Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012 - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
[  \

TRẦN THỊ THÚY AN ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VÀ
THỰC HIỆN DANH MỤC THUỐC TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA LÀO CAI SỐ 1 VÀ SỐ 2 NĂM
2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC



HÀ NỘI – 2013
LỜI CẢM ƠN
Trải qua những tháng ngày nỗ lực, với nhiều sự giúp đỡ, tôi đã hoàn thành luận
văn tốt nghiệp của mình. Đây cũng chính là lúc tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn tới những
người đã giúp tôi có được thành công ngày hôm nay.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Nguyễn Thanh Bình, Phó hiệu
trưởng Trường Đại Học Dược Hà Nội đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới NCS.ThS. Nguyễn Trung Nghĩa ,
Trưởng khoa Dược Bệnh viện E Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình họ
c tập, thực hiện và hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới: Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo
sau đại học, bộ môn Quản lý và kinh tế dược, các thầy cô giáo trường Đại Học Dược
Hà Nội, Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa số I & số II tỉnh Lào Cai, khoa Dược Bệnh
viện Đa khoa số I & số II tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận

n.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân, bạn bè, đồng nghiệp
đã tạo điều kiện và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Học viên

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu : 25
2.2.2. Nội dung và các chỉ số nghiên cứu 26
2.2.3. Cách thu thập số liệu 27
2.2.4. Phương pháp xừ lý số liệu: 27
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XD DMT CỦA BV ĐK LC SỐ 1 & SỐ 2 NĂM
2012 30

3.1.1. Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT năm 2012 của 2 bệnh viện 30
3.1.2. Các hoạt động cụ thể trong xây dựng DMT 2 bệnh viện năm 2012 31
3.2. ĐÁNH GIÁ DMT ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG NĂM 2012 CỦA BV ĐK LC SỐ 1
& SỐ 2 38

3.2.1.Đánh giá cơ cấu DMT đã sử dụng tại BV ĐK LC số 1 & số 2 năm 201239
3.2.2. Đánh giá tính hợp lý của DMT đã xây dựng tại BV ĐK LC số 1 & số 2 năm
2012 51

Chương 4 : BÀN LUẬN 62
4.1. HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG DMT CỦA 2 BV 62
4.2 ĐÁNH GIÁ DMT SỬ DỤNG CỦA 2 BV NĂM 2012 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABC
Phân tích ABC
ADR
Adverse Drug Reaction (Phản ứng có hại của thuốc)
BV
Bệnh viện


DANH MỤC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 1.1
Cơ cấu bệnh tật chung ở Việt Nam từ năm 2006 – 2010 (%) 9
Bảng 1.2
Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện ĐK LC số 1 & số 2 năm 2012 23
Bảng 1.3
Cơ cấu nhân lực Dược của 2 BV năm 2012 23
Bảng 3.4
Các căn cứ lựa chọn thuốc của BV ĐK LC số 1 & số 2 31
Bảng 3.5
Số thuốc có trong DMT của BV ĐK LC số 1 & số 2 n
ăm 2011 32
Bảng 3.6
Tỷ lệ tiền thuốc so với nguồn kinh phí của bệnh viện năm
2011
32
Bảng 3.7
Nội dung thẩm định các thuốc đề nghị bổ sung vào DMTBV 33
Bảng 3.8
Kết quả lựa chọn thuốc vào danh mục hoạt chất của DTC BV
ĐK LC số 1 & số 2 năm 2012
35
Bảng 3.9
Các tiêu chí lựa chọn thuốc của BV ĐK LC số 1 & số 2 36
Bảng 3.10
Kết qu
ả lựa chọn thuốc vào DMT sử dụng năm 2012 của 2 BV 36
Bảng 3.11

