BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ BÍCH HỢP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN A TỈNH THÁI NGUYÊN
NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ BÍCH HỢP
Với lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn chân
thành nhất tới TS. Nguyễn Thị Thanh Hương, người thầy đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Quản lý và kinh tế dược, đặc
biệt là GS.TS. Nguyễn Thanh Bình, PGS.TS. Nguyễn Thị Thái Hằng,
PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà đã truyền đạt cho em phương pháp nghiên cứu
khoa học và nhiều kiến thức chuyên ngành quý báu.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu,
các phòng ban và các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ,
dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Em xin cảm ơn Ban giám đốc, phòng Kế hoạch - Tổng hợp, phòng Tài
chính - Kế toán, khoa Dược Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện
cho em trong quá trình làm đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô, đồng nghiệp
trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất giúp em đi học.
Sau cùng, em xin gửi những lời yêu thương nhất tới gia đình và bạn bè
đã luôn cổ vũ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Bích Hợp MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
3.2.1. Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân viêm phế
quản phổi không xác định điều trị nội trú tại khoa Nội Tổng hợp- Bệnh viện A
tỉnh Thái Nguyên năm 2013. 45
3.2.2. Phân tích thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện A tỉnh Thái
Nguyên năm 2013. 52
Chương 4: BÀN LUẬN 56
4.1. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên năm
2013 56
4.2. Thực trạng sử dụng tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên năm 2013 63
4.2.1. Sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân viêm phế quản phổi không xác
định điều trị nội trú tại khoa Nội Tổng hợp- Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên
năm 2013 63
4.2.2. Thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên
năm 2013 65
KẾT LUẬN 68
1. Thực trạng cơ cấu thuốc sử dụng tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên năm
2013 68
2. Thực trạng sử dụng thuốc 68
2.1. Thực trạng sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân viêm phế quản phổi
không xác định điều trị nội trú tại khoa Nội Tổng hợp- Bệnh viện A tỉnh Thái
Nguyên năm 2013. 69
2.2. Thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú 69
ĐỀ XUẤT 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BN : Bệnh nhân
BVATN : Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên
tác dụng dược lý 34
Bảng 3.7. Các hoạt chất trùng lặp với hoạt chất trong thuốc 35
không được sử dụng 35
Bảng 3.8. Cơ cấu thuốc đơn thành phần và đa thành phần 36
Bảng 3.9. Cơ cấu thuốc đa thành phần theo nhóm tác dụng dược lý 36
Bảng 3.10. Tỷ lệ thuốc mang tên gốc và tên thương mại 37
Bảng 3.11. Cơ cấu thuốc mang tên thương mại theo tác dụng dược lý 37
Bảng 3.12. Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu 38
Bảng 3.13. Nguồn gốc của thuốc nhập khẩu 38
Bảng 3.14. Tỷ lệ thuốc theo đường dùng 39
Bảng 3.15. Cơ cấu thuốc tiêm một số nhóm thuốc 40
Bảng 3.16. Cơ cấu danh mục thuốc theo quy chế chuyên môn 41
Bảng 3.17. Cơ cấu thuốc sử dụng theo khối điều trị 42
Bảng 3.18. Cơ cấu thuốc điều trị ngoại trú 42
Bảng 3.19. Cơ cấu thuốc điều trị ngoại trú theo đường dùng 42
Bảng 3.20. Sử dụng thuốc của các khoa tại BVATN năm 2013 43
Bảng 3.21. GTTT kháng sinh của một số khoa tại BVATN năm 2013 44
Bảng 3.22. Tiền sử sử dụng kháng sinh trước khi nhập viện 45
Bảng 3.23. Các bệnh mắc kèm 46
