BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ THUẬN NGUYÊN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
THANH HÓA NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2015
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ THUẬN NGUYÊN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH
HÓA NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK60720412
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Song Hà
Nơi thực hiện: Trường Đại Học Dược Hà Nội
Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa
Thời gian thực hiện: 19/01/2015 – 19/5/2015
HÀ NỘI 2015
1.1.
3
SỬ DỤNG THUỐC TRONG HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC CỦA BỆNH VIỆN
1.1.1. Vài nét về hoạt động cung ứng thuốc
3
1.1.2. Hoạt động sử dụng thuốc
4
1.2.
6
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU TRONG
SỬ DỤNG THUỐC
1.2.1. Phương pháp phân tích ABC
6
1.2.2. Phương pháp phân tích nhóm điều trị
7
17
2.1.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
17
2.2.
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
17
2.3.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
17
2.3.1
Thiết kế nghiên cứu
17
2.3.2. Phương pháp chọn mẫu và kỹ thuật lấy mẫu
18
27
3.1.1
Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm điều trị
27
3.1.2
Phân tích ABC
32
3.1.3
Phân tích VEN
35
3.1.4
Phân tích ma trận ABC/ VEN
38
3.2.
PHÂN TÍCH MỘT SỐ THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
CỦA BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HÓA NĂM 2014
TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HÓA NĂM 2014
48
4.1.1
Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm điều trị
49
4.1.2. Về phân tích ABC
50
4.1.3. Về phân tích VEN
51
4.1.4. Phân tích ma trận ABC/VEN
52
4.2.
53
PHÂN TÍCH MỘT SỐ THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT THANH HÓA
4.2.1. Một số chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện
Bảo hiểm y tế
BN
Bệnh nhân
BV
Bệnh viện
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
BVNTTH
Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa
BVNTTW
Bệnh viện Nội tiết Trung ương
BYT
Bộ Y tế
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
Khám chữa bệnh
QĐ
Quyết định
SL
Số lượng
TB
Trung bình
TL %
Tỷ lệ %
TT
Thông tư
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1
25
Bảng 3.2.
28
Bảng 3.3.
Cơ cấu thuốc trong nhóm hormone và các thuốc tác động
vào hệ nội tiết
Cơ cấu về số lượng và giá trị thuốc trong nhóm tim mạch
Bảng 3.4.
Kết quả phân tích ABC
30
Bảng 3.5.
Kết quả phân tích ABC theo nhóm tác dụng điều trị
31
Bảng 3.6.
Kết quả phân tích VEN
33
Bảng 3.13. Tỷ lệ thuốc nhóm Hormone và các thuốc tác động vào hệ
nội tiết kê trong đơn
40
Bảng 3.14
Tỷ lệ đơn kê thuốc tiêm Insulin
41
Bảng 3.15
Chi phí trung bình của một đơn thuốc
42
28
Bảng 3.16. Chi phí kê đơn thuốc nội tiết
43
Bảng 3.17. Chi phí các thuốc trong nhóm hormone và các thuốc tác
dụng vào hệ nội tiết
43
Bảng 3.18. Tình hình thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú tại bệnh viện
Cơ cấu thuốc trong nhóm hormone và các thuốc tác dụng
vào hệ nội tiết
27
Hình 3.2
Cơ cấu về số lượng và giá trị thuốc nhóm tim mạch
29
Hình 3.3
Biểu đồ về 3 nhóm thuốc A, B, C
30
Hình 3.4
Biểu đồ phân tích V, E, N
33
Hình 3.5
Tỷ lệ % số lượng thuốc nội tiết so với tổng số thuốc kê
đơn
35
tiết khác
tim
tiêm
mạch
Insulin
Lượng
Tiên
Lượng
Tiền Lượng
Tiền Lượng
Tiền
Nội dung 1: Ghi đầy đủ họ tên BN
Nội dung 8: Ghi đủ hàm lượng
Nội dung 2 Ghi địa chỉ BN số nhà,
Nội dung 9: Ghi đủ liều dùng
3. Bộ Y Tế (2001), Quy chế bệnh viện, nhà xuất bản y học.
4. Bộ môn Dược lực (2008) , Giải phẫu sinh lý người, NXBY học Hà Nội.
5. Bộ Y Tế (2008) thực hiện QĐ 04/2008/QĐ-BYT ngày 01tháng 2 năm
2008. “ Ban hành qui chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú” .
