Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn mặt trời đồng xu của nguyễn bản - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

mở đầu

1. lí do chọn đề tài
1. Nguyễn Bản sinh năm 1931 tại Bắc Ninh, ông từng dạy học và viết
văn tại quê nhà. Về hưu, ông chuyển hẳn xuống Hà Nội. Ông ít khi xuất hiện
trong đám đông mà lặng lẽ mỗi sớm, mỗi chiều bên bàn đọc và viết.
Ông có quan niệm sống và viết rất riêng. Vì sống khá lặng lẽ tại một
ngõ nhỏ của Hà Nội nên văn của ông phảng phất cô đơn, tiềm ẩn, cúc củn
số phận con người trong đường đời, đường tình.
2. Chúng ta nhận thấy rằng: nhà văn Nguyễn Bản chỉ mới xuất hiện trên
văn đàn nhưng ông đã trở thành một hiện tượng đặc biệt, làm hâm nóng
văn đàn, trở thành đề tài trong một số cuộc tranh luận văn chương và được
nhiều bạn đọc chú ý. Các tác phẩm chính của ông gồm: 6 tập truyện ngắn in
riêng và nhiều tuyển tập in chung. Ông cũng là tác giả dịch thuật các cuốn tiểu
thuyết như: Ba chàng ngự lâm, Trà hoa nữ, Hoa đỗ quyên đỏ, Dưới mặt
trời hung bạo, Người đua diều
3. Năm 2007 vừa qua, con người sống lặng lẽ ấy đã làm khuấy động văn
đàn Việt Nam bằng một tập truyện ngắn ám ảnh lòng ngưòi, đó là tập truyện
Mặt trời đồng xu. Tập truyện gồm 20 truyện ngắn, trong đó ánh trăng là một
truyện ngắn hay được giải của Báo văn nghệ năm 1992 và được dịch sang tiếng
Pháp, tiếng Anh; Cơn lũ đạt giải thưởng của Báo văn nghệ năm 2001. Bên cạnh
đó các truyện ngắn còn lại cũng không hề thua kém, mà tuỳ gout từng người,
có người còn thích những truyện này hơn cả ánh trăng. Và không có gì lạ khi
số truyện được giải của ông lên tới số 7, nếu kể cả giải do trưng cầu ý kiến độc
giả cho truyện Bức tranh màu huyết thạch là 8.
Với những thành công đáng kể như vậy, song những bài nghiên cứu về
Nguyễn Bản chưa nhiều, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ và để thành một công trình

Qua khảo sát, chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bản
và tác phẩm của ông còn rất ít, mới chỉ xuất hiện một số bài báo và trang web.
Gs. Nguyễn Đăng Mạnh trong lời giới thiệu của tập truyện Nợ trần gian có
viết: Hình như anh có một quan niệm sống riêng và muốn khép kín lòng mình
trước mọi người hồi ấy người ta gọi thế là cá nhân chủ nghĩa, không chịu
hòa mình với tập thể. Về sau này thì tôi hiểu rằng, muốn viết văn, muốn làm
nghệ thuật thì trước hết phải sống sâu sắc với chúng [12; 5].

Trường ĐHSP Hà Nội 2

2


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

Trong tập Những tâm hồn lạc của Trí Việt, nhà văn Ngô Thị Kim Cúc
đã bình truyện Sông lấp như sau: Người đàn bà bị chồng ruồng bỏ, vậy mà
vẫn cứ mãi yêu mối tình đầu cay đắng ấy của mình, yêu dai dẳng và khốn khổ.
Ngay cả khi đã có được một người đàn ông khác, một tình yêu mới còn đẹp đẽ,
trọn vẹn nhiều lần hơn vẫn cứ không thể nguôi quên, không chút bỏ nổi những
trì níu, day dứt lạ kì ấy nên người ta đành đổ cho một căn nguyên hư hư thực
thực, đó là linh hồn của dòng sông mà Tôi đã thả trôi hồn mình xuống vào
những khoảnh khắc tuyệt vọng đau đớn nhất trong cuộc đời mình [3; 7].
Trang web Duonghuongqn.wnweblogs.com, Dương Hướng đã bình
truyện của Nguyễn Bản như sau: Truyện nào cũng đầy ắp nỗi lòng đau đáu
yêu thương, khát khao hạnh phúc. Văn ông tinh tế, ý tứ sâu xa mang tầm tư
tưởng lớn thời đại. Ông yêu đắm đuối cái đẹp của ánh trăng, cái đẹp của làn
da chị cứ ám ảnh, đeo đuổi làm khổ ông suốt đời (ánh trăng). Bi kịch dữ dội

