BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN ANH TUẤN ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG
DANH MỤC THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA HUYỆN CAN LỘC NĂM 2010 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA I HÀ NỘI - 2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN ANH TUẤN
trình hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.
Cuối cùng, tôi xin được nói lời biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình và bạn
bè, những người luôn ở bên cạnh động vi
ên và giúp đỡ tôi trong học tập cũng
như trong cuộc sống.
Hà Nội ngày tháng 8 năm 2013 Nguyễn Anh Tuấn
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
3
1.1 Các khái niệm
3
1.2 Hội đồng thuốc điều trị
5
1.2.1 Tổ chức của một HĐTĐT
5
1.2.2 Mục tiêu và mục đích của HĐTĐT
6
1.2.3 Chức năng và vai trò của HĐTĐT trong chu trình cung ứng thuốc 7
1.3 Quy trình xây dựng danh mục thuốc
8
3.1 Phân tích quy trình xây dựng danh mục thuốc tại BV CL năm 2010
………………………………………………………………………20
3.1.1 Sơ đồ quy trình
20
3.1.2 Phân tích quy trình 21
3.2. Đánh giá tính thích ứng của danh mục thuốc tiêu thụ tại BV CL
năm 2010……………………………………………………………… 30
3.2.1. Tính thích ứng với quy định của BYT
30
3.2.2 Tính thích ứng qua thực tế sử dụng
32
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN 44
4.1. Quy trình xây dựng danh mục thuốc tại BV CL năm 2010
44
4.2. Hoạt động lựa chọn xây dựng DMT BV
45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADR Phản ứng có hại của thuốc
BV Bệnh viện
BYT Bộ y tế
DMT Danh mục thuốc
DMTBV Danh mục thuốc bệnh viện
DMTCY Danh mục thuốc chủ yếu
DMTTY Danh mục thuốc thiết yếu
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Vai trò của HĐTĐT trong chu trình cung ứng thuốc 8
Hình 1.2: Các yếu tố để xây dựng danh mục thuốc 9
Hình 3.1: Quy trình xây dựng DMT BVĐK Can Lộc năm 2010 20
Hình 3.2: Mẫu đơn xin bổ sung thuốc được sử dụng tại BVĐK Can Lộc 26
Hình 3.3: Biểu đồ cơ cấu các chương bệnh trong MHBT BVCL năm 2010 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trên thế giới, khoảng 70% chế phẩm thuốc trên thị trường là
các chế phẩm t
huốc nhái, sản phẩm ăn theo hoặc là thuốc không thiết
yếu.[18]. Ở Việt Nam những năm vừa qua, số lượng chế phẩm thuốc lưu hành
trên thị trường không ngừng gia tăng. Điều này kéo theo một thực tế, đó là
người kê đơn gặp khó khăn, lúng túng trong việc chọn lựa t
huốc, dẫn đến
dùng thuốc thiếu hợp lý, an toàn và hiệu quả, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến
huyện – nơi mà sự cập nhật các thông tin về các loại thuốc mới còn hạn chế.
Để khắc phục hiện tượng này, danh mục thuốc thiết yếu đã được Bộ Y tế Việt
Nam ban hành và định kỳ sửa đổi nhằm hoàn thiện hơn nữa việc chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân. Song song với đó là hàng loạt những văn bản chỉ đạo
của Bộ Y tế như các thông tư, chỉ thị nhằm chấn chỉnh lại công tác cung ứng,
kê đơn và sử dụng thuốc trong BV. Đặc biệt, việc ban hành thông tư 08/
BYT
– TT ngày 4/7/1997 về việc thành lập Hội đồng thuốc điều trị đã cải thiện
đáng kể công tác Dược trong BV. Nhiệm vụ quan trọng hà
ng đầu của hội
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1 Các khái niệm
Để giúp người đọc hiểu rõ hơn về nội dung cũng như phục vụ tính logic
của đề tài, chúng tôi xin trình bày một số khái niệm được sử dụng trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài đó là:
Mô hình bệnh tật (MHBT)
: MHBT của một xã hội, một cộng đồng,
một quốc gia nào đó sẽ là tập hợp tất cả những tình trạng mất cân bằng về thể
xác, tinh thần dưới tác động của những yếu tố khác nhau, xuất hiện trong
cộng đồng đó, xã hội đó trong một khoảng thời gian nhất định.