Bảng 3.24. Phân loại bệnh mắc kèm theo mã ICD-10 46
Bảng 3.25. Danh mục và tần suất sử dụng các kháng sinh 47
Bảng 3.26. Thời gian sử dụng kháng sinh và thời gian điều trị nằm viện 48
Bảng 3.27. Phân loại bệnh nhân nằm viện trên 10 ngày và sử dụng kháng sinh
trên 10 ngày theo nhóm tuổi 48
Bảng 3.28. Đường dùng của kháng sinh 49
Bảng 3.29. Bình quân tiền thuốc 49
Bảng 3.30. Hiệu quả điều trị 50
Bảng 3.31. Số lượng kháng sinh sử dụng trong đợt điều trị 50
Bảng 3.32. Sự thay đổi kháng sinh trên bệnh nhân 51
chiếm 32,7%, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt Nam có tỷ lệ các
bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng
sinh vẫn còn phổ biến [18]. Tỷ lệ thuốc nhập khẩu, thuốc theo tên biệt dược
trong danh mục thuốc tại các bệnh viện được nghiên cứu chiếm ưu thế. Việc
sử dụng quá nhiều thuốc thành phẩm có cùng hoạt chất hoặc sử dụng nhiều
thuốc có tác dụng tương tự nhưng với nhiều mức giá khác nhau đang là tình
trạng phổ biến hiện nay tại hầu hết các bệnh viện thuộc các tuyến [56]. Tỷ lệ
đơn thuốc ghi không đầy đủ, rõ ràng nội dung vẫn còn cao. Tình trạng lạm
dụng thuốc, đặc biệt là thuốc bổ trợ, vitamin, không theo dõi đầy đủ tác dụng
phụ có hại của thuốc ngày càng phổ biến và có xu hướng tăng…. Sử dụng
thuốc không hợp lý không chỉ ảnh hưởng tới công tác chăm sóc khám chữa
bệnh mà còn là nguyên nhân làm tăng chi phí đáng kể cho người bệnh, tạo ra
gánh nặng cho nền kinh tế xã hội. Một trong các yếu tố quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng khám và điều trị cho người bệnh là việc sử dụng thuốc
hợp lý, an toàn, hiệu quả. Do đó phân tích hoạt động sử dụng thuốc của các
bệnh viện là việc hết sức cần thiết để phản ánh thực trạng và góp phần nâng
2
cao chất lượng công tác khám chữa bệnh nói chung và nâng cao công tác sử
dụng thuốc nói riêng tại bệnh viện, đồng thời góp phần nâng cao lòng tin của
nhân dân đối với hệ thống y tế.
Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế của các tỉnh trung du
miền núi Đông Bắc. Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên đã ra đời và hoạt động gần
50 năm với số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị ngày càng đông nhưng tại
bệnh viện này chưa có đề tài nào nghiên cứu đánh giá về công tác sử dụng thuốc.
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích hoạt động sử dụng thuốc tại
Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên năm 2013” với các mục tiêu sau:
1. Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên
năm 2013.
2. Phân tích thực trạng sử dụng thuốc:
USD tăng 16,18% so với năm 2008, đáp ứng được 49,01% nhu cầu sử dụng
thuốc của nhân dân. Tiền thuốc bình quân đầu người năm 2009 đạt mức 19,77
USD, tăng 3,32 USD (20,18%) so với năm 2008 và tăng hơn 300% so với
năm 2001. Thuốc sản xuất trong nước đã đạt 234/314 hoạt chất trong danh
mục thuốc thiết yếu, đủ nhóm tác dụng dược lý theo phân loại của Tổ chức Y
tế Thế giới. Trong nước đã sản xuất được một số vắc xin, thuốc điều trị bệnh
tim mạch, tiểu đường… [20].
Theo Ts. Cao Minh Quang, Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam: “tổng giá trị
sử dụng thuốc trong các bệnh viện trên cả nước năm 2010 là 15.300 tỷ đồng,
tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh”[38]. Theo thống kê
của Cục Quản lý Dược Việt Nam, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng năm 2010
đạt 1,9 triệu USD, tăng 13% so với năm 2009. Tốc độ tăng trưởng giá trị tiền
thuốc sử dụng tăng bình quân 18% trong 5 năm 2006-2010, cao hơn nhiều so
với mức tăng trưởng bình quân của ngành Dược toàn cầu (6,2%). Chi phí
thuốc trên đầu người năm 2010 là 22,25 USD, tăng 12,5% so với năm 2009
(19,77 USD) [21].
