Phân tích thực trạng xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện phụ sản thanh hóa năm 2015 - Pdf 41

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XÂY DỰNG
DANH MỤC THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN THANH HÓA NĂM 2015

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2016


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XÂY DỰNG
DANH MỤC THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN THANH HÓA NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60 72 04 12

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Văn Thúy
Thời gian thực hiện : 07/2016-11/2016



MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN .........................................................................................3
1.1. HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN, XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC .........3
1.1.1.
Các yếu tố liên quan đến hoạt động lựa chọn và xây dựng danh
mục thuốc ...........................................................................................................3
1.1.2.

Quy trình lựa chọn xây dựng danh mục thuốc ...............................8

1.2. VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG
DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.....................12
1.2.1.
Về quy trình xây dựng Danh mục thuốc tại các bệnh viện hiện
nay …………………………………………………………………………...12
1.2.2.

Về Danh mục thuốc xây dựng tại các bệnh viện hiện nay ...........15

1.3. BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THANH HÓA...................................................17
1.3.1.

Lịch sử hình thành ..........................................................................17

1.3.2.

Sơ đồ tổ chức của Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa........................18


2.2.3.

Các biến số nghiên cứu ...................................................................24

2.3. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU ................................................29
2.4. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, XỬ LÝ SỐ LIỆU ................................30
2.5. TRÌNH BÀY SỐ LIỆU..............................................................................32
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................33


3.1. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC CỦA
BVPSTH NĂM 2015 ...........................................................................................33
3.1.1. Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT năm 2015 của BVPSTH ......33
3.1.2. Phân tích các hoạt động cụ thể trong xây dựng DMT của BVPSTH
năm 2015 ..............................................................................................................36
3.2. PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN ĐÃ ĐƯỢC XÂY
DỰNG TẠI BPSTH NĂM 2015 .........................................................................43

3.2.1. Phân tích cơ cấu DMTBV năm 2015…………………………….43
3.2.2. So sánh DMTBV năm 2015 với DMT sử dụng thực tế
năm 2015 ………………………………………………………………...47
Chương 4. BÀN LUẬN ...........................................................................................52
4.1. QUY TRÌNH XÂY DỰNG DMT TẠI BVPSTH NĂM 2015 ................52
4.2. DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN ĐÃ XÂY DỰNG TẠI BVPSTH
NĂM 2015 ............................................................................................................58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................64
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………..


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Danh mục thuốc

DMTBV

Danh mục thuốc bệnh viện

DMTCY

Danh mục thuốc chủ yếu

DMTTY

Danh mục thuốc thiết yếu

DMXD

Danh mục xây dựng

HĐT&ĐT

Hội đồng Thuốc và Điều trị

MHBT

Mô hình bệnh tật

SLHC

Số lượng hoạt chất


TRANG
9
19

Hóa
Bảng 2.3

Các biến số phân tích một vài hoạt động cụ thể trong

25

xây dựng DMT
Bảng 2.4

Các biến số phân tích DMTBV đã được xây dựng năm

27

2015
Bảng 2.5

Phương pháp thu thập số liệu

29

Bảng 3.6

Các thành phần trong HĐT&ĐT của BVPSTH năm



Thuốc các khoa lâm sàng đề nghị tại BVPSTH năm

41

2014


Bảng 3.12

Các thuốc gây ra ADR, thuốc giả/kém chất lượng hoặc

42

thuốc có cảnh báo về độ an toàn, tác dụng không
mong muốn năm 2014
Bảng 3.13

Cơ cấu DMTBV 2015 theo nhóm tác dụng dược lý

43

Bảng 3.14

Tỷ lệ thuốc chủ yếu/thiết yếu trong DMTBV của

45

BVPSTH năm 2015
Bảng 3.15

50


DANH MỤC HÌNH

STT

TÊN HÌNH

TRANG

Hình 1.1.

Các yếu tố để xây dựng danh mục thuốc

3

Hình 1.2.

Mô hình bệnh tật của hệ thống bệnh viện

4

Hình 1.3.