thấy được tài năng nghệ thuật của Nguyễn Bản trong việc ghi lại những gì xảy
ra xung quanh cuộc sống của con người thời hiện đại.
4. nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận là chỉ
ra các loại nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tập truyện ngắn
Mặt trời đồng xu của Nguyễn Bản ở ba mặt: kết cấu, các biện pháp thể hiện
nghệ thuật và lời văn nghệ thuật.
5. đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, người nghiên cứu lấy tập truyện ngắn Mặt trời đồng xu
(gồm 20 truyện) của Nguyễn Bản làm khách thể nghiên cứu. Từ đó chúng tôi
chọn một phương diện của khách thể là Thế giới nhân vật trong tập truyện
ngắn trên làm đối tượng nghiên cứu.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chủ trương khảo sát hầu hết các tác
phẩm của cả tập truyện. Từ đó, khẳng định sự cách tân của nhà văn trong công
cuộc đổi mới văn học.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở về đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sẽ
kết hợp vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Trường ĐHSP Hà Nội 2

4


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn



nội dung
Chương 1
Cơ sở lí luận
1.1. quan niệm về nhân vật
1.1.1. Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật
1.1.1.1. Khái niệm nhân vật
Về mặt thuật ngữ:
Hiểu theo nghĩa rộng: nhân vật là khái niệm không chỉ được dùng
trong văn chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác. Theo bộ Từ điển tiếng Việt
của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà
Nẵng, 2007, thì nhân vật là khái niệm mang hai nghĩa: nghĩa thứ nhất đó là
đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn
học. Thứ hai, đó là người có một vai trò nhất định trong xã hội [17; 881]. Tức
là, thuật ngữ nhân vật được dùng phổ biến ở nhiều mặt, cả đời sống nghệ
thuật, đời sống xã hội - chính trị lẫn đời sống sinh hoạt hàng ngày Nhưng
trong phạm vi nghiên cứu của khoá kuận, chúng tôi chỉ đề cập đến khái niệm
nhân vật theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển tiếng Việt định nghĩa như vừa
trích dẫn ở trên, tức là nhân vật trong tác phẩm văn chương.
Với ý nghĩa như thế của khái niệm nhân vật, ta sẽ trở lại xuất xứ của
thuật nhữ này.
Trong tiếng Hy Lạp cổ, nhân vật (đọc là persona) lúc đầu mang ý
nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn viên trên sân khấu. Theo thời gian, chúng ta đã
sử dụng thuật ngữ này với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất để chỉ đối
tượng mà văn học miêu tả và thể hiện.
Đến cuốn Lí luận văn học, Nxb GD, H, 2004 do tác giả Phương Lựu
chủ biên đã định nghĩa khá kĩ về khái niệm nhân vật văn học: nói đến nhân
vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng

Trường ĐHSP Hà Nội 2

thuật ngữ văn học, Nxb GD, H, 2006 của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi với nội dung cơ bản giống với định nghĩa trong cuốn Lí
luận văn học đã nêu: Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong
tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu,
anh Pha), cũng có thể không có tên riêng (). Khái niệm nhân vật văn học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

7


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả,
mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm (). Nhân vật văn học
là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật
trong đời sống [6; 235].
Nói tóm lại, các nhà văn, các nhà nghiên cứu, nhà lí luận văn học, bằng
cách này hay cách khác khi định nghĩa nhân vật văn học vẫn cơ bản gặp nhau
ở những nội hàm không thể thiếu của khái niệm này: Thứ nhất, đó phải là đối
tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng những phương tiện văn học. Thứ hai,
đó là những con người hoặc những con vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang
linh hồn con người, là hình ảnh ẩn dụ của con người. Thứ ba, đó là đối tượng
mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được
khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ tài năng.
Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là đặc điểm quan
trọng nhất, là nội dung của mọi nhân vật văn học [12; 280]. Đôtxtôiepxki
cũng khẳng định: Đối với nhà văn toàn bộ vấn đề là ở tính cách [12; 280].