“Ở Việt Nam, về mặt mô hình bệnh tật, các bệnh nhiễm khuẩn là những
bệnh phổ biến nhất, kể cả trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai”
MHBT của BV: không giống m
ô hình bệnh tật ở cộng đồng, bệnh
viện(BV) là nơi chữa bệnh (và khám bệnh) cho người mắc bệnh trong cộng
đồng. Mỗi BV có một MHBT riêng. Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có 2
loại MHBT BV:
MHBT của BV chuyên khoa
: chủ yếu là các bệnh chuyên khoa và các
bệnh thông thường
MHBT của BV đa khoa
: chủ yếu là các bệnh thông thường và các
bệnh chuyên khoa
(DMTBV)là kết quả của quá trình lựa chọn
thuốc. Nó chứa các thuốc được phê chuẩn để mua sắm và đưa vào sử dụng tại
cơ sở khám chữa bệnh cụ thể [16,18].
Cẩm nang danh mục thuốc bệnh viện
: là một quyển sách tham khảo
ngắn gọn, súc tích chứa những thông tin cơ bản về mỗi thuốc có trong
DMT. [18]
Hội đồng thuốc và điều trị
(HĐTĐT) là một diễn đàn để tập hợp tất cả
các bên có liên quan nhằm đưa ra quyết định về sử dụng thuốc và có thể duy
trì ở nhiều cấp độ khác nhau trong hệ thống chăm sóc sức khỏe y tế từ tuyến
huyện (tại các cơ sở chăm sóc ban đầu) cho tới các bệnh viện lớn và các cơ sở
khám chữa bệnh tầm cỡ quốc gia. [16]
Phân loại nguồn thông tin:4
Nguồn thông tin cấp I: là các bài báo, công trình gốc đăng tải đầy đủ trên
các tạp chí hoặc đưa lên mạng Internet, các báo chuyên m
ôn, khóa luận tốt
nghiệp của sinh viên, sổ tay phòng thí nghiệm,…Các thông tin này thường do
tác giả công bố các kết quả nghiên cứu của mình mà không có sự can thiệp,
đánh giá của bên thứ hai.
Nguồn thông tin cấp II: bao gồm hệ thống mục lục các thông tin hoặc
các bài tóm tắt của các thông tin thuộc nguồn thông tin thứ nhất, được sắp xếp
theo các chủ đề nhất định.
Nguồn thông tin cấp III: là các thông t
in được xây dựng bằng cách tổng
hợp các thông tin từ hai nguồn thông tin trên. Các nguồn thông tin thứ ba
thường được công bố dưới dạng sách giáo khoa, các bản hướng dẫn điều trị
Tổ chức HĐTĐT:
- Giám đốc BV: Chủ tịch hội đồng
- Trưởng khoa dược: P
hó chủ tịch thường trực hội đồng
- Trưởng phòng kế hoạch tổng hợp: thư ký hội đồng
- Các phó giám đốc: gồm 2 người, ủy viên hội đồng
- Kế toán trưởng: ủy viên không thường trực hội đồng
- Điều dưỡng trưởng: ủy viên hội đồng
- Trưởng khoa nội, sản, ngoại, nhi, truyền nhiễm, phòng khám: ủy viên
hội đồng.
1.2.2 Mục tiêu và mục đích của HĐTĐT:
Mục đích của một HĐTĐT l
à nhằm đảm bảo cho người bệnh được
hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định
xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả ra sao và sử dụng thế nào.