4
Năm 2011, giá trị thuốc sản xuất trong nước ước tính đạt khoảng 1.140
triệu USD, tăng 24,04% so với năm 2010. Tổng giá trị tiền thuốc ước sử dụng
năm 2011 là 2.432,5 triệu USD tăng 27,45% so với năm 2010[31]. Về cơ bản
hệ thống y tế đã đáp ứng nhu cầu thuốc thiết yếu, vắc-xin cho công tác phòng,
chữa bệnh cho nhân dân. Các cơ sở đều bảo đảm có đủ thuốc phù hợp với
phân tuyến kỹ thuật, không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc ở cộng đồng [24].
Sản xuất thuốc trong nước đáp ứng 47% nhu cầu về thuốc của người dân (về
giá trị sử dụng) [22].
Giá trị thuốc sản xuất trong nước năm 2012 đạt 1200 triệu USD, tăng
5,3% so với năm 2011 [24]. Năm 2012, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại Việt
Nam đạt 2,6 tỷ USD tăng 9,1% so với năm 2011 [25]. Giá trị thuốc nhập khẩu
chiếm 50%. Trong 05 năm, tiền thuốc bình quân đầu người tăng từ 16,45
ngoài, trong trường hợp này, là các sản phẩm của Pháp, hay Đức, Hàn
Quốc…, Vì vậy, hằng năm, Bộ Công Thương vẫn luôn khởi động phong trào
“Người Việt dùng hàng Việt” và Bộ Y tế xây dựng Đề án “Người Việt Nam
ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” với mục tiêu đẩy mạnh việc sử dụng thuốc sản
xuất trong nước tại các cơ sở y tế và trong cộng đồng, góp phần hỗ trợ cho
ngành dược Việt Nam phát triển bền vững, đảm bảo nguồn cung ứng thuốc
phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một cách ổn định và không lệ thuộc vào
nguồn nhập khẩu từ nước ngoài [22]. Để tăng cường việc tiếp cận, sử dụng
thuốc sản xuất trong nước bên cạnh triển khai đồng bộ các giải pháp tại Đề án
"Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam", Bộ Y tế đã có kế hoạch để
triển khai chương trình truyền thông “Con đường thuốc Việt”, "Ngôi sao
thuốc Việt" [27].
Nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, Bộ Y tế đã ban hành
một số văn bản quy chế liên quan đến sử dụng thuốc trong bệnh viện. Chỉ thị
05/2004/CT-BYT ban hành ngày 16 tháng 4 năm 2004 của Bộ Y tế về việc
chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện đã yêu cầu:
6
“đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các
cơ sở khám chữa bệnh, không để người bệnh nội trú phải tự mua thuốc trong
danh mục thuốc chủ yếu ”[4]. Theo thông tư 07/2011/TT-BYT về hướng dẫn
công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, Bộ Y tế quy
định nhiệm vụ của điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện là
“phải phối hợp giữa các bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh viên trong
dùng thuốc nhằm tăng hiệu quả điều trị bằng thuốc và hạn chế sai sót trong
chỉ định và sử dụng thuốc cho người bệnh” [10]. Bộ Y tế ban hành thông tư
23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường
bệnh, trong đó có quy định “khoa lâm sàng có trách nhiệm hướng dẫn, giải
thích cho người bệnh tuân thủ điều trị” [12].