thế giới vật chất đó thành hai lĩnh vực nhưng không có ranh giới tuyệt đối: thế
giới vĩ mô và thế giới vi mô [18; 1083].
Như thế, có thể nói thế giới là một phạm vi rất rộng, một vũ trụ rộng
lớn tồn tại xung quanh con người và độc lập bên ngoài ý thức con người.
Vậy thế giới nhân vật là gì? Khái niệm thế giới nhân vật là một
phạm trù rất rộng. Thế giới nhân vật là một tổng thể những hệ thống nhân
vật được xây dựng theo quan niệm của nhà văn và chịu sự chi phối của tư
tưởng tác giả. Thế giới ấy cũng mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật
của nhà văn, có tổ chức và có sự sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của
nghệ sĩ. Nằm trong thế giới nghệ thuật, thế giới nhân vật cũng là sản phẩm
tinh thần, là kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện
trong tác phẩm văn học, trong sáng tác nghệ thuật. Đó là một mô hình nghệ
thuật, có cấu trúc riêng, có quy luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người, tâm
lý, không gian, thời gian, xã hội gắn liền với một quan niệm nhất định của
chúng về tác giả. Thế giới nhân vật là cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn
diện và sâu sắc của chủ thể sáng tạo về toàn bộ nhân vật xuất hiện trong tác
phẩm, mối quan hệ, môi trường hoạt động của họ, ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm
của họ trong cách đối nhân xử thế, trong giao lưu với xã hội, với gia đình
Thế giới nhân vật vì thế bao quát sâu rộng hơn hình tượng nhân vật. Con

Trường ĐHSP Hà Nội 2

9


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

người trong văn học chẳng những không giống với con người trong thực tại về

10


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

quát hoá về nhận thức tư tưỏng. Về mặt hình thức, nhân vật với tính cách của
nó đã quyết định phần lớn các yếu tố của hình thức như: kết cấu, các biện
pháp thể hiện nghệ thuật, lời nói nghệ thuật Bàn về luận điểm này Hêghen
cũng đã từng khẳng định: tính cách là điểm trung tâm của mối quan hệ giữa
nội dung và hình thức. Ta cũng cần lưu ý rằng: tính cách nhân vật mang tính
lịch sử, nghĩa là tương ứng với mỗi một thời đại lịch sử các tính cách được tôn
vinh hay coi nhẹ là khác nhau, có thể trong thời này tính cách này được tôn
sùng nhưng thời sau thì không, đôi khi tính cách ấy còn bị phủ định.
Trên đây là một số vai trò, chức năng cơ bản của nhân vật trong tác
phẩm văn chương. Và dường như ở bất cứ một tác phẩm nào cũng hội tụ đầy
đủ những vai trò chức năng cơ bản đó của nhân vật.
1.1.3. Các loại nhân vật văn học cơ bản
Nhân vật văn học là một thế giới vô cùng phong phú và đa dạng. Nhân
vật càng độc đáo thì càng hầu như không có sự lặp lại. Cho nên bộ mặt nhân
vật là rất phong phú. Song nhìn nhận ở phương diện tổng thể trong tác phẩm
văn học, các nhà nghiên cứu lí luận, nghiên cứu văn học đã chia thế giới nhân
vật văn học thành các kiểu loại khác nhau để dễ tiếp nhận, dễ phân tích, đánh
giá theo những tiêu chí như: nội dung cấu trúc, vai trò, chức năng của nhân
vật.
Thứ nhất, dựa vào vai trò của nhân vật đối với nội dung và hình thức tác
phẩm có: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ. Nhân vật chính
đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều và liên quan đến các sự kiện chủ yếu
trong tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình. Trong