Để đạt được mục đích trên, một HĐTĐT cần phải đạt được những mục
tiêu sau:
- Xây dựng và thực hiện một hệ thống DMT có hiệu quả cả về mặt
điều trị cũng như gi
á thành trong đó bao gồm các hướng dẫn điều trị thống
6
nhất, một danh mục thuốc và cẩm
nang hướng dẫn DMT. Có thể nói đây là
mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất, quyết định tới hiệu quả hoạt động của
một HĐTĐT.
- Đảm bảo chỉ sử dụng những thuốc thỏa mãn các tiêu chí về hiệu quả
điều trị, độ an toàn, hiệu quả - chi phí và chất lượng
- Đảm bảo an toàn thuốc thông qua công tá
c theo dõi, đánh giá và trên cơ
LỰA CHỌN
(Selection)
PHÂN PHỐI
(Distribution)
SỬ DỤNG
(Usage)
HĐTĐT
MUA
THUỐC
MUA BÁN
(Procurement)
Hình 1.1: Vai trò của HĐTĐT trong chu trình cung ứng thuốc
Nhìn vào chu trình cung ứng thuốc ở trên, ta thấy rằng HĐTĐT chỉ đảm
nhận 2 trong 4 khâu của chu trình, đó là khâu đảm bảo lựa chọn thuốc nhằm
xây dựng một hệ thống DMT hợp lý và khâu giám sát sử dụng thuốc trong
BV. HĐTĐT phải phối hợp nhịp nhàng với bộ phận chịu trách nhiệm mua
thuốc và phân phối, có như vậy trình cung ứng thuốc mới được vận hành một
cách trơn tru và hiệu quả.[16
]
1.3 Quy trình xây dựng danh mục thuốc:
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc XD DMT
Việc XD DMT man
Trình độ chuyên môn, kỹ thuật,
kinh phí…
Khả năng chi trả của người
bệnh; quỹ bảo hiểm y tế
DMT BV
Hình 1.2: Các yếu tố để xây dựng danh mục thuốc
1.3.2 Quy trình xây dựng danh mục thuốc chuẩn:[18]
Giai đoạn I: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Bước 1:
Giới thiệu khái niệm và có được sự ủng hộ
Đây là bước đầu tiên trong quy trình XD DMTBV. Trước hết cần phải
có một hệ thống thông tin được đưa ra như: ngân sách thuốc BV, tổng số chế
phẩm thuốc được sử dụng hàng năm, tổng giá trị các thuốc đã hết hạn năm
trước, danh sách các thuốc đắt nhất đã được sử dụng, bằng chứng về các
ADRs,… để các nhà quản lý BV thấy được lợi ích và v
ai trò to lớn của
DMTBV, từ đó quyết định tiến hành xây dựng một DMTBV và có kế hoạnh
thực hiện. Các đối tượng phù hợp để dành được nhiều sự ủng hộ gồm có: các
nhà quản lý y tế tại chính quyền các cấp trung ương và địa phương, đại diện
các tổ chức bảo hiểm y tế, các chuyên gia y tế hàng đầu và các ban cấp phép. 9
Bước 2: Thành lập HĐTĐT tại cơ sở:
Bước 3:
Phát triển các chính sách và thủ tục
Các chính sách và thủ tục nên bao trùm các lĩnh vực sau:
- Các tiêu chí lựa chọn thuốc
- Thêm vào hoặc loại bỏ thuốc khỏi DMTBV
Xếp thứ tự các chẩn đoán ở bước trước (50 chẩn đoán hay 50 lý do
nhập viện)
Tính tỷ lệ phần trăm mỗi chẩn đoán đó trên tổng tỷ lệ bệnh tật. Loại trừ
các bệnh không cần điều trị bằng thuốc danh sách 1.
Sử dụng thông tin mua sắm thuốc, chọn các thuốc được điều trị cho 50
bệnh này, và tính % giá trị của chúng (theo bệnh) t
rên tổng ngân sách thuốc
danh sách 2.