Nhằm tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, Bộ Y tế ban hành
hệ 3 và lạm dụng vitamin; kê quá nhiều thuốc cho người bệnh, dẫn đến nhiều
tương tác thuốc khi điều trị, có bệnh viện kê tới 14-16 thuốc trong một ngày
cho một người bệnh, thậm chí có đơn kê đến 20 loại thuốc trong một ngày
cho bệnh nhân [18]. Tình trạng sử dụng kháng sinh phổ biến (50% đơn thuốc
ngoại trú, tại tuyến huyện lên tới 60%), tỷ lệ dùng kháng sinh tiêm, kết hợp
kháng sinh khá cao trong điều trị nội trú, trong khi không dùng kháng sinh đồ,
dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh ngày càng nghiêm trọng [23].Việc kháng
sinh được sử dụng phổ biến có thể còn do các bác sỹ kê đơn theo kinh nghiệm
và đôi khi họ kê đơn kháng sinh nhằm mục đích phòng bệnh, điều trị theo
kiểu bao vây. Kê đơn kháng sinh thực tế phải dựa vào kháng sinh đồ. Đây là
một xét nghiệm không được dùng phổ biến tại Việt Nam do tốn kém và thời
gian có kết quả lâu (khoảng 3-5 ngày). Việc kê đơn kháng sinh không dựa vào
kháng sinh đồ có thể tạo thói quen kê thuốc kháng sinh phổ rộng, phối hợp
nhiều thuốc kháng sinh cho một bệnh nhân hoặc thay đổi kháng sinh trong
một đợt điều trị. Chi phí về kháng sinh trong toàn viện chiếm hơn 30% tổng
chi phí thuốc điều trị. Hai nhóm kháng sinh chiếm chi phí sử dụng cao nhất
8
hiện nay là Cephalosporin III. IV (50%) và carbapenem (20%) [55]. Theo
nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn, hiệu quả khuyến cáo: chỉ sử dụng
kháng sinh khi có nhiễm khuẩn và thời gian sử dùng kháng sinh thông thường
là 7-10 ngày [5]. Nhưng theo kết quả nghiên cứu của Lưu Đình Thắng, thời
gian sử dụng kháng sinh cephalosporin thế hệ III trong viêm phế quản mãn
tính tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên năm 2012 là 13,4 ± 4,1 (ngày). Kinh
phí sử dụng thuốc kháng sinh tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm
2009 là 26,4% [32]. Theo nghiên cứu của Dương Ngọc Ngà, tại Bệnh viện C
Thái Nguyên năm 2011, giá trị tiêu thụ của nhóm thuốc kháng sinh có tỷ lệ
cao nhất (34,4%) [36]. Vì vậy, nếu không kiểm soát chỉ định thuốc chặt chẽ,
ngoài việc ảnh hưởng tới chi phí khám chữa bệnh, còn là nguyên nhân khiến
hiệu quả điều trị không được như mong muốn [56].
phục vụ công tác điều trị tại bệnh viện [19]. Ứng dụng công nghệ thông tin
trong quản lý và cấp phát thuốc là một tiến bộ lớn của khối dược bệnh viện.
Nhờ vậy công tác cấp phát thuốc cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú được
thực hiện nhanh chóng, hợp lý và hiệu quả. Một số bệnh viện tuyến trung
ương đã thực hiện kê đơn điện tử để nâng cao chất lượng kê đơn, chỉ định
thuốc. Tại bệnh viện Nhân Dân 115 thực hiện kê đơn điện tử, các sai sót
thông tin bệnh nhân giảm từ 98% xuống còn 33,6%; thiếu thông tin về thời
điểm dùng giảm từ 54% xuống 33,5%. Kê đơn điện tử giúp hạn chế sai sót
trong kê đơn, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa bệnh nhân, người kê đơn, dược sỹ
và tất cả nhân viên y tế tham gia vào quá trình quản lý thuốc [43].