Tỷ lệ các thuốc được sử dụng ngoài DMT của bệnh viện năm
2012
53
Bảng 3.23
Tỷ lệ tiền thuốc so với nguồn kinh phí của bệnh viện năm
2012
54
Bảng 3.24
Tỷ lệ thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu trong DMTBV 55
Bảng 3.25
Kết quả phân tích ABC c
ủa DMT sử dụng tại 2 BV năm 2012 56
Bảng 3.26
Phân nhóm điều trị các thuốc nhóm A 58
Bảng 3.27
Kết quả phân tích VEN các thuốc nhóm A của 2 BV 60

DANH MỤC HÌNH
STT TÊN HÌNH TRANG
Hình 1.1
Mô hình bệnh tật của hệ thống bệnh viện 10
Hình 1.2
Sơ đồ chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả chăm
sóc và phòng bệnh
11
Hình 1.3
Sơ đồ chu trình quản lý thuốc 17
Hình 1.4
Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai 21
Hình 1.5

penicillin t
ỷ lệ thuận với lượng kháng sinh được sử dụng [29]. Theo các nghiên cứu
kinh phí chữa bệnh chiếm khoảng 30 – 40% ngân sách ngành y tế của nhiều nước,
và số tiền đó đang bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung
ứng thuốc không hiệu quả [30].
Ở Việt Nam, những năm vừa qua số lượng chế phẩm thuốc lưu hành trên thị
trường không ngừng gia tăng. Điề
u này kéo theo một thực tế, đó là người kê đơn
gặp khó khăn, lúng túng trong việc chọn lựa thuốc, dẫn đến dùng thuốc thiếu hợp
lý, an toàn và hiệu quả. Theo số liệu của Cục quản lý Dược, hiện có khoảng 22.615
số đăng ký thuốc lưu hành còn hiệu lực, trong đó có 11.923 số đăng ký thuốc nước
ngoài với khoảng 1000 hoạt chất và 10.692 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước
với khoảng 500 hoạt chất [15]. Đây là thuận lợi đồng thời cũng gây ra không ít khó
khăn cho việc lựa chọn cung ứng thuốc trong bệnh viện.Và cũng là một trong những
nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc
sức khỏe và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh.
Vì vậy, sự ra đời danh mục thuốc bệnh viện là điều vô cùng cần thiết, với đóng
góp to lớn trong công cuộc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe của nhân dân,
đem lại lợi ích trong công tác khám chữa bệnh và trong lĩnh vực cung ứng thuốc
bệnh viện. Tuy nhiên hiện nay, một điều đáng lo ngại là bước quan trọng này lại
đang được các bệnh viện quan tâm chưa đúng mức, dẫn đến sự lãng phí về mặt kinh
tế cũng như chưa tối đa hóa được hiệu quả điều trị.
BV ĐK LC số 1 & BV ĐK LC số 2 là 2 bệnh viện cùng cấp độ, cùng khu vực
địa lý, và có cùng một chức năng do Sở Y tế Lào Cai giao phó " thực hiện chung
chức năng của một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh". Việc xây dựng danh mục thuốc
của 2 BV đóng vai trò quan trọng trong vấn đề đảm bảo cung ứng thuốc tại Lào Cai
- một tỉnh miền núi phía Bắc còn g
ặp nhiều khó khăn về kinh tế văn hóa, xã hội và y

2


3
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN
"Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu
cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện, phù hợp với
MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả
năng chi trả c
ủa người bệnh. Những thuốc này trong một phạm vi thời gian, không
gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có bất cứ lúc nào với số
lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng".
DMT BV là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch cho nhu cầu
điều trị hợp lý, an toàn, hiệu qu
ả, phù hợp với khả năng khoa học kỹ thuật và kinh
phí của bệnh viện.
Hiện nay, các bệnh viện đều xây dựng DMT BV căn cứ chủ yếu theo DMT chữa
bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh của Bộ y tế. Ngoài ra còn căn
cứ theo một số yếu tố khác như : tình hình thực tế khám chữa bệnh của bệnh viện,
ngu
ồn ngân sách, mô hình bệnh tật đặc thù…[16].
1.1.1.Nguyên tắc xây dựng danh mục
Theo thông tư số 21/BYT – TT về hướng dẫn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ
của Hội đồng thuốc điều trị ở bệnh viện, ngày 22 tháng 9 năm 2013. Nguyên tắc
xây dựng danh mục thuốc bệnh viện như sau :
- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị
trong bệnh viện
- Phù h
ợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật
- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp
dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

, hạn chế tên
biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể.
_ Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính
dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất,
cung ứng [14].

