Header Page 1 of 16.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
--------------- ---------------
NGUYỄN THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
VÀ TÍNH ĐA DẠNG NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC
Ở MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT TẠI XÃ XUÂN SƠN,
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2008
Footer Page 1 of 16.
Header Page 2 of 16.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
--------------- ---------------
NGUYỄN THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
Xuân Sơn, đặc biệt là các ông lang, bà mế ngƣời dân tộc Dao và Mƣờng ở
khu vực nghiên cứu! Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa
Khoa học Tự nhiên và Xã hội - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học Cao học!
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua!
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về mặt thời gian, kinh phí
cũng nhƣ trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận đƣợc những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa
học, cùng bạn bè, đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 9 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Yến
1
Footer Page 3 of 16.
Header Page 4 of 16.
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Tác giả
Nguyễn Thị Yến
Nhà xuất bản
OTC
Ô tiêu chuẩn
SCN
Sau công nguyên
SĐVN
Sách đỏ Việt Nam
TCN
Trƣớc công nguyên
VU
Sẽ nguy cấp
WHO
World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới
3
Footer Page 5 of 16.
những ƣu điểm là đáp ứng đƣợc nhu cầu ngƣời bệnh, có tác dụng chữa bệnh
tốt lại rẻ tiền, việc sử dụng tƣơng đối dễ dàng và đặc biệt là ít gây tác dụng
4
Footer Page 6 of 16.
Header Page 7 of 16.
phụ cho ngƣời bệnh. Những tính năng ƣu việt trên cũng là lý do để chúng ta
cần coi trọng nguồn dƣợc liệu quý giá của thiên nhiên, và coi đó nhƣ là một
loại cây tài nguyên cao cấp.
Đảng ta chủ trƣơng đề ra đƣờng lối phát triển nền Y dƣợc học Việt Nam
là kết hợp Y dƣợc học hiện đại và Y dƣợc học cổ truyền, nhằm xây dựng nền
Y dƣợc học dân tộc. Nhờ đó mà dƣợc liệu Việt Nam đang đƣợc quan tâm chú
ý phục vụ cho việc phòng, chữa bệnh.
Tiềm năng của thảm thực vật nƣớc ta thật là lớn. Càng đi sâu vào lòng
đất, lòng rừng, ngƣời Việt Nam càng cảm thấy tự hào và có trách nhiệm hơn
với thiên nhiên, đƣa khoa học, kỹ thuật vào nghiên cứu, bảo vệ và phát triển
nguồn tài nguyên quý giá này. Tuy nhiên, một thực trạng đáng lo ngại ở
nƣớc ta trong những năm gần đây là nạn phá rừng, làm rẫy, khai thác gỗ củi
vẫn liên tiếp xảy ra, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật
quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, lâm tặc ngang nhiên lộng hành, tàn phá
thiên nhiên… Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì trong những
năm tới, nguồn tài nguyên rừng nói chung và nguồn dƣợc liệu tự nhiên có
nguồn gốc sinh vật nói riêng sẽ bị cạn kiệt hoàn toàn.
Xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ là một trong 4 xã thuộc
Vƣờn Quốc gia Xuân Sơn, với tổng diện tích tự nhiên là 6.548ha, trong đó
diện tích đất lâm nghiệp chiếm hơn 80% với thành phần loài thực vật khá
Tuy nhiên, nhƣợc điểm lớn nhất của các hệ thống phân loại thảm thực
vật nói trên là không thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố sinh thái với
thảm thực vật, hoặc là không làm nổi bật mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố
sinh thái với nhau [56].
Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật
thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, chia thảm thực vật thế
giới thành 5 lớp quần hệ (Lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thƣa, lớp
quần hệ cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn, lớp quần hệ cây thảo) [56].
Ở Việt Nam, bảng phân loại thảm thực vật đầu tiên là của A.Chevalier
(1918), ông đã phân loại rừng Bắc bộ với 10 kiểu khác nhau [56].
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dƣơng và ông đã
chia thảm thực vật Đông Dƣơng làm 3 vùng: Bắc Đông Dƣơng, Nam Đông
Dƣơng và vùng trung gian. Đồng thời, ông đã kể ra 8 kiểu quần lạc trong các
vùng [54]. Sau đó là các tác giả: Rollet, Lý Văn Hội, Neangéiam Oli (1952),
Dƣơng Hàm Hi (1956) và M.Schmid (1962) [56].
7
Footer Page 9 of 16.
Header Page 10 of 16.