đầy đủ từ ngoại hình, cử chỉ, ngôn ngữ đến thế giới nội tâm bên trong. Nhân
vật tự sự là con người đời thường tham gia vào các tình huống khác nhau của
đời sống để tạo thành chuỗi các tình tiết xung đột trong tác phẩm. Bên cạnh
đó nhân vật kịch là loại nhân vật hiện lên chủ yếu qua hành động, ngôn ngữ,
cử chỉ, lời nói và xung đột, ít được miêu tả cụ thể về ngoại hình. Tuy nhiên
trong khuôn khổ của đề tài này, người viết sẽ không bàn sâu về những loại
nhân vật này.
Ngoài các tiêu chí phân chia nhân vật ở trên còn có một tiêu chí nữa đó
là dựa vào cấu trúc của nhân vật người ta phân loại thành: nhân vật chức năng,
nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng. Trong phạm vi có
giới hạn của khoá luận, chúng tôi cũng không bàn sâu về những loại nhân vật
này.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

12


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

1.2. Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật
Trong tác phẩm văn chương nghệ thuật, nhân vật ngoài chức năng quan
trọng là phương tiện để người nghệ sĩ gửi gắm ý tưởng nghệ thuật của mình
còn có vai trò quyết định tới phần lớn những yếu tố hình thức của tác phẩm
văn chương. Vì thế, có thể nói: qua mỗi yếu tố của hình thức tác phẩm, ta sẽ
thấy được cụ thể nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. Cả ba yếu tố: kết
cấu, sự tổng hợp các biện pháp thể hiện nghệ thuật và lời nói nghệ thuật đều
tham gia vào xây dựng nhân vật ở mặt này hay mặt kia. Do vậy, việc tìm hiểu

tưởng tác phẩm), theo chúng tôi việc xem xét, tìm hiểu nội dung của kết cấu
tác phẩm có thể tiến hành ở những phương diện sau:
Trước hết, kết cấu thể hiện ở việc người nghệ sĩ trong tác phẩm của
mình gắn nhân vật này với nhân vật kia, tạo ra quan hệ qua lại giữa chúng. Từ
đó các nhân vật sẽ tự bộc lộ bản chất xã hội - thẩm mỹ của mình.
Kết cấu còn là việc nhà văn gắn liền nhân vật vào hoàn cảnh môi trường
cụ thể, đặc biệt là những tình huống kịch tính, có vấn đề cho nhân vật hoạt
động. Qua đó, nhân vật sẽ thể hiện phẩm chất, nhân cách, cá tính riêng cũng
như chiều hướng con đường đời của nó.
Kết cấu đồng thời còn là việc người nghệ sĩ gắn kết thành dòng thống
nhất những điều xảy ra trước với những điều xảy ra sau trong cuộc đời mỗi
nhân vật. Điều này có tác dụng làm nổi bật vấn đề trung tâm, nội dung tư
tưởng chủ yếu của tác phẩm, cùng chiều hướng con đường đời của các loại
nhân vật.
1.2.2. Các biện pháp thể hiện nghệ thuật
Để xây dựng được các nhân vật trong tác phẩm văn chương một cách
sinh động, hấp dẫn, nhà văn phải mượn đến các thủ pháp nghệ thuật phong
phú, sao cho nhân vật hiện lên trước mắt người đọc càng cụ thể, càng rõ nét,
thông qua càng nhiều giác quan càng tốt. Hệ thống này được coi là thường
xuyên và đầy đủ nhất. Các biện pháp thể hiện nhân vật bao gồm bảy yếu tố:
biện pháp tả; biện pháp kể; đối thoại; độc thoại; tâm tình; triết lý - bàn luận;
biện pháp đặt nhân vật vào những hoàn cảnh xung đột - kịch tính. Việc sử
dụng những biện pháp thể hiện nghệ thuật này gắn liền với việc xây dựng hình
tượng nhân vật toàn vẹn và sinh động.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

14



thời gian nghệ thuật cho tác phẩm. Trong tác phẩm có nhiều cách kể, có thể kể
theo trình tự thời gian hoặc xáo trộn trình tự thời gian. Có thể nhà văn trực tiếp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