1.2. Danh mục thuốc bệnh viện
Việc xây dựng một danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện phù hợp sẽ
mang lại nhiều lợi ích cho bệnh viện nói riêng cũng như toàn xã hội nói chung
[1]. Thông tư 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08/08/2013 quy định về tổ chức
và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện có nêu rõ nguyên
tắc xây dựng danh mục thuốc và tiêu chí lựa chọn thuốc dùng trong bệnh
viện[17]. Trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được thống nhất, mỗi bệnh viện tùy
theo nhiệm vụ điều trị, mô hình bệnh tật, trình độ chuyên môn của cán bộ,
10
nguồn kinh phí, trang thiết bị, chính sách của nhà nước… để xây dựng danh
mục thuốc phù hợp. Hàng năm danh mục thuốc cần được bổ sung, điều chỉnh
cho phù hợp với tình hình thực tế điều trị, phù hợp với khả năng ứng dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật của điều trị [47].
Cơ sở để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện: mô hình bệnh tật, phác
đồ điều trị, chính sách quốc gia về thuốc, danh mục thuốc thiết yếu, danh
mục thuốc chủ yếu, nhu cầu của các khoa phòng và khả năng kinh phí của
bệnh viện.
* Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng
bệnh viện, Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng danh mục sử dụng trong bệnh
viện đáp ứng nhu cầu điều trị trình giám đốc phê duyệt [3].
* Danh mục chủ yếu:
Danh mục thuốc chủ yếu được Bộ Y tế ban hành trên cơ sở danh mục
thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V và Tổ chức Y tế thế giới hiện hành, có
hiệu quả tốt trong điều trị. Mục đích của ban hành danh mục thuốc chủ yếu
nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, đáp ứng nhu cầu điều trị của
người bệnh và phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi
trả của bảo hiểm y tế [8]. Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở
khám chữa bệnh được quỹ bảo hiểm thanh toán được ban hành kèm theo
thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/07/2011. Danh mục thuốc bao gồm
1143 thuốc hay hoạt chất, được sắp xếp theo mã ATC (giải phẫu, điều trị, hóa
học); được ghi theo tên chung quốc tế và theo quy định của Dược thư Quốc
gia Việt Nam gồm các thuốc tân dược, thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu
[13].
* Trình độ chuyên môn, khả năng kinh phí của bệnh viện
Nếu xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện không dựa trên những căn
cứ khoa học thì ngay từ những yếu tố ban đầu của sử dụng thuốc hợp lý đã
không đạt được. Hàng năm danh mục thuốc cần được bổ sung, điều chỉnh cho
12
phù hợp với tình hình thực tế của điều trị, phù hợp với khả năng ứng dụng các
tiến bộ của khoa học kỹ thuật điều trị [47].
Một nghiên cứu tại Bệnh viện Nhân Dân 115 cho thấy việc lựa chọn
thuốc hợp lý trong danh mục đã giảm được hơn 500 triệu đồng trong vòng 6
tháng [41]. Các bệnh viện xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện
căn cứ vào danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh. Về cơ bản danh mục thuốc bệnh viện đáp ứng được nhu cầu
điều trị. Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa, tỷ lệ thuốc chủ yếu trong
danh mục thuốc bệnh viện năm 2009 cũng chiếm tới 91,8% [39]. Tại Bệnh
bệnh viện đã tiếp nhận được rất nhiều bệnh nhân của tất cả các huyện trong
tỉnh ngoài ra còn nhận được nhiều bệnh nhân của các tỉnh lân cận đến khám
chữa bệnh.
Đầu năm 2013, BVATN đã triển khai hệ thống phần mềm quản lý dược
bệnh viện trong thực hiện kê đơn thuốc cho bệnh nhân khám bệnh ngoại trú
và giao phát thuốc nội trú nhưng để hoàn thiện và chính thức đi vào sử dụng
tại bệnh viện từ tháng 10 năm 2013 đến nay. Khi chúng tôi tiến hành thu thập
số liệu về đơn thuốc ngoại trú của tháng 12 năm 2013, hệ thống phần mềm
quản lý dược bệnh viện còn đang trong giai đoạn thử nghiệm.