5 1.2. QUY TRÌNH XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng một quy trình để xây dựng DMT trong bệnh
viện bao gồm 4 giai đoạn với 19 bước [27]. DTC thể hiện vai trò rất quan trọng
trong từng giai đoạn và từng bước cụ thể trong quy trình này:
Các
giai
đoạn

Các bước tiến hành
Quản

hành
chính
Bước 1 : Giới thiệu các khái niệm cần thiết để có được sự ủng hộ của
Ban giám đốc bệnh viện
Bước 2 : Thành lập DTC
Bước 3 : Xây dựng các chính sách và quy trình
Xây
dựng
danh
mục

Bước 16 : Xây dựng các hướng dẫn điều trị chuẩn
Bước 17 : Thiết kế và tiến điều tra sử dụng thuốc
Bước 18 : Thiết kế và tiến hành theo dõi các phản ứng có hại của thuốc
Bước 19 : Cập nhật các thuốc trong cẩm nang danh mục thuốc [1]

Trong giai đoạn một, DTC thu thập một số thông tin để giúp Ban giám đốc
bệnh viện thấy rõ hiệu quả của việc quản lý tốt DMT và thuyết phục các nhà quản
lý bệnh viện đồng ý và ra quyết định về DMT và xem đây là quy định của bệnh viện
[27]. Các thông tin DTC cần thu thập bao gồm: tổng giá trị và tỷ trọng tiền thuốc
trong năm trước, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử
dụng, giá trị và
nguyên của thuốc bị huỷ trong năm trước, tên của 10 thuốc sử dụng nhiều nhất, các
phản ứng có hại của thuốc, số lượng các ca tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm sử
dụng, các thuốc giả, thuốc kém chất lượng. DTC chịu trách nhiệm xây dựng giám
sát mọi quy định và quy trình liên quan đến thuốc tại bệnh viện [32] . Một số quy
định nên được DTC quy định rõ b
ằng văn bản: quy trình lựa chọn thuốc mới, các
thuốc hạn chế sử dụng, sử dụng thuốc ngoài danh mục và kê đơn thuốc mang tên
generic.
Quy trình lựa chọn một số thuốc mới

Chỉ có bác sỹ, dược sỹ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ thuốc,
có xác nhận của trưởng khoa phòng lâm sàng. Các đề xuất bổ sung thuốc được
chuẩn bị dựa trên các m
ẫu chính thức đã được xây dựng, sau đó gửi cho thư ký của
DTC, nếu đã được điền đầy đủ các thông tin yêu cầu, được chuyển tới đơn vị
thông tin thuốc hoặc dược sỹ chịu trách nhiệm về thông tin thuốc. Đơn vị
thông tin thuốc tìm kiếm các thông tin để đánh giá thuốc mới được yêu cầu với
các thuốc đã có trong DMTBV có cùng chỉ định. Mục tiêu so sánh là chi phí - hiệu
quả,

ử dụng lạm dụng [34].
Sử dụng thuốc nằm ngoài DMTBV
DTC quy định mẫu đề nghị sử dụng thuốc ngoài DMTBV. Khoa Dược lưu lại
các biên bản đề xuất bao gồm tên bác sỹ đề nghị, tên và số lượng thuốc yêu cầu để
theo dõi sự tuân thủ DMTBV và đánh giá sự đáp ứng của DMTBV với MHBT và
cân nhắc có bổ sung thuốc vào DMTBV hay không [34].
Sử dụng thuốc mang tên generic