6. Bộ Y Tế (2013), Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của Hội
đồng thuốc và điều trị.’’ Thông tư 21/12013-TTBYT ngày 8/8/2013
7. Bộ Y Tế 23/2011/TT-BYT ” Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ
sở y tế có giường bệnh”
8. Bộ Y Tế 22/2011/TT-BYT ”Quy định tổ chức và hoạt động của khoa
Dược bệnh viện”
9. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2012), Về việc thanh toán theo chế độ
BHYT đối với 5 loại thuốc, số 2503/BHXH-DVT ngày 02/07/2012.
10. Bộ y tế- Cục quản lý dược (2013), chính sách phát triển thị trường
dược phẩm Việt Nam giai đoạn 2020-2030 ngày 27 tháng 12 năm 2013.
11.Bộ Y Tế (2012) , Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2012,nhiệm vụ và
các giải pháp thực hiện trong năm 2013.
12. Bộ y tế ( 2007), Quản lý và kinh tế dược,Giáo trình Pháp chế hành
nghề dược, NXB y học Hà Nội
13. Mai khánh Chi (2014) Phân tích hoạt động sử dụng thuốc tại BV Nội
Tiết trung ương. Luận văn thac sĩ Dược học, trường Đại học Dược Hà Nội.
14. Nguyễn Thy Khuê (2007) “ Bệnh đái tháo đường”. Nội tiết học đại
cương. Mai Thế trạch và Nguyễn Thy Khuê.
15. Hoàng Lê Anh Dũng, Trần Hữu Dàng (Năm 2010) “Đánh giá đặc
điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân đái tháo đường mới phát
hiện tại Bệnh viện trung ương Huế”. Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học
Đại hội- Hội nghị Nội khoa Toàn Quốc lần thứ VI.
16. Hoàng Lê Anh Dũng, Trần Hữu Dàng (Năm 2010) “Nghiên cứu biến
chứng ở bệnh nhân đái tháo đường nhập viện lần đầu,, Kỷ yếu toàn văn đề
1.1 Sử dụng thuốc trong hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện
1.1.1 Vài nét về hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện
Hoạt động cung ứng thuốc trong BV là một trong các hoạt động quan
trọng của BV. Để đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa
bệnh khác tại BV được an toàn và hiệu quả, hợp lý, chất lượng, thì công
tác quản lý cung ứng thuốc của khoa Dược BV phải được quan tâm đúng
mức. Cung ứng thuốc trong BV là một hoạt động mang tính chất chu trình
bao gồm bốn hoạt động chính: lựa chọn, mua sắm, cấp phát và sử dụng
thuốc.
Quy trình cung ứng thuốc trong BV được tóm tắt theo sơ đồ hình 1.1.
Lựa chọn
Thông tin
Sử dụng
-Mô hình bệnh tật
Công -Phác đồ điều trị
nghệ -Ngân sách
Khoa
học
Kinh tế
Cấp phát
Hình 1.1 Quy trình cung ứng thuốc
3
dùng thuốc cho BN. Trong điều trị nội trú trường hợp người bệnh đã được
4
lựa chọn thuốc và liều thích hợp, thời gian chỉ định thuốc tối đa không quá
2 ngày đối với ngày làm việc và không quá 3 ngày đối với ngày nghỉ. Ghi
chỉ định thuốc theo trình tự đường tiêm, uống, đặt, dùng ngoài và các
đường dùng khác. Đối với chỉ định thuốc kháng sinh, thuốc phóng xạ,
thuốc gây nghiện hướng tâm thần, corticoid, thuốc điều trị lao phải đánh
số thứ tự.
Việc kê đơn, chỉ định dùng thuốc phải được kê đơn theo đúng quy
định về kê đơn thuốc [5], [7].
Bộ y tế đã ban hành “Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại
trú” để tăng cường sự an toàn, hiệu quả và hợp lý trong công tác kê đơn
tại các bệnh viện trên cả nước. Theo điều 60 Luật khám chữa bệnh quy
định: khi kê đơn thuốc, bác sĩ phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc
thông tin về thuốc, hàm lượng, liều dùng, cách dùng và thời gian dùng
thuốc. Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với chẩn đoán bệnh, tình trạng
bệnh của người bệnh [24].
