đổi tần suất đặt hàng với từng nhóm. Cụ thể
các thuốc nhóm A được đặt hàng hàng tuần, còn thuốc nhóm B và C đặt hàng
12
với tần suất thấp hơn. Kết quả là hiệu quả kiểm soát hàng tồn kho tăng lên
đáng kể (50%) sau khi tiến hành can thiệp.
1.3.2. Tại Việt Nam
Việc phân tích ABC đã được đưa vào thông tư số 21/2013/TT-BYT
ban hành ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế là một trong những phương pháp phân
tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình
xây dựng DMTBV [6].
Nghiên cứu của Nguyễn Hằng Nga (2008) đã thực hiện phân tích ABC
ABC/VEN. Sau khi phân tích ABC/VEN 541 hoạt chất , kết quả thu được như
sau: ở nhóm A có 9 hoạt chất bị loại bỏ khỏi danh mục, nhóm B có 13 hoạt
chất bị loại khỏi danh mục và nhóm C có 145 hoạt chất bị loại khỏi danh mục
[27]. Có thể thấy nghiên cứu này đã đưa ra những kết quả rất có ý nghĩa đối với
bệnh viện, những thuốc không cần thiết đối với bệnh viện đã được loại khỏi
danh mục, tiết kiệm được chi phí dành cho thuốc của bệnh viện.
Tại Bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2013: 4 nhóm sử dụng
kinh phí lớn nhất là thuốc kháng sinh (20,3% kinh phí), thuốc điều trị ung thư
chiếm 21,7%, thuốc tim mạch chiếm 15%, thuốc đường tiêu hóa chiếm
10,5%. Thuốc nhóm A chiếm 18,5% khoản mục tương đương giá trị sử
dụng 73,8%. Thuốc nhóm B chiếm 71,8% khoản mục tương đương giá trị sử
dụng 24,7%. Thuốc nhóm C chiếm 9,7% khoản mục tương đương giá trị sử
dụng 1,5%. Thực hiện quy chế chuyên môn: 100% ghi đầy đủ thông tin bệnh
nhân; trên 90% bệnh án ghi đủ tên thuốc, nồng độ; 100% bệnh án đánh số
thứ tự ngày dùng thuốc với thuốc có quy đinh đánh số thứ tự ngày dùng
thuốc. Một số nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp sử dụng phân tích
ABC, VEN, để kịp thời phát hiện và can thiệp những tồn tại và bất hợp
lý trong sử dụng thuốc, tăng cường quản lý sử dụng kháng sinh dự phòng
cho phẫu thuật, giảm số lượng thuốc trung bình trong một đơn [13].
1.4. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC BỆNH VIỆN Ở
VIỆT NAM
Trong những năm gần đây, giá trị tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số kinh phí bệnh viện. Các báo cáo của Bộ Y tế qua các năm cho
thấy tiền mua thuốc cho các BV tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với
tổng kinh phí các BV. Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh
năm 2009-2010 của Cục Quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, tổng giá trị
tiền thuốc sử dụng trong BV chiếm tỷ trọng 47,9% (năm 2009) và 58,7%
(năm 2010) tổng giá trị tiền viện phí hằng năm trong BV [11].
14
thanh toán thuốc bảo hiểm Y tế (BHYT) trong cả nước năm 2010 cho thấy
trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn nhất có cả thuốc bổ trợ là
L-ornithin-L-aspartate, Glucosamine, Ginkgobiloba, Arginine, Glutathion.
15
Trong đó hoạt chất L-ornithin-L-aspartate nằm trong số 5 hoạt chất chiếm tỷ
lệ lớn nhất về giá trị thanh toán [22]. Để khắc phục tình trạng chỉ định rộng
rãi các thuốc này, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã có công văn số
2503/BHXH-DVT ngày 02/07/2012 yêu cầu không thanh toán theo chế độ
BHYT khi sử dụng các thuốc nêu trên như thuốc bổ thông thường, chỉ thanh
toán khi thuốc được sử dụng phù hợp với các công văn hướng dẫn có liên
quan của Cục Quản lý dược các chỉ định của thuốc đã được phê duyệt và tình
trạng bệnh nhân. Đối với các trường hợp bệnh có nhiều lựa chọn thuốc, cơ sở
khám chữa bệnh lựa chọn thuốc hợp lý, tránh sử dụng thuốc có giá thành cao,
chi phí điều trị lớn không cần thiết để đảm bảo hiệu quả sử dụng thuốc phù
hợp với khả năng chi trả của quỹ BHYT [23].
Một nghiên cứu năm 2009 chỉ ra rằng nhóm thuốc hỗ trợ tiêu hóa có
giá trị sử dụng lớn tại tất cả các bệnh viện, đặc biệt là các thuốc hỗ trợ điều trị
bệnh gan mật (như L-ornithin-L-aspartate, Arginine). Sản phầm chứa Lornithin-L-aspartate dạng tiêm tại một BV trung ương có giá trị sử dụng là 21
tỷ, chiếm 25,3% nhóm thuốc tiêu hóa. Tại các BV trung ương và tuyến tỉnh,
nhóm thuốc giải độc và dùng trong trường hợp ngộ độc cũng chiếm tỷ lệ cao
về giá trị và phần lớn giá trị của các nhóm này tập trung vào các thuốc có giá
thành cao, hiệu quả không rõ ràng như Glutathion, Alfoscerat [13].
Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu
Trong năm 2012 Cục quản lý Dược đã tổ chức thành công diễn đàn
“Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”. Đây là một trong những
giải pháp quan trọng hỗ trợ cho ngành Dược Việt Nam phát triển bền vững,
bảo đảm nguồn cung ứng thuốc phòng, chữa bệnh cho nhân dân và không lệ