Chu trình tác động của Hướng dẫn điều trị

5

chuẩn và DMT lên kết quả chăm sóc và người

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc chữa bệnh là một loại hàng hóa đặc biệt cần được sử dụng an
toàn, hợp lý và hiệu quả. Các nghiên cứu đã cho thấy việc sử dụng không hợp
lý thuốc là một vấn đề phổ biến ở tất cả các cơ sở khám chữa bệnh và đặc biệt
là tại các bệnh viện [24]. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính
làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe và
giảm uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh. Hiện nay việc sử dụng thuốc bất
hợp lư đang xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Tại Việt Nam, với những chính sách mở cửa theo cơ chế thị trường và đa
dạng hóa các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong phú
cả về số lượng và chủng loại. Theo số liệu thống kê hằng năm, tổng giá trị
thuốc sử dụng tăng lên qua các năm, đạt 2775 triệu USD vào năm 2013, trong
đó trị giá thuốc sản xuất trong nước là 1300 triệu USD (chưa bao gồm giá trị
thuốc xuất khẩu); trị giá thuốc nhập khẩu là 1845 triệu đồng (chưa bao gồm
giá trị nguyên liệu làm thuốc nhập khẩu) [9]. Điều này giúp cho việc cung
ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng dễ dàng và
thuận tiện hơn. Song mặt khác, nó cũng gây ra khó khăn và lúng túng trong
việc lựa chọn thuốc chữa bệnh trong bệnh viện và cả cộng đồng. Đối với mỗi
bệnh viện, một hệ thống danh mục thuốc có hiệu quả sẽ đem lại lợi ích rất lớn
trong công tác khám chữa bệnh. Trong lĩnh vực cung ứng thuốc, nó giúp cho
việc mua sắm thuốc dễ dàng hơn, lưu trữ thuận tiện hơn, đảm bảo chất lượng
hơn và cấp phát dễ dàng hơn. Với việc kê đơn thì sẽ tập trung được nhiều
kinh nghiệm hơn khi số lượng thuốc ít đi; sẽ không có các phương án thay thế
thuốc bất hợp lý; việc thông tin thuốc được trọng tâm và xử trí ADR dễ dàng
hơn. Chi phí thuốc sẽ hợp lý hơn bởi giá cả thấp hơn và cạnh tranh hơn. Với
việc tư vấn, giáo dục có trọng tâm và cải thiện được mức độ sẵn có giúp cho
việc sử dụng thuốc trên người bệnh được tốt hơn [24]. Hội đồng Thuốc

1


hợp mô hình bệnh tật, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của
từng bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh. Những loại thuốc này
trong phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất
định luôn có sẵn bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng
bảo chế thích hợp, giá cả hợp lý” [1].
1.1.1. Các yếu tố liên quan đến hoạt động lựa chọn và xây dựng danh
mục thuốc
Các yếu tố liên quan đến hoạt động lựa chọn và xây dựng danh mục
thuốc được khái quát theo hình 1.1.
Mô hình bệnh tật tại bệnh
viện

Hướng dẫn điều trị (phác đồ
điều trị)

Chính sách quốc gia về
thuốc: DMTTY; DMTCY

Trình độ kỹ thuật chuyên
môn tại bệnh viện

Khả năng chi trả của người
bệnh, quỹ bảo hiểm y tế

- DMT sử dụng năm trước
- Đề nghị của các khoa LS

Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện

Danh mục thuốc bệnh viện

Hình 1.2. Mô hình bệnh tật của hệ thống bệnh viện
1.1.1.2. Hướng dẫn điều trị chuẩn
“Hướng dẫn điều trị chuẩn là văn bản chuyên môn có tính pháp lý. Nó
được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu
trong điều trị học mỗi loại bệnh. Một phác đồ điều trị có thể có một hoặc
nhiều công thức điều trị khác nhau.”[1].
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), các tiêu chí của một Hướng dẫn điều
trị chuẩn về thuốc bao gồm:
- Hợp lý: Phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc còn hạn sử dụng.

4


- An toàn: không gây tai biến, không làm cho bệnh nặng thêm, không có
tương tác thuốc.
- Hiệu quả: dễ dùng, khỏi bệnh hoặc không để lại hậu quả xấu hoặc đạt
được mục đích sử dụng thuốc trong thời gian nhất định.
- Kinh tế: chi phí điều trị thấp nhất.
Nếu chỉ đơn thuần tuân thủ theo DMT sẽ không cải thiện được chất
lượng điều trị nếu như việc lựa chọn không dựa trên Hướng dẫn điều trị
chuẩn. Sẽ là lý tưởng nếu các DMT được xây dựng dựa trên cơ sở các hướng
dẫn điều trị các bệnh thường gặp. Ở nhiều nước trên thế giới, khi bắt đầu xây
dựng DMT thì đã có sẵn những hướng dẫn điều trị hoặc những tài liệu tương
tự để tham khảo và sử dụng. Sơ đồ ở hình 1.3 chỉ ra mối quan hệ giữa Hướng
dẫn điều trị chuẩn, DMT và chỉ ra những tác động của chúng đến việc sử
dụng và dự trữ thuốc [24].
Danh mục bệnh thường gặp