So sánh danh sách 1 và 2 và đưa ra ý kiến về việc sử dụng thuốc có phù
hợp với mô hình bệnh tật hay không.
Tiến hành Phân tích ABC/VEN:
Bước 7
: Chỉ đạo việc xét duyệt nhóm thuốc và tạo một DMT nháp
Đây là bước quan trọng nhất bởi tại bước này, DMT chính thức gần
như được tạo ra. Việc xem xét lại các loại thuốc sẽ tác động đến cả vấn đề
điều trị cũng như vấn đề kinh tế. Do đó khi xem xét thuốc cũng cần xem xét
tới cả 2 khía cạnh: khía cạnh điều trị và khía cạnh kinh tế.
Khía cạnh điều trị: Cần tiến hành một chuyên khảo ngắn bao gồm những
thông tin sau:
- Phân loại thuốc
- Tên gốc – tên được p
hê chuẩn chính thức, nếu là chế phẩm phối hợp thì
tất cả các hoạt chất thành phần cũng phải là tên gốc
- Tên thương mại
- Xuất xứ của thuốc
- Các chỉ định của thuốc: nhằm đảm bảo tất cả các bệnh đều được điều trị
bởi các th
uốc có trong danh mục.
- Chống chỉ định
ngân sách thuốc đơn thuần mà còn phải giảm được tổng chi phí cần thiết
để điều trị các bệnh cụ thể.
Bước 8:
Phê chuẩn DMT chính thức được sử dụng tại BV
Bước 9
: Giáo dục các cá nhân trong BV về các chính sách và thủ tục sử
dụng các thuốc ngoài DMT, thêm hoặc bớt thuốc từ DMT. Ban hành và phê
12
chuẩn các quy trì
nh đó.
Giai đoạn III: PHÁT TRIỂN CẨM NANG DMT
Bước 10:
Quyết định xây dựng cẩm nang DMT thay vì DMT đơn thuần.
Cẩm nang DMT sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn rất nhiều so với DMT đơn
thuần. Quyển cẩm nang nên có kích thước nhỏ gọn, thuận tiện khi mang theo
và tra cứu.
Bước 11:
Phát triển mục chính sách và mục thông tin chung trong cẩm
nang
Bước 12:
Phát triển các chuyên khảo thông tin thuốc cho cẩm nang. Các
chuyên khảo này có đầy đủ các thông tin cần thiết về thuốc và được BV sắp
xếp sao cho tiện tra cứu nhất có thể.
Bước 13:
Phát triển mục thông tin đặc biệt. Mục này sẽ khác nhau tùy
theo từng bệnh viện. Đó có thể là những thông tin như: hướng dẫn tính liều ở
khoa nhi (BV Sản Nhi), phương trình tính độ thanh thải creatinin (có thể
không có trong BV Mắt) hay danh sách các chế phẩm thuốc không chứa
đường(ở BV Nội tiết)…
hệ thống BV đa khoa Việt Nam. Tại bệnh viện đa khoa Xanh pôn – Hà Nội
những năm gần đây, DMTBV có tới trên 96% số lượng thuốc nằm trong
DMTCY và khoảng 40% nằm trong DMTTY. Tỷ lệ thuốc kháng sinh, tim
mạch, tiêu hóa chiếm khoảng 78-80% tổng kinh phí mua thuốc toàn bệnh viện
và con số này phù hợp với MHBT của BV gi
ai đoạn đó.[17]
Tuy nhiên, từ kết quả phân tích đánh giá về cơ cấu DMT của một số
bệnh viện cho thấy, hiện nay việc xây dựng DMT của các bệnh viện còn
nhiều vấn đề bất cập, thuốc đắt tiền và thuốc ngoại nhập vẫn còn chiếm một
tỷ lệ tương đối cao, đặc biệt là các thuốc kháng sinh đắt tiền (khoảng 56% –
58% tổng chi phí cho thuốc). Nguyên nhân là do điều trị bao vây và lạm dụng
kháng sinh phổ rộng, các kháng sinh mới, có hoạt lực kháng khuẩn mạnh.
