thế giới nhân vật trong tập truyện hay viết cho thiếu nhi – nguyên hồng - Pdf 41

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
===

===

VŨ THỊ TƯƠI

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TẬP
“TRUYỆN HAY VIẾT CHO THIẾU NHI –
NGUYÊN HỒNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Thiếu nhi
Người hướng dẫn khoa học

TS. DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong
tổ bộ môn Văn học thiếu nhi đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường
và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biêt ơn sâu sắc nhất tới cô giáo của em là
cô Dương Thị Thúy Hằng – người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong
quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để

Hồng”............................................................................................................. 8
1.2.1. Tác giả Nguyên Hồng ........................................................................... 8
1.2.2. Tập truyện hay viết cho thiếu nhi – Nguyên Hồng .............................. 11
CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TẬP “TRUYỆN HAY VIẾT
CHO THIẾU NHI – NGUYÊN HỒNG” ...................................................... 20
2.1.Nhân vật trẻ em ...................................................................................... 20
2.1.1.Những đứa trẻ nghèo khó bất hạnh ...................................................... 20
2.1.2.Những đứa trẻ giàu mơ ước và nhân hậu ............................................. 25
2.2.Nhân vật người lớn ................................................................................. 29
2.2.1.Người phụ nữ ...................................................................................... 29
2.2.2.Những nhân vật người lớn khác ........................................................... 36
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN
VẬT TRONG TẬP “TRUYỆN HAY VIẾT CHO THIẾU NHI – NGUYÊN
HỒNG” ........................................................................................................ 41
3.1.Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tình huống truyện ............................. 41
3.2.Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình............................ 46
3.3.Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ và giọng điệu .................... 50
3.3.1.Ngôn ngữ trần thuật giàu tính biểu cảm ............................................... 50


3.3.2.Giọng điệu trần thuật thiết tha ............................................................. 57
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 62


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nguyên Hồng là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học
Việt Nam hiện đại. Sinh ra trong cảnh đất nước lầm than, lớn lên trong sự
nghèo khổ, bất hạnh nên Nguyên Hồng dễ dàng đồng cảm với nỗi thống khổ

những ước mơ, hi vọng về một ngày mai tươi sáng. Tập truyện thể hiện cái
nhìn nhân đạo của tác giả đối với con người đặc biệt là trẻ em. Tìm hiểu về
thế giới nhân vật trong tập truyện này sẽ góp phần giúp chúng tôi thâm nhập
vào thế giới nghệ thuật trong những tác phẩm viết về trẻ em của Nguyên
Hồng.
Với tất cả những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài thế
giới nhân vật trong tập “Truyện hay viết cho thiếu nhi – Nguyên Hồng”
làm đối tượng tìm hiểu cho mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyên Hồng là một trong số những nhà văn ngay từ đầu đã tự xác định
cho mình con đường nghệ thuật đúng đắn và tiến bộ. Ngòi bút của ông hướng
về những con người lao động nghèo khổ, lam lũ. Tư tưởng nghệ thuật của ông
là tư tưởng hiện thực phê phán với chủ nghĩa nhân đạo mãnh liệt và thống
thiết. Con người nhà văn và những sáng tác của ông luôn giành được những
tình cảm yêu thương đằm thắm trong lòng bạn bè và bạn đọc nhiều thế hệ.
Theo khảo sát của chúng tôi cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu, tạp chí, luận án, luận văn… nghiên cứu về nhân vật trong sáng tác của
Nguyên Hồng. Chúng tôi xin điểm lại những ý kiến mang tính nổi trội có liên
quan đến đề tài mà chúng tôi quan tâm.
Khái quát về toàn bộ đời văn Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu nhận thấy
trong sáng tác của Nguyên Hồng ẩn chứa những mẫu người của xã hội cũ.
Nguyễn Minh Châu thấy rằng: “Ngổn ngang gò đống kéo lên biết bao nhiêu là