Năm 1960, Cục Điều tra quy hoạch rừng đã áp dụng cách phân loại
rừng theo trạng thái của Loschau. Hệ thống này chia thảm thực vật thành 4
loại hình lớn:
- Loại hình I: Gồm những đất đai hoang trọc, trảng cỏ và trảng cây bụi.
- Loại hình II: Gồm những rừng non mới mọc.
- Loại hình III: Gồm tất cả các loại rừng bị khai thác lạm dụng nên trở
thành nghèo kiệt.
số lƣợng loài cây và tổ thành loài cây. Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài,
tuổi 10 có 56 loài, tuổi 14 có 53 loài [43].
Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái
rừng sau nƣơng rẫy ở vùng Tây Nam Nghệ An. Tác giả đã xác định thành phần
loài, mật độ cá thể và phổ dạng sống của thảm thực vật phục hồi sau nƣơng rẫy
theo thời gian bỏ hoá. Theo tác giả, hệ thực vật sau nƣơng rẫy ở vùng đệm Pù
Mát (Nghệ An) khá đa dạng về thành phần loài, gồm 586 loài thuộc 344 chi, 105
họ thực vật bậc cao có mạch [4].
Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng sau nƣơng
rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, cho thấy 1-2 tuổi có 76 loài thuộc
36 họ, 3-5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ, 5 - 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ, 1115 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ [59].
Phạm Ngọc Thƣờng (2003) khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh
tự nhiên sau nƣơng rẫy ở Bắc Kạn, đã kết luận quá trình phục hồi sau nƣơng
rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái nhƣ nguồn giống,
địa hình, thoái hoá đất, con ngƣời. Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục
hồi của thảm thực vật, cây gỗ trên đất tốt nhiều nhất 11 - 25 loài, trên đất xấu
8 - 12 loài [53].
Nguyễn Thế Hƣng (2003) nghiên cứu tổ thành loài thực vật trong các
trạng thái thực bì sau nƣơng rẫy ở Quảng Ninh. Kết quả thu đƣợc 324 loài
thuộc 251 chi, 93 họ [30].
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La
đã thu đƣợc 452 loài thuộc 326 chi và 153 họ [32].
Lê Ngọc Công (2004) khi nghiên cứu quá trình phục hồi bằng khoanh
nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã xếp thảm thực vật tỉnh Thái
Nguyên vào 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thƣa, lớp
9
Footer Page 11 of 16.
10
Footer Page 12 of 16.
Header Page 13 of 16.
Năm 384 - 322 (TCN), Aristote ngƣời Hy Lạp đã ghi chép và lƣu giữ sớm
nhất về kiến thức cây cỏ ở nƣớc này. Sau đó, năm 340 (TCN) Theophraste với
tác phẩm "Lịch sử thực vật" đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của
chúng. Tuy công trình của ông mới chỉ dừng lại ở mức mô tả, thống kê, song nó
mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này [23].
Thầy thuốc ngƣời Hy Lạp Dioscorides năm 60 - 20 (TCN) giới thiệu
600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh. Đồng thời, ông cũng là ngƣời đặt nền
móng cho nền y dƣợc học [23].
Năm 79 - 24 (TCN), nhà tự nhiên học ngƣời La Mã Plinus soạn thảo bộ
sách "Vạn vật học" gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây có ích [23].
Năm 1952, tác giả ngƣời Pháp A.Pétélot có công trình "Les phantes
de médicinales du Cambodye, du Laos et du Viet nam" gồm 4 tập nghiên
cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dƣơng [66].
Nhƣ vậy, những công trình nghiên cứu về dƣợc liệu đã có từ lâu đời,
hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại. Tuy nhiên,
do sự hạn chế của trình độ khoa học đƣơng thời nên những công trình này chỉ
dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê và chỉ ra công dụng của chúng, chƣa có cơ
sở khoa học để chứng minh thành phần hoá học của chúng có tồn tại trong đó
và tham gia vào việc chữa bệnh nhƣ thế nào. Chỉ đến khi khoa học kỹ thuật
phát triển thì vấn đề này mới đƣợc làm sáng tỏ, tạo độ tin cậy đối với ngƣời
bệnh khi sử dụng.