Năm 2013, bệnh viện thực hiện hơn 164 nghìn lượt khám bệnh và triển
khai 4.755 ca phẫu thuật, điều trị nội trú cho trên 25 nghìn bệnh nhân, đã triển
khai được 07 kỹ thuật lâm sàng và 15 kỹ thuật cận lâm sàng mới, trong đó có
12 kỹ thuật vượt tuyến. Bệnh viện đã phối hợp với bảo hiểm y tế triển khai
quy trình khám bệnh mới theo quyết định 1313/QĐ-BYT ngày 22/4/2013 của
Bộ Trưởng Bộ Y tế, lắp đặt hệ thống phát số tự động, đã giảm số lần xếp hàng,
giảm ùn tắc, giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân, tăng công suất khám chữa
bệnh, giảm tải nội trú. Hàng tháng, phòng khám ngoại trú khám và cấp phát
thuốc cho trên 2000 bệnh nhân tiểu đường, tăng huyết áp và gần 1000 người
bệnh HIV/AIDS; quản lý 260 trẻ nhiễm và phơi nhiễm HIV, cấp thuốc ARV cho
89 trẻ. Bệnh viện là cơ sở y tế khám sức khoẻ ngoại viện định kỳ cho cán bộ,
nhân viên, học sinh, sinh viên các cơ quan, đơn vị trong thành phố Thái Nguyên
14
như trường Đại học Nông Lâm, trường Đại học Công Nghiệp, trường Cao đẳng
Kinh Tế, Đơn vị Phú Sơn IV, công ty trách nhiệm hữu hạn Thái Hưng,…
Thông qua chương trình đề án 1816 của Bộ Y tế, BVATN đã được Viện
Bỏng Quốc gia chuyển giao 02 kỹ thuật cấp cứu và điều trị bỏng. Ngoài ra,
bệnh viện còn được sự hỗ trợ chuyên môn của bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai,
Phụ Sản Trung ương, viện Dinh dưỡng Quốc gia, bệnh viện Hùng Vương
(thành phố Hồ Chí Minh), bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên.
10
Tên chương bệnh Tần suất
Tỷ lệ
(%)
1 O00-O99 Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản 4 303 16,7
2
J00
-
J99
B
ệ
nh h
ệ
hô h
ấ
p
3 827
14,9
3 K00-K93 Bệnh hệ tiêu hóa 2 941 11,4
4
nh h
ệ
sinh d
ụ
c
–
ti
ế
t ni
ệ
u
1 981
7,7
7 A00-B99 Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng 1 577 6,1
8
M00
-
M99
B
ệ
nh cơ xương kh
ớ
p và mô liên k
E90
B
ệ
nh n
ộ
i ti
ế
t, dinh dư
ỡ
ng và chuy
ể
n hóa
582
2,3
14 R00-R99
Những triệu chứng, biểu hiện LS và CLS bất
thư
ờ
ng, không phân lo
ạ
i
ở
nơi khác.
481 1,9
103
0,4
18 F00-F99 Rối loạn tâm thần và hành vi 37 0,1
19 Z00-Z99
Yếu tố ảnh hưởng tình trạng sức khoẻ và việc tiếp
xúc với cơ quan y tế
37 0,1
20 Q00-Q99
Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về
nhiễm sắc thể
34 0,1
21 V01-Y98 Các nguyên nhân ngoại sinh của bệnh và tử vong 11 0,0
T
Ổ
NG S
Ố
25 691
100
Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng, gồm 21
chương bệnh. Có một số chương bệnh chiếm tỷ lệ mắc cao là chương thai nghén,
sinh sản và hậu sản (16,7%), bệnh hệ hô hấp (14,9%), bệnh hệ tiêu hóa (11,4%),
bệnh hệ tuần hoàn (11,3%), chương bệnh chấn thương, ngộ độc và hậu qủa của một
số nguyên nhân bên ngoài chiếm 8,1%.
16
lượt là 05, 10, 15, 20, cho đến khi hết ngày.