Bên cạnh đó, việc kê đơn cần lưu ý đến sự tương tác thuốc, đó là
hiện tượng xảy ra khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc, thuốc này
làm thay đổi tác dụng hoặc đặc tính của thuốc kia dẫn tới hậu quả có lợi
hoặc bất lợi đối với cơ thể người dùng thuốc [1].
Mục đích của việc sử dụng nhiều thuốc trên một bệnh nhân trong
cùng một thời gian là để đạt mục tiêu điều trị mong muốn hoặc để chữa
nhiều bệnh cùng một lúc. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thuốc được
phối hơp quá nhiều là không cần thiết. Khi dùng đồng thời nhiều thuốc,
bác sĩ đứng trước vấn đề phối hợp thuốc như vậy có thể dẫn đến tương tác
thuốc hay không. Nhiệm vụ của bác sĩ là phải hiểu những nguyên lý cơ
giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những nhóm
thuốc nào [20].
1.2.2. Phân tích danh mục thuốc theo nhóm điều trị
Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị nhằm:
- Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và
chi phí nhiều nhất.
6
- Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề
sử dụng thuốc bất hợp lý.
- Xác định những thuốc đã bị lam dụng hoặc những thuốc có chi phí
hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu
pháp điều trị thay thế.
Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho môi nhóm diệu trị chi phí
cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi
phí hiệu quả cao [20].
1.2.3 Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp VEN
Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt
động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không
đủ để mua toàn bộ các thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các
thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau:
- Thuốc V (Vital drugs): là thuốc dùng trong các trường hợp cấp
cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác
khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện.
- Thuốc E (Essential drugs): là thuốc dùng trong các trường hợp
bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trọng trong
mô hình bệnh tật của bệnh viện.
- Thuốc N (Non- Essential drugs): là thuốc dùng trong các trường
1.3. Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở nước ta trong
những năm gần đây
Việc sử dụng thuốc tại các bệnh viện được thực hiện tuỳ thuộc vào
điều kiện nhân lực và trang thiết bị tại từng bệnh viện, hiện nay việc sử
dụng thuốc tại các BV đã có thông tư hướng dẫn về sử dụng thuốc trong
điều trị nội trú tại bệnh viện có giường bệnh [7]. Công tác thông tin thuốc
và theo dõi ADR đã hình thành, nhưng mới hoạt động mạnh ở một số
thành phố lớn, còn tại các bệnh viện ở nhiều địa phương chưa triển khai
hoặc đã triển khai nhưng cơ sở vật chất còn quá nghèo nàn, thiếu DSĐH
làm việc tại các bệnh viện, đặc biệt là BV tuyến huyện. HĐT và ĐT đã
hoạt động thường quy, nhưng chưa thực sự đem lại hiệu quả trong công
tác điều trị, còn mang tính hình thức .
8
Dược lâm sàng (DLS) ở nước ta đã triển khai được hơn 10 năm
nay, tuy nhiên cho đến nay vẫn tập trung ở một số bệnh viện Trung ương
và một số BV lớn ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh như Bệnh viện Bạch
Mai, Bệnh viện Nhân Dân 115, Bệnh viện Chợ Rẫy. Khoa Dược các BV
đã triển khai công tác DLS, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hiệu quả,
nhưng nhìn chung chức năng này còn khá mờ nhạt, công việc chủ yếu vẫn
là xây dựng DMT sử dụng trong BV và tham mưu cho Lãnh đạo bệnh
viện trong công tác đấu thầu thuốc. Các BV tuyến tỉnh, nhất là là tuyến
huyện thì công tác Dược lâm sàng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều nơi
chưa thực hiện được công tác này, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do thiếu
nhân lực. Tỉ lệ nhân lực khoa Dược so với nhân lực của toàn bệnh viện
đều thiếu, tại bệnh viện Nhi Thái Bình là 7,39%, Bệnh viện Hữu Nghị là
gần 5%, bệnh viện Giao thông vận tải I là 2%, đặc biệt là thiếu Dược sĩ
đại học, do đó công tác DLS đều được làm kiêm nhiệm.