2


hạng người, là mẫu người của xã hội cũ”. Đồng thời tác giả cũng cho rằng,
Nguyên Hồng là nhà văn của “thập loại chúng sinh”.
Những nhận xét của Nguyễn Minh Châu giúp chúng ta có cái nhìn đúng
đắn về Nguyên Hồng, về những nhân vật trong văn Nguyên Hồng là những

chính xác về cách xây dựng con người cũng như thế giới nghệ thuật và phong
cách trong các tác phẩm tiểu thuyết và truyện ngắn của nhà văn.
Trên đây, chúng tôi đã bước đầu điểm qua những ý kiến đáng chú ý hơn cả
khi bàn đến nhân vật trong sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng. Về riêng tập
“Truyện hay viết cho thiếu nhi - Nguyên Hồng”, cho đến nay, nhìn chung
số lượng ý kiến bàn luận, tìm hiểu, đánh giá còn rất ít. Những ý kiến tìm hiểu
về thế giới nhân vật trong tập truyện này còn thưa vắng hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của khóa luận là tập trung
khảo sát và tìm hiểu các nhân vật trong tập “Truyện hay viết cho thiếu nhi –
Nguyên Hồng”, gồm 8 truyện viết về trẻ em, viết cho trẻ em, so sánh với
truyện viết cho trẻ em của tác giả cùng thời để thấy được thành công của
Nguyên Hồng trong việc xây dựng nhân vật. Qua đó giúp chúng tôi có cái
nhìn đầy đủ hơn về quá trình sáng tạo nghệ thuật của ông
4. Mục đích nghiên cứu
Tiếp thu các ý kiến đánh giá về cách xây dựng nhân vật trong sáng tác
Nguyên Hồng của những người đi trước khóa luận đặt ra nhiệm vụ là tìm hiểu
thế giới nhân vật trong tập “Truyện hay viết cho thiếu nhiếu nhi - Nguyên
Hồng” một cách có hệ thống.Từ đó tìm ra cái riêng của nhà văn trong thể loại
truyện viết cho thiếu nhi so với nhà văn cùng thời và khẳng định vị trí của
truyện viết cho thiếu nhi của Nguyên Hồng trong nền văn xuôi hiện đại Việt
Nam.

4


5. Phương pháp nghiên cứu
Trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi vận dụng môt số phương
pháp sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp

thằng bán tơ, viên quan, mụ quản gia...) hay có thể là một đại từ nhân xưng
nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện
đại, như mình- ta trong ca dao...). Khái niệm con người này cũng cần được
hiểu một cách rộng rãi trên 2 phương diện: số lượng: hầu hết các tác phẩm từ
văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của con
người. Về chất lượng: dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật...nhưng lại
gán cho nó những phẩm chất của con người.
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ
thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là
ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng

6


tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối
quan hệ của nó.
Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc
sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật,
nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập
đến trong tác phẩm. Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc
xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực
và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện. Chẳng hạn, khi nhắc
đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các
vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn liền với Kiều là thân phận của người phụ
nữ có tài sắc trong xã hội cũ. Gắn liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu và
ước mơ vươn tới hạnh phúc. Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để thực
hiện khát vọng tự do, công lí...Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí
Phèo thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội
thực dân nửa phong kiên. Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn
đề đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt

ông đã bị đày đọa trong các nhà lao trải dài từ Nam Định cho đến Hà Nội và
cuối cùng bị giải đi Phúc Yên. Đến năm mười sáu tuổi, hết hạn tù được tha
ông từ giã quê hương Nam Định để về sống với mẹ và bố dượng ở xóm Cấm,
Hải Phòng. Tại cái xóm nghèo ấy Nguyên Hồng đã trở thành thầy giáo của
những trẻ em nghèo.
Năm 1935 tại Hải Phòng, nhà văn của chúng ta đã gặp được Thế Lữ- người
khai sáng của phong trào thơ Mới. Chính từ cuộc gặp gỡ này, Nguyên Hồng
đã nhận ra ý nghĩa, tầm quan trọng của văn chương, ông coi văn chương là lẽ
sống của đời mình.
Năm 1936, Linh hồn truyện ngắn đầu tay của Nguyên Hồng được in trên
Tiểu thuyết thứ bảy càng đẩy mạnh quyết tâm này của nhà văn. Có thể nói,
Hải Phòng đã trở thành quê hương thứ 2 của ông. Hải Phòng là nơi tác động,