Lựa chọn điều trị


Việt Nam đã ban hành Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần VI ban hành
kèm theo Thông tư số 45/2013/TT-BYT ngày 26/12/2013 bao gồm 466 tên
thuốc hoạt chất tân dược, chia thành 29 nhóm thuốc theo tác dụng dược lý [8].
Danh mục TTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách
của Nhà nước về: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và
chữa bệnh cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong danh mục TTY và
là cơ sở để xây dựng danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh
[8].
1.1.1.4. Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh
Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh là cơ sở để lựa
chọn, đảm bảo nhu cầu điều trị và thanh toán cho các đối tượng người bệnh,
bao gồm cả người có thẻ bảo hiểm y tế. Để phù hợp với thực tế sử dụng thuốc
tại các cơ sở khám chữa bệnh, danh mục thuốc ngày càng hoàn thiện và bám
sát thực tế sử dụng. Hiện nay, danh mục thuốc chủ yếu đang được áp dụng tại
Việt Nam gồm 2 danh mục: thuốc tân dược và thuốc y học cổ truyền.
6


Từdanh mục thuốc chủ yếu ban hành theo quyết định 03/2005/QĐ-BYT
được bổ sung sửa đổi theo quyết định 05/QĐ-BYT, cho đến nay danh mục
thuốc chữa bệnh chủ yếu đang được áp dụng là:
- Danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế (ban
hành kèm theo Thông tư số 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 của Bộ trưởng
Bộ Y tế) bao gồm: 845 hoạt chất tân dược, 57 mục thuốc hoạt chất phóng xạ
và hợp chất đánh dấu [10].
- Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền
thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT (ban hành kèm theo Thông tư
05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế) bao gồm: 229 mục
thuốc đông y và thuốc từ dược liệu; 349 mục vị thuốc y học cổ truyền [11].
Đây là cơ sở quan trọng để các cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng danh

năng chính của HĐT&ĐT được tóm tắt như sau:
- Tư vấn cho bác sỹ, dược sỹ và các nhà quản lý
- Xây dựng các quy trình và chính sách thuốc
- Đánh giá và lựa chọn thuốc để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
- Xây dựng Hướng dẫn điều trị chuẩn
- Phân tích các vấn đề sử dụng thuốc trong điều trị
- Tiến hành các biện pháp can thiệp nhằm cải thiện chất lượng sử dụng
thuốc
- Xử trí các phản ứng có hại của thuốc (ADR ) và sai sót điều trị
- Phổ biến thông tin [7].
1.1.2. Quy trình lựa chọn xây dựng danh mục thuốc
DMT bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế
hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả. DMT
bệnh viện được xây dựng hàng năm theo định kỳ và có thể bổ sung hoặc loại
bỏ thuốc trong DMT bệnh viện trong các kỳ họp của HĐT&ĐT bệnh viện.
Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng một quy trình để xây dựng và thực
hiện một danh mục thuốc trong bệnh viện mới gồm 4 giai đoạn chính: Quản
8


lý hành chính, xây dựng danh mục thuốc, xây dựng cẩm nang danh mục thuốc
và duy trì danh mục thuốc[25]. Tổ chức Y tế thế giới cũng đã hướng dẫn kỹ
từng bước tiến hành rất cụ thể đối với từng giai đoạn. Trong giai đoạn xây
dựng DMT, các bước thực hiện được thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1.1. Các bước xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
Các bước

Thực hiện

Bước 1

DMT sử dụng tại bệnh viện. Việc các nhóm thuốc được lựa chọn đưa vào
DMTcó thể được phân nhóm theo nhiều cách khác nhau: mục đích điều trị;
tác dụng dược lý của thuốc; cấu trúc hóa học của thuốc….[25]. Cách phân
loại thuốc đưa vào DMT không thống nhất ở từng quốc gia trên thế giới, song
tại các bệnh viện, để thuận tiện cho việc sử dụng của cán bộ y tế, thuốc đưa