Điều này sẽ làm
tăng chi phí y tế, tăng khả năng xuất hiện tác dụng phụ của
thuốc và tình trạng kháng kháng sinh. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng tiêu cực
của một số hoạt động Marketing không lành mạnh dẫn đến trong danh mục
thuốc của các bệnh viện thường có quá nhiều tên biệt dược khác nha
u của
cùng một hoạt chất, đặc biệt là các thuốc kháng sinh, thuốc bổ, thuốc tăng
cường sức đề kháng…Điều này khiến cho người kê đơn dễ dàng kê nhiều loại
thuốc cho người bệnh, đặc biệt là kháng sinh Cephalosporin thế hệ III, các
vitamin hay các thuốc chế phẩm Y học cổ truyền,… gây ra lạm dụng thuốc
trong điều trị, kéo theo khó khăn cho người m
ua thuốc, cấp phát thuốc và
14
giám
sát sử dụng thuốc. Giá thuốc tại thị trường Việt Nam có nhiều biến động
trong thời gian gần đây cũng ảnh hưởng đến việc duy trì danh mục thuốc bệnh
viện. Giá của một số thuốc phê duyệt trúng thầu thấp hơn nhiều so với mặt
15
1.5.2 Về cơ cấu tổ chức:
- Bệnh viện đóng tại Thị trấn Nghèn - Huyện Can Lộc –Tĩnh Hà Tĩnh và
một phòng khám ĐK khu vực tại Ngã ba Đồng Lộc.
- BV được giao 150 giường kế hoạch, tổ chức thành 6 khoa lâm sàng, 3
khoa cận lâm sàng, 3 phòng chức năng.
- Tổng số cán bộ công chức: 140 trong đó có 1CKII, 8 CKI, 32 Bác sĩ.
1.6 Tổng quan về các đề tài nghiên cứu trước đó và hướng mới của
đề tài
Hiện nay đã có rất nhiều đề t
ài nghiên cứu về vấn đề cung ứng thuốc
trong BV. Các BV được nghiên cứu ngày một đa dạng hơn, ngoài các bệnh
viện tuyến trung ương như BV đa khoa Sant-Paul, BV Trung Ương quân đội
108, còn có các BV tuyến tỉnh như BV Kiến An – Hải phòng, BV tỉnh Thanh
hóa,…Các đề tài này đều tập trung phân tích cả 4 khâu trong chu trình cung
ứng thuốc đó là: lựa chọn thuốc, mua sắm, cấp phát và cuối cùng là sử dụng
thuốc t
rong BV. Trong bước đầu tiên, các đề tài đều đã mô tả được quy trình
XD DMT của BV, tuy nhiên, mức độ nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc mô
tả mà chưa phân tích, đánh giá quy trình đó, từ đó nổi bật lên vai trò to lớn
của HĐTĐT tại BV. BV CL cũng đã được nghiên cứu, đánh giá hoạt động
cung ứng thuốc tại cơ sở. Đây là một BV đa khoa tuyến huyện vùng đồng
bằng bán sơn địa với dân số trên 140.000, tập trung số lượng bệnh nhân lớn
nhất tỉnh, do đó hoạt động cung ứng thuốc ở đây cũng diễn ra mạnh mẽ nhất.
Tuy nhiên, liệu việc lựa chọn thuốc của BV đã thực sự hợp lý hay chưa, v
ai
trò của HĐTĐT đã được phát huy hết hay chưa thì vẫn chưa có đề tài nào
nghiên cứu về vấn đề này.
Xuất phát từ lỗ hổng đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm cung
o Các hồ sơ, biên bản, báo cáo của HĐTĐT trong các cuộc họp năm
2010.
Phỏng vấn chuyên gia thông qua bộ câu hỏi: Phỏng vấn Trưởng khoa
Dược BVCL - thông qua bộ câu hỏi có sẵn nhằm thu thập thêm những thông
tin sâu.
17