trị ung thư (40,1%), thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
(32,55%), nhóm Hormon và thuốc tác động vào hệ nội tiết (15,17%),
nhóm thuốc tim mạch (9,18%) [22]; BV trung ương Huế : nhóm thuốc
điều trị nhiễm khuẩn, ký sinh trùng (34,84%) , thuốc điều trị ung thư và
điều hòa miễn dịch (14,95%) , thuốc đường tiêu hóa (11,39%) [21]
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương sử dụng phương pháp phân
tích ABC là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt đông của Hội đồng
thuốc và điều trị trong xây dựng và thực hiện DMT tại một số bệnh viện
đa khoa đã nhận thấy các bệnh viện ma sắm tương đối tập trung vào các
thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị ( sử dụng 70% tông kinh phí
để mua sắm 11,2%-13,1% số khoản mục thuốc) . Đây là thuốc có giá trị
và số lượng sử dụng lớn . Vì vây cần ưu tiên mua sắm đồng thời quản lý
chặt chẽ các thuốc thuốc nhóm A[27]
Kết hợp việc phân tích theo nhóm điều trị với việc phân tích ABC,
VEN sẽ cho ta thấy rõ về nhu cầu và thực trạng sử dụng thuốc, giúp cho
việc lựa chọn, loại bỏ những thuốc tiêu thụ chiếm giá trị cao nhưng lại là
thuốc không thiết yếu.
10
Theo nghiên cứu của Huỳnh Hiền Trung đã dùng phân tích ABC/VEN
là một tiêu chí để đánh giá sự cải thiện trong can thiệp chất lượng DMT
tại bệnh viện 115, sau khi sử dụng biện pháp can thiệp và đánh giá vào
năm 2008, theo số lượng thuốc, thuốc nhóm I ( gồm AV, AE, AN, BV,
CV) là nhóm thuốc cần quan tâm đặc biệt vì sử dụng nhiều ngân sách và
cần cho điều trị . Kết quả can thiệp đã thay đổi từ 14,8% năm 2006 xuống
còn 9,1% năm 2008. Nhóm II ( gồm BE, BN, CE) tuy mức độ quan trọng
ít hơn nhóm I nhưng cũng là nhóm thuốc cần giám sát kỹ vì chiếm lượng
ngân sách tương đối lớn và cần cho điều trị giảm từ 57,3% trước can thiệp
chiếm tỷ lệ 4,6%.
Ở Việt Nam, có sự thay đổi rõ rệt về mô hình bệnh tật, tình hình mắc
các bệnh nội tiết đặc biệt là Đái tháo đường có chiều hướng gia tăng.
Năm 2001 tỷ lệ mắc đái tháo đường tại khu vực nội thành của bốn thành
phố lớn là 4,0%. Theo số liệu về cơ cấu số lượt khám chữa bệnh (KCB)
tại cơ sở y tế nhà nước trong Niên giám thống kê năm 2010, xu hướng tỷ
trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao, từ 50,0%
năm 1996 tới 71,6% năm 2010. Ngược lại với xu hướng này là sự giảm đi
nhanh chóng của tỷ trọng số đợt KCB đối với người mắc bệnh truyền
nhiễm. Tỷ trọng số lượt KCB liên quan đến tai nạn, chấn thương, ngộ độc
có xu hướng chững lại. Như vậy, gánh nặng bệnh tật chuyển dịch mạnh
sang các bệnh không lây nhiễm (chủ yếu là bệnh tim mạch, đái tháo
đường, ung thư và bệnh phổi mạn tính). Năm 2012 theo số liệu công bố
tại Hội nghị tổng kết hoạt động của Dự án phòng chống đái tháo đường
quốc gia tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở nước ta là 5,7% [6]. Qua
sàng lọc, năm 2013 phát hiện gần 19.800 người mắc bệnh ĐTĐ và hơn
36.100 người tiền ĐTĐ, chiếm 17,3%.
Theo điều tra dịch tễ học của trung tâm Nội Tiết Thanh Hóa năm
2001 tại 5 Phường xã trên địa bàn thành phố Thanh Hóa tuổi từ 30- 64
chiếm tỷ lệ 3,2%. Năm 2004 nghiên cứu 23 xã trong toàn tỉnh cho thấy tỷ
lệ đái tháo đường chiếm 4,0%.
Cùng với bệnh tiểu đường, bệnh bướu cổ cũng là bệnh về nội tiết có tỷ lệ
gia tăng trong những năm vừa qua. Theo một con số thống kê chưa đầy
12