1.3. Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam
Châu (Cẩm Bình, Hải Dƣơng) Tuệ Tĩnh đã mở nhiều cơ sở chữa bệnh làm
phúc ở các chùa và gây phong trào trồng cây thuốc ở gia đình. Ông là một đại
sƣ nƣớc Việt dùng thuốc Nam, sắc thuốc chữa bệnh cho nhân dân với phƣơng
châm: "Thuốc Nam chữa bệnh ngƣời Nam" ông đã truyền bá y dƣợc cổ truyền
cho nhân dân trong các tác phẩm:
- "Nam dược thần hiệu": gồm 499 vị và 3.932 phƣơng thuốc trị 184 loại
bệnh, chia làm 10 khoa (năm 1725). Đây là tập sách thứ hai xuất hiện trong lịch
sử nghiên cứu cây thuốc ở nƣớc ta sau tập "Bản thảo thực vật toàn yếu" do Phan
Chu Tiên biên soạn (1429) là tập cây thuốc và dƣợc liệu đầu tiên của Việt Nam.
- "Các bài thuốc Nam và thập tam phương gia giảm": chép 13 cổ
phƣơng với bổ âm đơn do ông sáng chế để chữa các bệnh gia giảm theo
12
Footer Page 14 of 16.
Header Page 15 of 16.
chứng. Các tài liệu này đƣợc in lại trong "Nam dƣợc chính bản". Sau đƣợc
triều hậu Lê in lại trong "Hồng Nghĩa giác tƣ y thƣ" (1717 và 1723) và đƣợc
lƣu truyền đến nay [44].
Thế kỷ XVIII, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã thừa
kế dƣợc học của Tuệ Tĩnh chép vào tập "Lĩnh Nam bản thảo", nội dung gồm
496 vị thuốc Nam của "Nam dƣợc thần hiệu" và phát hiện thêm hơn 300 vị
nữa. Tƣ liệu vĩ đại nhất của ông là bộ sách: "Hải Thƣợng y tông tâm lĩnh"
gồm 66 quyển viết về lý luận cơ bản, phƣơng pháp chẩn đoán, trị bệnh [25].
Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập "Vạn phƣơng thập nghiệm" của
Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản năm 1763. Tập "Nam bang
đƣợc 4 nhóm theo công dụng: cây lƣơng thực - thực phẩm, cây làm thuốc, cây
có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả. Trong nhóm cây làm thuốc, các tác
giả đã thống kê đƣợc 657 loài thuộc 118 họ mà ngƣời H'Mông sử dụng làm
thuốc chữa bệnh cho ngƣời và gia súc [13].
Nguyễn Thị Thuỷ, Lƣu Đàm Cƣ, Phạm Văn Thính, Bùi Văn Thanh
(2005), khi nghiên cứu việc thu hái và sử dụng cây thuốc của đồng bào dân
tộc Tày khu vực Việt Lâm (Vị Xuyên, Hà Giang) đã cho biết: Có hơn 400 loài
cây thuốc thƣờng xuyên bị thu hái thuộc 104 họ thực vật, trong đó những họ
có số loài đƣợc sử dụng nhiều nhất là Fabaceae (25 loài), Euphorbiaceae (19
loài), Asteraceae (18 loài), Rutaceae (12 loài)… [ 51].
Nguyễn Thị Phƣơng Thảo, Nguyễn Thị Thuỷ, Phạm Văn Thính (2005),
đã điều tra các nhóm cây có ích trong cộng đồng dân tộc Mƣờng và Dao tại
xã Chiềng Yên (Mộc Châu, Sơn La), cho biết: Ngƣời Mƣờng đã khai thác và
sử dụng thƣờng xuyên 12 nhóm cây tài nguyên, trong đó nhóm cây thuốc
gồm 198 loài… Ngƣời Dao thƣờng xuyên khai thác và sử dụng 165 loài cây
thuốc, bao gồm 22 loài cây rau ăn, 10 loài cây ăn quả, 9 loài cây lấy gỗ, 5
loài cây độc… [ 45].
Lƣu Đàm Cƣ, Trƣơng Anh Thƣ, Hà Tuấn Anh (2005), đã điều tra việc
sử dụng cây thuốc hoang dại của ngƣời H'Mông ở xã SaPả (huyện SaPa, tỉnh
Lào Cai) cho thấy, họ thƣờng xuyên thu hái và sử dụng 251 loài cây thuốc
thuộc 148 chi, 72 họ để điều trị 86 chứng bệnh của 21 nhóm bệnh. Trong đó,
các nhóm bệnh sử dụng nhiều loài cây thuốc để điều trị gồm: bệnh về tiêu hoá
(18 loài), các bệnh phụ nữ (18 loài), các bệnh tiết niệu (15 loài), các bệnh cơ xƣơng (12 loài)… Các tác giả còn xác nhận có 38 loài đƣợc ghi trong Sách đỏ
Việt Nam [14].