15


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

đóng vai trò làm người kể chuyện, nhưng cũng có thể để nhân vật kể chuyện.
Do vậy, kể không chỉ là một biện pháp thể hiện nghệ thuật đơn thuần mà còn
được nâng cao thành một phương thức tạo ra tác phẩm như một câu chuyện.
Lúc đó, các biện pháp thể hiện nghệ thuật khác chỉ đóng vai trò bổ trợ cho
biện pháp kể.
Có thể nói, kể là biện pháp thể hiện nghệ thuật chủ đạo của loại tác phẩm
tự sự.
1.2.2.3. Biện pháp đối thoại
Đối thoại trong văn chương là hình thức nhà văn để các nhân vật trò
chuyện, trao đổi, thậm chí tranh luận gay gắt với nhau về một vấn đề nào đó.
Các mối quan hệ giữa các nhân vật càng đa dạng, các nhân vật đối thoại càng
nhiều thì càng bộc lộ các đặc điểm thuộc về tính cách, cá tính, nghề nghiệp,
giai cấp, lứa tuổi, của mình... Hơn nữa, sự bộc lộ đó còn thể hiện qua nội dung
lời nói, qua cả cách nhân vật đối thoại. Biện pháp này giúp bạn đọc như nghe
thấy nhân vật nói năng với lối tư duy và ứng xử riêng trong những tình huống
cụ thể đôi khi lời đối thoại còn được tác giả giới thiệu kèm theo giọng nói,
cách nói (Nắng Mai, 2000, Tính nghệ thuật, một đối tượng nghiên cứu và
một cách tiếp cận riêng, DĐVNVN số tháng 3 + 4, 2000.)

hình nghệ thuật khác. Nếu như hội họa, điêu khắc nói rõ ngoại hình vóc dáng
của đối tượng, âm nhạc chỉ tác động trực tiếp vào thính giác để người tiếp
nhận tự suy ra hoàn toàn cái hồn của đối tượng thì nhờ độc thoại nội tâm văn
chương có khả năng vượt trội trong việc miêu tả đời sống tâm lý - cái trừu
tượng khó nắm bắt của đối tượng. Những suy nghĩ tình cảm tinh tế của nhân
vật sinh động hay không tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo của nhà văn, chứ
không bị hạn chế như việc sáng tạo trong các ngành nghệ thuật khác.
1.2.2.5. Biện pháp để nhân vật tâm tình
Tâm tình là hình thức nhân vật bày tỏ thành lời những suy nghĩ tâm tư
của mình (hay của tác giả) với nhân vật khác. Thường thì lời tâm tình cũng
chính là lời đối thoại, nhưng với một sắc điệu khác, một giọng điệu khác,
điềm đạm, thâm trầm và giàu cảm xúc hơn, suy tư hơn. Qua biện pháp nghệ
thuật này, ta có cái nhìn vào chiều sâu nhân vật, thấy được niềm đam mê, nỗi
vui sướng hay tuyệt vọng, những tâm sự, bức xúc của nhân vật. Theo tác giả
Nắng Mai: biện pháp để nhân vật tâm tình dù trong thơ trữ tình hay ở kịch và
truyện cũng có tác dụng khơi sâu, đồng thời bộc lộ bản chất tâm hồn cũng như
đời sống tình cảm riêng tư của nó [15; 26].

Trường ĐHSP Hà Nội 2

17


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

1.2.2.6. Biện pháp triết lý bàn luận
Bàn luận như là đoạn trữ tình ngoại đề nảy sinh với mục đích giúp bạn
đọc thấy rõ tầm quan trọng của hành động nào đấy [15; 26].