8


ảnh hưởng sâu sắc đến nghiệp văn chương của ông. Chính trong những căn
nhà ổ chuột tối tăm, bẩn thỉu, nghèo khổ của xóm Cấm, Hải Phòng, những
trang viết đầu tiên của tiểu thuyết Bỉ vỏ và Hồi ký Những ngày thơ ấu đã
được hình thành. Bỉ vỏ được in thành nhiều kì trên báo. Năm 1937 tiểu thuyết
Bỉ vỏ của nhà văn nhận được giải thưởng của Tự lực văn đoàn.Từ đó Ngyên
Hồng đã thực sự trở thành một nhà văn của nhân dân.
Năm 1938, trên báo Ngày nay bắt đầu giới thiệu về Những ngày thơ ấu
đưa văn chương Nuyên Hồng đến gần với bạn đọc hơn.
Sau Cách mạng tháng Tám, ông đảm nhiệm vai trò biên tập cho tạp chí
Tiên phong – cơ quan hoạt động văn hóa mới của Đảng. Thời gian này, ông
cho ra đời một số truyện vừa Ngọn lửa và tập truyện ngắn Địa ngục và Lò
lửa. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Ngyên Hồng cùng một số gia đình văn
nghệ sĩ khác như Ngô Tất Tố, Kim Lân… lên khai phá ấp Kì Nhân. Tại đây
ông tiếp tục tham gia hoạt động trong Hội Văn nghệ Việt Nam, là biên tập

thơ Thế Lữ - người mà ông xem là thần tượng của mình.Nguyên Hồng bắt
đầu ra mắt bạn đọc bằng truyện ngắn Linh hồn được in trên Tiểu thuyết thứ
bảy vào năm 1936. Đó là thời gian nhà văn vừa chuyển đến sống ở xóm Cấm,
Hải Phòng, ban ngày ông đi dạy học cho những đứa trẻ con nhà nghèo còn
ban đêm ông lại cặm cụi viết văn. Nhà văn trẻ ấy bước vào nghề với lòng
đồng cảm với những con người nghèo khổ xung quanh mình. Nhưng ông thực
sự thành công khi cho ra mắt tiểu thuyết Bỉ vỏ (1937), ngay sau khi ra mắt
tiểu thuyết này đã được nhận giải thưởng của Tự lực văn đoàn. Năm 1940
ông lại tiếp tục cho ra mắt bạn thiên tự truyện Những ngày thơ ấu ghi lại
những tủi cực của chính mình.
Tiếp nối thành công của hai tác phẩm đầu tay năm 1941, Nguyên Hồng lại
tiếp tục cho ra tập truyện ngắn Bảy Hựu. Đây là tập truyện phản ánh những
cuộc đời bi đát của hạng người lưu manh sống âm thầm lẩn lút trong xã hội.

10


Năm 1943 Nguyên Hồng tham gia tổ chức Văn hóa cứu quốc vừa được
thành lập. Sau cách mạng tháng Tám ông tiếp tục hoạt động trong Hội văn
hóa cứu quốc. Trong thời gian này ngòi bút Nguyên Hồng đã có nhiều chuyển
biến tích cực. Ông là nhà văn trong dòng hiện thực phê phán nhận thức được
chân lý cách mạng vô sản và thể hiện được phần nào trong tác phẩm: Người
đàn bà Tàu (1939), Qua những màu tối (1942), Quán Nải (1943), Hơi thở
tàn (1943), Hai dòng sữa (1943), Vực thẳm (1944), Ngọn lửa (1944), Miếng
bánh (1945).
Thời kỳ tiền khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám, Nguyên Hồng viết Địa
ngục và Lò lửa phản ánh nạn đói năm 1945 và cao trào Việt Minh. Kháng
chiến chống Pháp bùng nổ Nguyên Hồng đưa gia đình lên Việt Bắc, trong
thời gian này ông tham gia thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam và công tác tại
Hội. Năm 1955 ông về Hải Phòng làm báo ở tờ Tin Hải Phòng. Năm 1956