9


vào DMT thường được phân loại theo mục đích điều trị [25]. Khi xây dựng
lựa chọn các nhóm thuốc theo mục đích điều trị để đưa vào DMT thì cơ sở
quan trọng là mô hình các bệnh tật và các phác đồ điều trị đang sử dụng tại
bệnh viện. Không phải HĐT&ĐT nào cũng xây dựng được các phác đồ điều
trị riêng cho bệnh viện mình. Dù vậy đối với những bệnh viện chưa tự xây
dựng được các phác đồ điều trị riêng, HĐT&ĐT cũng nên thống nhất được
việc sử dụng hoặc tham khảo những hướng dẫn điều trị hay các tài liệu
chuyên môn tương tự tại bệnh viện.
Bước hai là quá trình thu thập và phân tích một số thông tin cần thiết để
giúp HĐT&ĐT đánh giá các thuốc trước khi đưa vào DMT [25]. Các thông
tin cần thu thập bao gồm: mô hình bệnh tật của bệnh viện; cập nhật các nguồn
thông tin thuốc mới nhất; các báo cáo sử dụng thuốc năm trước [25]. Các
thông tin trên được phân tích để đánh giá lại DMT hiện đang sử dụng tại bệnh
viện. DMT đó đã đáp ứng được nhu cầu điều trị các bệnh phổ biến, thường
gặp tại bệnh viện hay chưa? Theo các nguồn thông tin thuốc mới cập nhật
trong các thuốc đang sử dụng có những thuốc nào có cảnh báo nguy cơ gây
ADR, cảnh báo về chất lượng thuốc, thuốc nào được cập nhật tác dụng
mới,…Các thông tin này phải được tham khảo từ các tài liệu chuyên môn,
nghiên cứu trên lâm sàng đáng tin cậy, của Sở Y tế hoặc Bộ Y tế, không đơn
thuần là thông tin quảng cáo từ các nhà sản xuất. Báo cáo sử dụng thuốc năm
trước để phân tích các tình hình thực tế sử dụng thuốc tại bệnh viện: Tổng giá

dựng phác thảo một DMTBV. Việc đánh giá lại các nhóm thuốc đã lựa chọn
trên các khía cạnh hiệu quả điều trị, độ an toàn và chi phí sử dụng là điều
quan trọng và thực sự cần thiết. Kết quả ở bước này sẽ tác động lên chi phí
điều trị và là cơ sở cho việc cải thiện kinh tế cho ngân sách bệnh viện [25].
DMTBV có thể được xây dựng phác thảo bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng
phổ biến nhất thường là tất cả các thuốc hiện đang sử dụng tại bệnh viện đều

11


được đưa vào DMT, sau khi đánh giá, xem xét có thể loại bỏ hoặc bổ sung
các thuốc.
Bước năm là bước phê duyệt DMT sử dụng tại bệnh viện. Sau khi
HĐT&ĐT đã đánh giá, lựa chọn xong các nhóm thuốc và xây dựng nên dự
thảo DMT sử dụng tại bệnh viện. DMT dự thảo được trình lên ban lãnh đạo
bệnh viện để phê duyệt.
Bước sáu là quá trình phổ biến về DMTBV cho các cán bộ nhân viên y
tế trong bệnh viện kèm các lưu ý, hướng dẫn sử dụng DMTBV. Bên cạnh đó
cần phải hướng dẫn các cán bộ y tế về: quá trình xây dựng, quy định bổ sung
hoặc loại bỏ thuốc khỏi danh mục, quy định sử dụng thuốc không có trong
danh mục và kê đơn thuốc tên generic.
1.2.

VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1. Về quy trình xây dựng Danh mục thuốc tại các bệnh viện hiện nay
Có thể nói rằng việc lựa chọn xây dựng DMT là một bước then chốt và
có vai trò quan trọng tiên quyết, ảnh hưởng tới hiệu quả của việc cung ứng
thuốc trong bệnh viện nói chung và sử dụng thuốc hợp lư an toàn nói riêng