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

nghịch cảnh trái ngang, một tình huống éo le trớ trêu hay sự hiểu lầm mà dẫn
đến mâu thuẫn.
Quá trình: khác biệt - mâu thuẫn - xung đột - giải toả là một mạch vận
động. Biện pháp này làm cho quá trình ấy vận động. Phẩm chất, nhân cách
của nhân vật được bộc lộ qua cách giải quyết mâu thuẫn, như thế cũng có
nghĩa là tính quy luật chiều hướng con đường đời được thể hiện rõ ràng. Có
nhiều cách giải quyết xung đột khác nhau: lời nói, hành động, cử chỉ.
Theo giới nghiên cứu, mục đích của biện pháp này là để nhân vật dễ
dàng bộc lộ cá tính cùng bản chất sâu xa của mình, vừa đem lại cho bạn đọc
cảm giác như được trực tiếp chứng kiến khoảnh khắc giàu tính xã hội thẩm mỹ
của đời sống.
1.2.3. Lời nói nghệ thuật
Lời nói nghệ thuật hay còn gọi là lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn
học. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb GD, H, 2006 thì: Lời văn nghệ
thuật là dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật tạo thành cơ sở
ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học (). Lời văn nghệ thuật có tính chất
cố định, tính độc lập hoàn chỉnh trong bản thân nó có tính vĩnh viễn [6; 161].
Lời nói nghệ thuật còn mang tính hình tượng, tính biểu cảm, tính tổ chức cao
và phục vụ cho cấu trúc hình tượng của tác phẩm.
Trong tác phẩm văn học, lời nói nghệ thuật bao gồm hai thành phần
chính là lời nói gián tiếp của người kể chuyện và lời nói trực tiếp của nhân vật.
Mỗi yếu tố này trong tác phẩm có đặc điểm riêng và có nhiệm vụ nghệ thuật
cụ thể khác nhau.
Lời người kể chuyện khá phổ biến ở các tác phẩm tự sự (ở đây là lời tác
giả hay nhân vật kể) là phương tiện hết sức cơ bản để bộc lộ chủ đề tư tưởng


20


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

Chương 2
Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn
mặt trời đồng xu của nguyễn bản
2.1. các loại nhân vật trong tập truyện ngắn mặt trời
đồng xu của nguyễn bản
Nhân vật trong tác phẩm văn chương hết sức phong phú và đa dạng. Có
nhiều cách phân loại thế giới nhân vật văn xuôi Nguyễn Bản. Hoặc theo lứa
tuổi của nhân vật (thế hệ trẻ, thế hệ trung niên, thế hệ già). Hoặc có thể phân
loại theo giới tính, theo thành phần, nghề ngiệp, xã hộiCó cách phân loại
nhân vật theo thời kì sáng tác của tác giả, gắn với cảm hứng chủ đạo một thời.
Cách phân chia nào cũng có lý và là một phương diện loại biệt để dễ nhận
diện. Tuy nhiên cũng cần tổng hợp để có một cách phân loại hợp lý và khoa
học hơn. Phải chăng đó là cách phân loại nhân vật xuất phát từ cách nhìn
nhận, quan niệm về con người và cùng với nó là khuynh hướng tìm tòi, phát
hiện những nguyên mẫu nhân vật trong thực tại đời sống gắn với những thời kì
sáng tác lớn, nhỏ của nhà văn. Có thể nói thế giới nhân vật trong tập truyện
ngắn Mặt trời đồng xu của Nguyễn Bản vô cùng phong phú, đa dạng. Song
trong khuôn khổ của một khoá luận, chúng tôi chỉ xin đi sâu vào tìm hiểu một
số loại nhân vật cơ bản sau:
2.1.1. Nhân vật tha hoá
Theo Từ điển tiếng Việt, Tha hoá được hiểu là bị biến chất thành xấu
đi [17; 1126].

vật. Có được người vợ như vậy, những tưởng anh ta sẽ cảm thấy tự hào, hãnh
diện và rất mực trân trọng. Song thật bất ngờ khi chính anh ta lại là căn
nguyên của sự rạn vỡ hạnh phúc gia đình. Hắn ngu muội đắm chìm trong cuộc
tình lãng mạn với người phụ nữ khác. Đồng nghĩa với nó là anh đang trượt dài
trên cái dốc của sự tha hoá. Tưởng như hạnh phúc gia đình sẽ bị phá vỡ bởi tay
người chồng. Ngược lại người vợ lại quá vĩ đại, vĩ đại đến mức chính người
chồng mất nết cũng phải khẳng định: Vợ tôi, mỗi khi nhắc đến mọi người đều
hết lời khen ngợi [3; 99]; Đấy vợ tôi như thế mà bảo tôi bỏ ư?[3; 94]. Bởi vậy
cho nên trước sự thúc dục của nhân tình là anh hãy bỏ vợ đi thì anh luôn lờ đi
cho xong chuyện. Có thể nói khuyết điểm, sự tha hoá của người chồng được
lấp đầy bằng cả một tấm lòng rất mực chu đáo, tốt bụng, nhân hậu cao cả của
người vợ. Điều đó khiến anh cảm thấy hổ thẹn và tự ý thức được sự hư hỏng và
mất nết của mình để kịp thời dừng lại. Câu chuyện kết thúc cũng là lúc cuộc