đây, một dạo người ta tưởng có mỏ vàng đã kéo nhau đến tìm. Mấy tháng
liền, những người lên trước họ đã dầm mưa, dãi nắng ở các suối khe. Họ ăn
toàn củ mài, củ sắn, ngươi chỉ còn da bọc xương, lại kéo nhau đi nơi khác”
[4, tr. 13]. Cả hội đang chìm trong tuyệt vọng thì một ông già đã đứng lên, đó
là ông Đông người nhiều tuổi nhất trong hội: “Một ông già người gầy như hạc
nhưng đen xạm và rắn đanh sành như sắt, tóc bạc phơ xõa xuống đến vai, cặp
mắt long lanh như mắt tượng Kim Cương ở các chùa…” [4, tr. 14]. Chính ông
cụ Đông là người đã động viên tinh thần cho họ, lấy lại hy vọng cho họ bởi
ông biết nếu cứ như vậy thì cả bọn sẽ chết. Những con người nghèo khổ ấy đã
quyết định ở lại nơi đây an cư lập nghệp, họ cúng thần linh rồi, chặt cây vác
nứa làm nhà. Ngày ngày, họ lên rừng lấy nấm, đào củ mài, kiếm củi, làm
than, bắt cá, cuốc đất trồng ngô, trồng lúa… thấm thoát đã được ba vụ gặt
mùa. Cuộc sống của những con người Suối Cát tưởng rằng đã êm ấm thì một
cơn bão ập đến đã giết chết anh Trong con của ông bà Trong. Ông bà trong đã

12


già cả, ông Trong bị mù chỉ suốt ngày ngồi một chỗ tất cả việc nặng trong nhà
nhờ cả vào anh Trong. Ông bà Trong như sống trong tuyệt vọng kể từ ngày
mất con trai thì thần linh đã đưa đến cho ông bà một đứa trẻ đó là Xin. Cuộc
sống khốn khổ phải đi ở cho một lão nhà giàu, bị lão hành hạ Xin phải bỏ
chốn và lưu lạc đến đây. Số phận đã cho họ gặp nhau, họ nhận nhau là mẹ con
và sống hạnh phúc với nhau. Từ ngày Xin về, nhà ông bà trong no đủ hơn,
Xin lại chịu khó nên nhà cũng đủ ăn không lo đói nữa. Một ngày nọ, đi làm bà
Trong nhặt được một con hùm con bà quyết định mang nó về nuôi, bà đặt tên
cho nó là con Hiền. Con Hiền sống cùng với nhà bà Trong, nhà bà ăn gì nó ăn
nấy. Bà Trong dạy con hùm biết nghe lời, bà quý con hùm như con đẻ của của
mình, bà đi đâu nó cũng đi theo. Tiếng lành đồn xa, tên địa chủ trong vùng –
chính là tên chủ nhà của Xin, đã đến đây đòi mua con Hiền nhưng bà Trong

vàng lúc nào cũng theo cạnh ông lão, nó rất dữ nên cả hai tên đã quyết định
đánh bả con chó vàng. Con chó chết đi thì bọn chúng dễ dàng lấy được số tiền
ấy. Theo kế hoạch chúng đã ném bả cho chó vàng, con chó lao tới vồ ngay lấy
miếng mồi. Nghe thấy tiếng sủa ú ớ ông lão ăn mày gọi con chó, nhưng
không thấy đâu. Con chó cố bò lại chỗ ông lão, dãi dớt nó chảy ra: “Con chó
vàng lại sủa lên mấy tiếng ú ớ nữa rồi nó thúc cái mõm há hốc đầy rãi rớt vào
mũi ông già mù. Ông lão ăn mày chớp mấy cái, đoạn bế xốc nó vào lòng, vừa
ghé mũi ngửi mồm nó” [4, tr. 76]. Chứng kiến cảnh này Điều cảm thấy lạnh
người và run lên, Điều giằng lấy cái bị từ tay Tý Sáu và quăng trả lại cho ông
lão. Vì Điều biết rằng con chó ấy là niềm hy vọng của ông lão, con chó ấy
chết thì ông lão cũng không sống được. Nguyên Hồng là nhà văn giàu lòng
nhân đạo, ông đã không để nhân vật của mình lấn sâu vào bùn đen. Chính
giây phút ấy, Nguyên Hồng đã giúp cho nhân vật của mình nhận ra lỗi lầm và
quay đầu lại.
Truyện Giọt máu được Nguyên Hồng viết khi ông sống tại xóm chợ nghèo
ở Hải Phòng và làm thầy giáo cho con em của một số gia đình nghèo. Câu