Lê Ngọc Công, Nguyễn Văn Hoàn (2006), nghiên cứu đa dạng các loài
cây thuốc ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Bắc Giang) đã thống kê
15
dùng với hàng chục ngàn bài thuốc trong cuốn "Cây thuốc, vị thuốc, bài
thuốc Việt Nam" [6].
16
Footer Page 18 of 16.
Header Page 19 of 16.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về y học cổ truyền bản địa của
các dân tộc thiểu số ở Việt Nam còn ít đề cập đến, có thể nói công trình
đầu tiên của Võ Thị Thƣờng (1986) đã nghiên cứu các loài cây ăn đƣợc của
đồng bào Mƣờng. Trong đó, tác giả đã giới thiệu 89 loài thuộc 38 họ, đồng
thời đƣa ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa việc sử dụng cây thuốc
của đồng bào Mƣờng với điều kiện sống và nơi ở của họ [52]. Năm 1994.
Lê Nguyên Khanh và Trần Thiện Quyền đã xuất bản cuốn "Những bài
thuốc kinh nghiệm bí truyền của các ông lang bà mế miền núi" [31]. Công
trình nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Hạnh và Ngô Trực
Nhã (2001) về vấn đề Thực vật học dân tộc: Cây thuốc của đồng bào Thái
ở Con Cuông - Nghệ An. Trong đó, các tác giả đã đánh giá tính đa dạng
nguồn tài nguyên cây thuốc, vấn đề sử dụng cây thuốc và đặc biệt là đánh
giá tính hiệu quả của cây thuốc mà đồng bào dân tộc Thái sử dụng [49].
Gần đây, năm 2003, Trần Văn Ơn trong luận án Tiến sĩ Dƣợc học "Góp
phần nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vƣờn Quốc gia Ba Vì", ông đã điều
tra đƣợc 503 loài cây thuốc đƣợc ngƣời Dao sử dụng thuộc 321 chi, 118 họ
của 5 ngành thực vật [39].
Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đều đánh giá cao sự phong phú, ý
nghĩa thực tiễn, giá trị khoa học cũng nhƣ giá trị kinh tế của nguồn tài
nguyên cây thuốc. Cây thuốc dân tộc và đặc biệt tri thức y học dân tộc cổ
dụng cây thuốc cho việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Một số tài liệu khác
cũng cho thấy ở các nƣớc đang phát triển, 70 - 80% dân số vùng nông thôn sử
dụng cây thuốc là nguồn chữa bệnh chủ yếu. Qua số liệu trên cho thấy, mặc
dù hiện nay khoa học công nghệ phát triển, việc sử dụng cây thuốc và y học
cổ truyền vẫn có vai trò vô cùng quan trọng [2].
Ngoài việc sử dụng trực tiếp cây thuốc để chữa bệnh, hàng năm ngành
bào chế dƣợc phẩm trên thế giới tiêu thụ một khối lƣợng rất lớn dƣợc liệu cho
các dây chuyền sản xuất. Ở Mĩ, hàng năm có 25% nguyên liệu làm thuốc lấy
từ thực vật. Sản phẩm này đóng góp 1,5 tỷ đô la và giữ vai trò đáng kể trong
cán cân thƣơng mại [37].
Tinh dầu đƣợc chiết xuất từ các loài cây làm thuốc có tác dụng rõ rệt lên
hệ tuần hoàn, hô hấp, thần kinh. Hiện nay, trong một số xí nghiệp ở Mĩ, Nga,
18
Footer Page 20 of 16.
Header Page 21 of 16.
ngƣời ta đã thử nghiệm thành công trong việc làm tăng năng suất lao động,
chống mệt mỏi, giảm các lỗi kỹ thuật trong dây chuyền sản xuất khi phun một
lƣợng nhỏ tinh dầu vào không khí. Kim ngạch xuất khẩu tinh dầu hàng năm
sang các nƣớc: Mĩ, Nhật, Pháp, Ý, Hà Lan, Đức lên tới 40 tỷ đô la Mĩ/năm.
Ngoài lợi ích kinh tế, xã hội nói trên, việc sử dụng, phát triển cây thuốc
còn mang lại lợi ích về môi trƣờng, sinh thái rất to lớn.
1.5. Tiềm năng, tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc ở nƣớc ta
Nƣớc ta nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật phong phú
và đa dạng nên tiềm năng về cây thuốc là rất lớn. Theo tài liệu thống kê của
Hội nghị châu Á về cây thuốc và cây tinh dầu ở Băng Cốc (12/1996), Việt
một số căn bệnh hiểm nghèo, giành lấy sự sống cho mình. Thị trƣờng thuốc
Tây ở nƣớc ta cũng đang ngày một mở rộng. Tuy vậy, việc sử dụng cây thuốc
trong nƣớc vẫn đƣợc dùng nhiều ở một số bộ phận cƣ dân vùng đồng bằng
Bắc Bộ, các dân tộc miền núi.