Trường ĐHSP Hà Nội 2

22


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hào K31D Ngữ văn

tình vụng trộm giữa anh và Thành tan vỡ, chỉ còn lại hình ảnh cái tổ chuồn
chuồn trong suy nghĩ. Còn tổ ấm gia đình anh được gìn giữ và sẽ được vun
đắp bởi bàn tay của hạnh phúc vợ chồng.
Giống như nhân vật người chồng trong truyện ngắn Chuồn chuồn đi
đón cơn mưa thì trong truyện ngắn Mùi tóc Thảo, người chồng cũng đang
trên đà của sự tha hoá. Xuất phát từ những kỉ niệm êm đềm về cô gái Tày lai
Mán, tiếp đó là sự xuất hiện của Thảo - cô gái cùng đoàn xe ngựa, có vẻ đẹp tự


người phải suy ngẫm để có thái độ sống đúng đắn trước những đổi thay của
cuộc sống, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường và sự chi phối của đồng
tiền. Đó chính là giá trị nhân sinh sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm tới bạn
đọc.
2.1.2. Nhân vật bi kịch
Truyện ngắn của Nguyễn Bản giống như một ngôi nhà bí ẩn. Kẻ dừng
chân đôi ba phút chỉ thấy đựơc những sự cồng kềnh, những góc nổi trội và tồi
tàn của nó, kẻ nán lại lâu sẽ nhìn thấy bên cạnh đó lẩn khuất trong cái ngóc
ngách là những nhân vật bi kịch. Họ đang phải gồng mình trước những cơn
giông của cuộc đời.
Khái niệm bi kịch đã được biết đến nhiều trong văn học. Thông
thường nhân vật rơi vào bi kịch là do sự xô đẩy của hoàn cảnh khách quan và
chủ quan. Nhân vật đứng trước sự lựa chọn hoặc sống thì phải chà đạp lên
nguyên lý, đạo đức sống hoặc muốn giữ mình trong sạch thì phải chọn cái
chết. Giờ đây bi kịch của nhân vật trong tập truyện Mặt trời đồng xu rơi vào
bi kịch vừa mang tính ngẫu nhiên vừa mang tính sắp đặt.
Theo Brecht: các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không giản đơn là
bản dập của những con người sống mà là những hình tượng khắc họa phù hợp
với ý đồ tư tưởng của tác giả. Nguyễn Bản vốn là một nhà văn trải nghiệm và
có kinh nghiệm sống phong phú. Bởi vậy mà việc khám phá chiều sâu tâm lý
con người được nhìn nhận ở một góc độ khá sắc sảo. Điều đó được thể hiện
độc đáo trong việc khai thác con người bi kịch.
Người phụ nữ lấy chồng Tàu trong truyện ngắn Nợ trần gian là nhân
vật bi kịch điển hình của tập truyện. Điểm xuất phát, đúng hơn là tình huống
bi kịch của con người rất đỗi đời thường đó là số phận hẩm hiu, lỡ làng của
người phụ nữ. Chị Bùi chỉ có một ước mơ hết sức giản dị là có một đứa con
nhưng cũng không được. Trong hoàn cảnh xã hội ấy, chị Bùi chỉ là đại diện
cho rất nhiều phụ nữ khác cùng chung cảnh ngộ. Không chỉ nhà nghèo, thiếu


là khi nào con người còn chưa vượt qua cái nhỏ nhen, ích kỉ và thù hận thì
chừng ấy con người sẽ tự đẩy mình vào vòng luẩn quẩn. Qua sáng tác của
Nguyễn Bản, chúng ta thấy một điều: chính con người mới là nguyên nhân
trực tiếp gây ra bi kịch của mình và muốn thoát ra khỏi bi kịch đó đòi hỏi con
người phải hành động. Con người ta chỉ trực tiếp trải qua điều đó mới thấu
hiểu và nhìn nhận nó đúng đắn. Cô Bùi trong Nợ trần gian phải trải qua cuộc

Trường ĐHSP Hà Nội 2

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status