8
Thuốc mang tên generic là một thuốc thành phẩm nhằm thay thế một thuốc phát
minh được sản xuất không có giấy phép nhượng quyền của công ty phát minh và
được đưa ra thị trường sau khi bằng phát minh và các độc quyền đã hết hạn [6].
Các quyết định về lựa chọn thuốc phải dựa trên các bằng chứng y học lâm sàng, đạo
đức, luật pháp, quy tắc xã hội, chất lượng cuộc sống, các yếu tố kinh tế nh
ằm đạt
được kết quả tối ưu trong chăm sóc bệnh nhân. Nguyên tắc này được thực hiện tại
nhiều quốc gia: Australia, Hà lan, Canada, Mỹ. Đây là bước quan trọng nhất trong
quá trình xây dựng DMT [18].
Sau khi đã thiết lập được các quy định và quy trình, bước tiếp theo của DTC là xây
dựng hoặc lựa chọn các nhóm thuốc cho DMTBV. Trước khi xây dựng danh mục,
cần thu thập những dữ liệu cần thiết để phân tích các mô hình sử dụng thu
ốc hiện
có. Các thông tin cần thu thập trước khi xây dựng DMTBV: tổng giá trị tiền thuốc
đã sử dụng trong năm trước, tỷ lệ giá trị tiền thuốc so với tổng chi phí của bệnh
viện, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử dụng tại bệnh viện, giá trị của
thuốc bị huỷ trong năm, tên của 10 thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại
của thuốc đã được thu thập, số lượng các ca tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm sử
dụng, thuốc giả, thuốc kém chất lượng đã được thông tin [32].
Trong giai đoạn ba của quy trình xây dựng DMT, DTC cần xây dựng một cuốn cẩm
nang DMT. Thông tin trong cuốn cẩm nang nhằm giúp cán Bộ Y tế trong bệnh viện,

Là một quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới, MHBT ở nước ta hiện
nay là đan xen giữa các bệnh nhiễm trùng và không nhiễm trùng, giữa cấp tính và
mạn tính. Các bệnh không lây, các bệnh do tai nạn, ngộ độc, chấ
n thương có xu
hướng gia tăng, cả về tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết, nhất là các bệnh tim mạch, khối u,
sức khỏe tâm thần, chấn thương do tai nạn…[19]
Tuy nhiên, hiện nay MHBT đã có nhiều thay đổi, bảng 1.1 sau đây sẽ cho ta thấy
rõ hơn về MHBT ở Việt Nam [1][5][7][9][11] :
Bảng 1.1. Cơ cấu bệnh tật chung ở Việt Nam từ năm 2006 – 2010 (%)
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Chương
Bệnh
Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết
Bệnh lây 24,9 13,2 25,7 15,4 25,2 17,2 22,9 14,1 19,8 30,1
Bệnh
không lây
62,4 61,6 60,7 60,1 63,1 60,0 66,3 63,3 71,6 45,5
Tai nạn,
chấn
12,7 25,2 13,6 24,5 11,7 22,8 10,8 22,6 8,6 24,4

10
thương

Có sự thay đổi rõ rệt về MHBT từ năm 1986 đến năm 2010. Theo số liệu về cơ
cấu lượt KCB tại cơ sở y tế nhà nước trong Niên giám thống kê y tế năm 2010, xu
hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao. Nếu tỷ trọng
này năm 1986 chỉ là 39% thì năm 1996 tăng lên 50%, năm 2006 là 62% và chỉ sau 5
năm, đến năm 2010, tỷ trọng này đã tăng thêm 10 đ
iểm phần trăm, lên mức 72%.
Ngược lại với xu hướng này là sự giảm đi nhanh chóng của tỷ trọng số lượt KCB

khoa, viện có giường bệnh
( Gồm các bệnh chủ yếu là bệnh
chu
y
ên khoa và bệnh thôn
g
thư

n
g)