14


chuyện bắt đầu khi Nguyên Hồng chuyển đến thuê trọ tại một nhà trọ ở tỉnh,
sống chung trong một ngôi nhà ngói năm gian với gia đình bác khán Thành.
Gia đình bác đã từng có nhà cửa, ruộng vườn ở quê nhưng sau một trận lũ lớn
đã quét sạch tất cả, cả hai đứa con trai lớn và con gái lớn của họ cũng bị lũ
cuốn đi. Gia đình họ chỉ còn lại năm người: bác khán Thành trai, bác khán
Thành gái, cái Thạo lớn, cái Thạo bé, cái Tý con. Năm con người ấy bồng bế
nhau ra tỉnh làm ăn, chồng làm “cu ly” cho nhà máy sợi, vợ đi chợ buôn rau,
cái Thạo lớn theo mẹ đi chợ còn cái Thạo bé ở nhà trông em. Trong đó,
Nguyên Hồng đặc biệt chú ý tới nhân vật Thạo bé lẽ ra ở cái tuổi ấy nó phải
được đến trường phải được vui chơi như những đứa trẻ khác. Nhưng vì hoàn

phục vụ cho chúng đi xâm lược nước mình. Tiếng gọi thống thiết của nhà văn
kêu gọi chúng ta cần có một nhà thơ, một nhà văn, một bài thơ, hay một trang
văn kêu gọi để đòi sữa cho những đứa trẻ thơ. Những đứa trẻ thơ chúng thực
sự vô tội nhưng vì khát sữa chúng đã chết. Nguyên Hồng kêu gọi mọi người
đứng lên đấu tranh chống lại bọn thực dân đòi lại quyền được sống cho những
đứa trẻ thơ.
Tiếp đến với truyện ngắn Mợ Du được tác giả viết năm (1939 -1943) (Đã
được đăng một phần trên Tiểu thuyết thứ bảy số 277 ra ngày 23-9-1939 trong
truyện Những đêm trắng). Truyện kể về một người phụ nữ đó là mợ Du vì
tình tứ với anh thợ may bị bắt gặp nên mợ phải bỏ chồng: “Mợ Du bỏ chồng!
… Và, như những người lớn, tôi đã ghét và khinh mợ mỗi khi nghe nhắc đến
mợ với cái tội không thể tha thứ ấy” [4, tr. 111]. Người phụ nữ ấy đã “phạm
tội” rồi, cái tội khao khát tình yêu thương và sự chở che ấy đã bị bao người
khinh ghét bởi cái hủ tục lạc hậu, hà khắc. Những lần gặp đứa con trai bé
bỏng, Dũng của mợ, là những lần mợ phải lén lút như có tội. Người đàn bà tội
nghiệp ấy khao khát gặp đứa con trai mình, phải năn nỉ thậm chí là van nài
một đứa trẻ - tác giả Nguyên Hồng, và cho nó hai hào. Mợ Du gặp con thì
“hôn hít vào má, vào trán, vào cằm Dũng rồi khóc nức nở” cho thỏa nỗi nhớ

16


thương mong ước. Tác giả chứng kiến toàn bộ những cuộc gặp gỡ đầy nước
mắt và chính nó đã đánh thức trong ông những cảm xúc về tình mẫu tử. Sự
đồng cảm quá lớn đối với mẹ con Dũng như xoáy vào tâm can người đọc, đầy
đau thương và ê chề. Những tiếng kêu: “Mợ ơi…” đứt quãng trong tiếng nấc
như chính trái tim nhà văn nức nở từng hồi. “Mợ Du đứng vùng lên, hất
mạnh mớ tóc xõa ra đằng sau …”, thời khắc Dũng sợ nhất cũng đến, nó
không biết làm gì hơn ngoài khóc. Đôi mắt vốn ngây thơ và tinh thông của
một đứa bé nay thấm đẫm nước mắt, nhạt nhòa và đày đọa. Mợ Du đau lòng