- Xây dựng danh mục thuốc và phân loại các thuốc trong danh mục theo
nhóm điều trị và theo phân loại VEN;
- Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục (ví dụ như: thuốc
hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần,…).
Mặc dù vậy, hoạt động lựa chọn xây dựng DMT tại các bệnh viện hiện
nay phần lớn chưa được quy trình hóa, chủ yếu bao gồm ba giai đoạn chính:
đầu tiên là phân tích DMTBV đã sử dụng trong năm trước để xác định những
ưu điểm và nhược điểm nhằm rút kinh nghiệm chuẩn bị xây dựng DMTBV
năm sau; tiếp theo sẽ tổ chức thẩm định các thuốc đề nghị bổ sung từ các khoa
lâm sàng để lựa chọn và bổ sung các thuốc vào DMTBV; cuối cùng là
HĐT&ĐT thông qua DMTBV đã được lựa chọn [14]. Tuy nhiên, hầu hết các
bệnh viện chỉ tập trung quan tâm đến kinh phí sử dụng thuốc và số thuốc sử
13


dụng ngoài kế hoạch năm trước: thuốc có trong DMTBV nhưng không được
sử dụng và thuốc sử dụng ngoài DMTBV. Các thông tin về chất lượng thuốc
và độ an toàn của thuốc chỉ được một số bệnh viện phân tích [22].
Phân tích ABC, phân tích VEN hay phân tích ma trận ABC/VEN đã bắt
đầu được sử dụng tại Việt Nam để đánh giá thực trạng sử dụng thuốc tại các
bệnh viện hiện nay, đánh giá lại các DMT bệnh viện đã xây dựng. Việc phân
tích này đã chỉ ra vẫn còn tồn tại nhiều loại thuốc hiệu quả điều trị không rõ
ràng trong DMT nhưng lại được tiêu thụ với số lượng lớn và chiếm tỷ trọng
không nhỏ trong kinh phí mua thuốc [14]. Một nghiên cứu tại Bệnh viện
Nhân dân 115 đã sử dụng ma trận ABC/VEN để làm cơ sở thực hiện can thiệp
vào việc xây dựng DMT. Nghiên cứu đạt kết quả đáng kể khi giảm tới 167
chủng loại thuốc trong tổng số 541 thuốc trong DMT bệnh viện [23]. Tuy
nhiên, theo nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự năm 2009 trên 38
bệnh viện đa khoa (7 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 14 bệnh viện tuyến
tỉnh và 17 bệnh viện huyện/quận) đại diện cho 6 vùng trên cả nước cho thấy

Một DMT được xây dựng tốt có thể giúp loại bỏ được các loại thuốc
không an toàn và không hiệu quả do đó có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử
vong đồng thời giúp giảm số lượng thuốc được mua sắm dẫn đến giảm tổng
số tiền chi tiêu cho thuốc, giảm số ngày nằm viện. DMTBV sẽ giúp cung cấp
thông tin thuốc tập trung và có trọng tâm, giúp cho chương trình tập huấn
giáo dục được diễn ra thường xuyên liên tục. Một DMT được xây dựng tốt sẽ
tiết kiệm chi phí và sử dụng hợp lý nguồn tài chính đồng thời cải thiện chất
lượng chăm sóc y tế tại bệnh viện [24].
Theo các báo cáo kinh phí sử dụng thuốc trong bệnh viện thường chiếm
tỷ trọng rất lớn trong tổng ngân sách của một bệnh viện, nó có thể chiếm tới
40-60% đối với các nước đang phát triển và 15-20% đối với các nước phát
triển[14]. Tại Việt Nam, theo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2010 của
Cục quản lý khám chữa bệnh Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh
viện chiếm tỷ trọng 58,7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện
15


[5]. Theo thống kê nhiều năm cho thấy tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện
thường chiếm 60% ngân sách của bệnh viện [3]. Điều này cho thấy kinh phí
sử dụng thuốc ở các bệnh viện nước ta vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ngân
sách bệnh viện, đòi hỏi DMTBV phải ngày càng hoàn thiện hợp lý hơn để góp
phần giảm chi phí điều trị. Một thực tế hiện nay tại các bệnh viện, trong
DMTBV có tỷ lệ thuốc chủ yếu khá cao, nhưng tỷ lệ thuốc thiết yếu lại khá
thấp. Điều này cho thấy, trong khi lựa chọn thuốc đưa vào DMTBV, mặc dù
các bệnh viện đã tuân thủ tốt những quy định của Bộ Y tế đối với việc đáp
ứng nhu cầu điều trị cho người bệnh, đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh
cho người tham gia BHYT, song cần phải quan tâm tăng tỷ trọng các thuốc
thiết yếu trong DMTBV nhằm giảm bớt chi phí điều trị cho bệnh nhân.
DMTBV của các bệnh viện hiện nay phần lớn đã đáp ứng nhu cầu điều
trị của các bác sỹ. Tuy nhiên, do chưa có chu trình lựa chọn thuốc xây dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status