11
mỗi loại bệnh. Một phác đồ điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị
khác nhau"
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) : Các tiêu chí của một STG về thuốc gồm :
- Hợp lý : phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc còn hạn sử dụng
- An toàn : không gây tai biến, không làm cho bệnh nặng thêm, không có
tương tác thuốc
- Hi
ệu quả : dễ dùng, khỏi bệnh hoặc không để lại hậu quả xấu hoặc đạt mục
đích sử dụng thuốc trong thời gian nhất định
- Kinh tế : chi phí điều trị thấp nhất
Nếu chỉ đơn thuần tuân thủ theo DMT sẽ không cải thiện chất lượng điều trị nếu
như việc lựa chọn không dựa trên STG. Thật là lý tưởng nếu như DMT được xây
dựng dựa trên cơ sở các hướng dẫn điều trị các bệnh thường gặp. Ở nhiều nước trên
thế giới, khi bắt đầu xây dựng DMT thì đã có sẵn những hướng dẫn điều trị hoặc
những tài liệu tương tự để tham khảo và sử dụng. Hình 1.3 chỉ ra mối quan hệ giữa
STG, DMT và những tác động của chúng đối với việc sử dụng và dự trữ thuốc [26].
cung

ng

12
1.3.3. Danh mục thuốc thiết yếu (TTY)
Lịch sử ra đời danh mục thuốc thiết yếu :
Đầu năm 70 của thế kỷ XX, tình trạng sử dụng thuốc chưa hoàn toàn hợp lý tại tất
cả các nước trên thế giới đã đến mức lo ngại, vì vậy Đại hội đồng Y tế thế giới đã
ủy nhiệm cho Tổ chức Y tế thế giới " xây dựng các biệ
n pháp, mà qua đó chọn và
mua với giá cả hợp lý những thuốc thiết yếu có chất lượng đã được xác định, phù
hợp với nhu cầu của mỗi quốc gia" Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo "Việc sử dụng
thuốc hợp lý ngay từ đầu tại các nước đang phát triển sẽ giúp các nước này tiết
kiệm được ngân sách lãng phí do lạm dụng thuốc và sử dụng thuốc kém tác dụng".
Năm 1975, với nỗ lực của các chuyên gia Y tế của Tổ chức Y tế thế giới, khái niệm
TTY được hình thành từ đại hội lần thứ 28 của tổ chức này. Năm 1977, với nỗ lực
của các chuyên gia Y tế của tổ chức Y tế thế giới, khái niệm TTY được hình thành
từ đại hội lần thứ 28 của tổ chức này. Năm 1977, danh mục đầu tiên gồm 200 loại
thuốc gọi là danh mục thuốc thiết yếu danh mục mẫu) được biên soạn và xuất bản.
Tính đến năm 1999, danh mục TTY đã 10 lần bổ sung sửa đổi và ban hành lại. Sự
thay đổi này ngoài mục đích cập nhật những thuốc mới còn nhằm đáp ứng nhu cầu
thực tiễn trong công tác CSSK nhân dân. Tổ chức Y tế thế giới còn ban hành danh
mục ATC ( Anatomical Therapeutic Chemical Classification) gồm 14 phân nhóm,
phân loại theo gi
ải phẫu – điều trị - hóa học nhằm tạo thuận lợi cho các quốc gia
xây dựng danh mục thuốc thiết yếu [24].
1.3.3.1. Danh mục thuốc thiết yếu
Danh mục thuốc thiết yếu là danh mục những loại thuốc thỏa mãn nhu cầu chăm
sóc sức khỏe cho đa số nhân dân, những loại thuốc này luôn có sẵn với số lượng