Trong công tác trị liệu bằng y học cổ truyền, mặc dù bị ảnh hƣởng
nặng nề của y học Trung Quốc (thuốc Bắc), nhƣng các vị thuốc trong nƣớc
vẫn chiếm vị trí quan trọng. Nhiều vị thuốc hoàn toàn trồng ở Việt Nam,
chƣa từng nhập ở Trung Quốc (Bồ công anh, Sài đất, Kim ngân, Quế…).
Nhiều loài có thể thay thế cho dƣợc liệu nhập nội, mặc dù chất lƣợng chƣa
cao (Đảng sâm, Bạch truật, Cánh kiến, Kỷ tử…). Nhiều loài cây thuốc khai
thác ở Việt Nam có chất lƣợng cao hơn sản phẩm cùng loại ở Trung Quốc.
Rõ ràng, cây thuốc đã có khả năng đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnh
bằng y học cổ truyền.
Trong những năm qua, một số loài cây thuốc đã là những nguyên liệu
không thể thiếu trong công nghiệp dƣợc liệu hiện đại. Những thành tựu quan
trọng đã thu đƣợc là:
- Chiết xuất Berberin từ cây Vàng đắng; sản xuất nhiều loại tinh dầu thực
vật; sản xuất Rotundin, Stihox từ củ Bình vôi; chiết xuất Rutin từ Hoa hoè.
Ngoài ra, chúng ta đã có những thành công bƣớc đầu trong việc sử dụng
cây thuốc để chữa một vài căn bệnh hiểm nghèo và bệnh xã hội. Đáng kể
trong lĩnh vực này là sử dụng cây thuốc chữa bệnh ung thƣ tuyến tiền liệt, hạn
chế phát triển khối u sau phẫu thuật, tiếp đến là các bài thuốc đông y đang có
triển vọng trong việc cắt cơn nghiện ma tuý…
20
Footer Page 22 of 16.
Header Page 23 of 16.
Header Page 24 of 16.
mỗi xóm đều có các ông lang, bà mế hành nghề cắt thuốc trị các bệnh thông
thƣờng. Thống kê sơ bộ toàn xã có 8 ông lang, bà mế hành nghề cắt thuốc
phục vụ nhân dân trong xã và các huyện, tỉnh lân cận [58]. Các cây thuốc
thƣờng đƣợc sử dụng để chữa bệnh gồm:
Gừng gió: Trị tê liệt do gió
Gió đôm (Mƣờng): Trị đau thần kinh
Dây máu ngƣời: Bổ máu, phụ nữ sau sinh (Ngƣời Dao còn gọi là Đéng
nhung ton).
Cây găng rừng, cỏ soi, cây kén con (trắng): Trẻ em ra mồ hôi trộm, còi
xƣơng, suy dinh dƣỡng.
Chùm gửi, cỏ soi, lài liểu (tiếng Dao): Phụ nữ sau sinh dùng tắm rửa,
chắc xƣơng.
Điền dợi lình (tiếng Dao), ngũ gia bì: Chữa đái dắt
Chanh rừng (tiếng Dao: Triệu Phốc): Trị ho trẻ em, chó cắn
Củ đòm (tiếng Dao): Trị chứng mất ngủ ở ngƣời già
Lai liều đéng, Huôi sán (tiếng Dao): Phụ nữ sau sinh chống hậu sản
Phà pinh rùa (tiếng Dao): Trị ghẻ, lở, ngứa…
Nguồn dƣợc liệu ở đây phong phú và đa dạng, có nhiều loài cây thuốc
quý hiếm đƣợc ghi trong Sách đỏ, tuy nhiên hiện tƣợng thu hái thực vật về
làm thuốc là thói quen trong nhân dân, lên rừng lấy về sử dụng mà không có
kế hoạch trồng thêm hay gìn giữ cho sau này. Bên cạnh đó còn có hiện tƣợng
một bộ phận ngƣời dân thu hái cây thuốc về sơ chế và đem bán sang các tỉnh
lân cận. Trạm xá của xã có vƣờn cây thuốc, trong đó có nhiều loài quý hiếm.
Cán bộ y tế ở đây cũng tƣ vấn cho ngƣời dân sử dụng thực vật để làm thuốc,
khuyến khích trồng cây thuốc ở vƣờn nhà.