những tài năng mà mình có, những tiếng vỗ tay khen ngợi cổ vũ đã xua tan
những mệt nhọc trong người cậu, cậu cố gắng biểu diễn hết những tiết mục
sao cho thật hấp dẫn. Nhưng khi cậu chìa chiếc mũ ra để xin những đồng tiền
bù đắp cho mồ hôi công sức của mình thì những người ấy lại quay đi, họ chỉ
muốn xem không chứ không chịu bỏ ra một đồng để thưởng cho cậu. Nỗi
tuyệt vọng dâng lên trong lòng Nhân thì một tiếng nhạc kêu lên xoang xoảng
đầu phố. Những người vừa xem Nhân biểu diễn lại đổ dồn về đó, một thằng
bé tóc búi kiểu móng lừa dựng ngược, quần áo vải xanh, chân đi giày đế
“kếp” đang biểu diễn những tiết mục nguy hiểm. Thằng bé ấy vừa hát, vừa
hứng những chiếc dao sắc nhọn. So với Nhân tiết mục của thằng bé ấy còn
nguy hiểm hơn nhiều nhưng khi tiết mục kết thúc nó quỳ xuống chìa chiếc giỏ
mây xinh xắn về phía những người xem để chờ những xu hào từ phía họ. Cổ
họng Nhân nghẹn lại khi nhìn thấy cảnh đó, dường như Nhân nhìn thấy hoàn
cảnh của mình cũng giống như thằng bé đó. Nhân chạy tới ôm thằng bé và đỡ
nó dậy, Nhân muốn nói với nó điều gì đó nhưng cổ họng không thể thốt nên
lời. Chúng ta cảm thấy chua xót trước hai đứa trẻ phải tìm những công việc
nguy hiểm đe dọa cả tính mạng để có thể kiếm được bát cơm, manh áo.
Nhưng những con người vô cảm lại quay lưng lại với chúng, bọn họ chỉ muốn
xem không chứ không hề muốn bỏ ra một xu nào để bù đắp lại những giọt mồ
hôi ấy.

18


Tôi dạy học là câu chuyện được Nguyên Hồng viết làm thầy giáo cho
những con em của các gia đình nghèo tại xóm chợ ổ chuột ở Hải Phòng. Nhà
văn gọi cách kiếm sống ấy bằng một cái tên đó là gõ đầu trẻ lẩn lút. Bởi vì,
học trò thì không có giấy khai sinh và là con em của những gia đình nghèo,
còn thầy thì không có giấy phép bởi khai trình khó khăn. Những trường học
ấy lẩn lút trong những xóm chợ nghèo bẩn thỉu, đầy rẫy những rác rưởi, người

Hoa ông không chịu được sự hành hạ của bọn phát xít Nhật nên đã qua đời.
Con gấu cũng chống cự lại bọn chúng đến hơi thở cuối cùng còn Tiểu Hoa bị
chúng hành hạ chỉ còn da bọc xương, may nhờ sự cưu mang của bà con nên
đã qua khỏi.
Chiến tranh bùng nổ tác giả lưu lạc đi khắp nơi để viết bài và không còn
được xem múa võ nữa. Sau một thời gian dài, vào một buổi chiều thu duyên
số đã cho tác giả gặp lại bà Hoa – Tiểu hoa của gánh võ họ Hoa mà ông đã
từng xem. Cô con gái của bà Hoa cũng giống như hình ảnh của bà khi còn
nhỏ. Bà đã kể cho ông nghe tất cả những chuyện đã xảy ra với gánh võ của
mình. Tất cả những tội ác của bọn xâm lược đã giết chết người cha của bà và
cả con gấu nữa. Những đồ vật mà ông được xem cha con họ biểu diễn vẫn còn
đây, tuy chỉ có một điều nhà văn thắc mắc là con gái bà Hoa là con đẻ của bà
hay chỉ là con nuôi sao lại lấy tên là Tiểu Hoa.
Thời gian trôi đi nhưng chiến tranh vẫn chưa kết thúc tác giả lại đi khắp nơi
để viết bài. Năm 1955 giặc Mỹ bắn phá điên cuồng, Nguyên Hồng đã được về
Hải Phòng để lấy tin viết bài. Ông được đồng chí chính trị viên dẫn đi thăm
đội tự vệ thành phố. Thật bất ngờ khi tại đây ông lại được gặp lại hình ảnh của
Tiểu Hoa – chính là con gái của bà Hoa năm xưa. Tiểu Hoa cô bé ngày nào
giờ đã là Hoa Bảo Vân pháo thủ số một của nhà máy. Hoa Bảo Vân vừa giỏi
chiến đấu lại vừa giỏi múa võ, múa kiếm. Người con gái ấy đã thay ông và mẹ
mình chiến đấu chống lại kẻ thủ để bảo vệ tổ quốc.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status