ng cường các nỗ lực về giáo dục
- Giảm nhầm lẫn và tăng cường sự gắn bó điều trị
- Cải thiện sự sẵn có của thuốc (availability)
Danh mục TTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của Nhà
nước về: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và cho người
nhằm tạo điều kiện có đủ thuố
c trong danh mục TTY. Cơ quan quản lý nhà nước
xây dựng chủ trương, chính sách trong việc tạo điều kiện cấp số đăng ký lưu hành
thuốc, xuất nhập khẩu thuốc. Các đơn vị ngành y tế tập trung các hoạt động của
mình trong các khâu: xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất, phân phối, tồn trữ, sử dụng
TTY, an toàn hợp lý phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Các cơ sở kinh
doanh thuố
c của nhà nước và tư nhân phải đảm bảo danh mục TTY với giá thích
hợp, hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý, hiệu quả.
Danh mục TTY là cơ sở để xây dựng DMT chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh.

14
Tại Việt Nam, Bộ y tế đã ban hành DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở
khám, chữa bệnh. Danh mục năm 2008 có 750 thuốc/ hoạt chất tân dược (chiếm gần
50% hoạt chất lưu hành trên thị trường) [21]. Danh mục này tiếp tục được sửa đổi,
bổ sung vào năm 2011 trong thông tư 31/2011/TT-BYT bao gồm 900 thuốc hay hoạt
chất, được sắp xếp theo mã ATC (giải phẫu,
điều trị, hóa học); được ghi theo tên
chung quốc tế và theo quy định của Dược thư Quốc gia Việt Nam. Đây là một danh
mục tương đối đầy đủ và rộng mở nếu so sánh danh mục nhiều nước trong khu vực
và trên thế giới.
1.3.3.2. Tiêu chí lựa chọn thuốc của WHO
Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh tật tại chỗ, trang
thiế
t bị điều trị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, các nguồn lực tài

Hội đồng thuốc và điều trị cần phải thống nhất một cách rõ ràng tất cả các
tiêu chí dựa trên những tiêu chí có sẵn của WHO để chọn thuốc làm sao đảm
bảo đượ
c quy trình lựa chọn khách quan và có cơ sở. Nếu thiếu cơ sở bằng
chứng thì các quyết định đưa ra rất có thể mang tính cá nhân hoặc thiếu
khách quan và điều này cũng sẽ gây khó khăn khi thuyết phục các thầy thuốc
kê đơn thực hiện danh mục thuốc. Các tiêu chí chọn thuốc cũng như toàn bộ
thủ tục đề xuất đưa thuốc vào danh mục thuốc phải được công khai. Không
phải tấ
t cả các bằng chứng đều có sức thuyết phục như nhau. Mức độ tin cậy
của bằng chứng cần phải được xác nhận khi công khai các tiêu chí lựa chọn
và đưa ra quyết định [26].
1.3.4. Hội đồng thuốc và điều trị (DTC)
Để hạn chế tình trạng sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý, một trong
những giải pháp là thành lập hội đồng thuốc và điều trị (DTC) tại các bệnh viện.
DTC là hội đồng nhằm đảm bảo độ an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc trong bệnh
viện. Hội đồng này bao gồm nhiều chuyên gia trong l
ĩnh vực khác nhau của bệnh
viện nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi
phí phù hợp thông qua xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả và sử
dụng hợp lý an toàn [29]
Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/BYT – TT. Thông tư này có hiệu lực thi hành
từ ngày 08 tháng 08 năm 2013. Bãi bỏ Thông tư số 08/BYT-TT ngày 4 tháng 7 năm
1997 của Bộ Y tế hướng dẫn việ
c tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng thuốc
và điều trị ở bệnh viện [14].
Mục tiêu và mục đích của DTC

16
Mục đích : Mục đích của DTC là nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế

Tiến hành các biện pháp can thiệp hiệu qu
ả để nâng cao thực hành sử dụng
thuốc
Xử trí các phản ứng có hại

Trích đoạn Sơ đồ túm tắt cỏc bước xõy dựng DMT năm 2012 của 2 bệnh viện ĐÁNH GIÁ DMT ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG NĂM 2012 CỦA BVĐKLC SỐ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status