ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THU HÀ LINH
GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI
ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP TAM DƯƠNG II,
HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THU HÀ LINH
GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI
ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP TAM DƯƠNG II,
HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đỗ Thị Bắc
THÁI NGUYÊN - 2016
thực hiện đề tài luận văn tại địa phương.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn bè đã
tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hà Linh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................vii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn .......................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ........................................................... 3
5. Kết cấu của luận văn ............................................................................................... 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP ........... 4
1.1. Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng
khu công nghiệp ................................................................................................. 4
1.1.1. Khái niệm tạo việc làm và thu hồi đất....................................................................... 4
1.1.2. Vai trò tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp ....... 12
1.1.3. Nội dung tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp ........... 19
1.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất
3.1.3. Giới thiệu khái quát về dự án nghiên cứu ....................................................... 48
3.1.4. Đánh giá thuận lợi và khó khăn tại huyện Tam Dương .................................. 50
3.2. Thực trạng thu hồi đất và tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây
dựng khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh
Phúc .................................................................................................................. 52
3.2.1. Tình hình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất ...... 52
3.2.2. Thực trạng lao động, tạo việc làm của người dân bị thu hồi đất để xây
dựng khu công nghiệp ...................................................................................... 60
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây
dựng khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ......... 73
3.3.1. Yếu tố khách quan ........................................................................................... 73
3.3.2. Yếu tố chủ quan .............................................................................................. 75
3.4. Đánh giá chung về tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng
khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ............ 76
3.4.1. Những mặt đạt được ........................................................................................ 76
3.4.2. Những mặt hạn chế ......................................................................................... 77
3.4.3. Nguyên nhân ................................................................................................... 77
v
Chương 4: GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU
HỒI ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP TAM DƯƠNG II,
HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC ...................................................... 79
4.1. Quan điểm, định hướng, mục tiêu tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây
dựng khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ............. 79
4.1.1. Quan điểm tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu
công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ................... 79
4.1.2. Định hướng tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu
công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ................... 81
4.1.3. Mục tiêu tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu
CT/TU
: Chỉ thị/Tỉnh uỷ
CT/UBND
: Chỉ thị/Uỷ ban nhân dân
GPMB
: Giải phóng mặt bằng
HĐBT
: Hội đồng bồi thường
HĐND
: Hội đồng nhân dân
MTTQ
: Mặt trận tổ quốc
NĐ - CP
: Nghị định - Chính phủ
NQ/CP
Bảng 3.4: Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất KCN Tam Dương II - khu B2 ............. 49
Bảng 3.5: Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất KCN Tam Dương II ............................ 50
Bảng 3.6: Kết quả thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng khu công nghiệp
Tam Dương II .......................................................................................... 55
Bảng 3.7: Số tài sản sở hữu của các hộ dân bị thu hồi đất ........................................ 58
Bảng 3.8: Đánh giá chung về tiǹ h tra ̣ng đời số ng hiê ̣n ta ̣i so với trước khi có
khu công nghiệp ....................................................................................... 59
Bảng 3.9: Độ tuổi lao động của các nhóm hộ điều tra năm 2015 ............................. 60
Bảng 3.10: Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật của các hộ điều tra năm 2015 ..... 62
Bảng 3.11: Hỗ trợ của chính quyền và bạn bè người thân đối với hộ gia đình bị
thu hồi đất về đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp ...................................... 63
Bảng 3.12: Tình trạng việc làm của lao động sau khi bị thu hồi đất tại khu
công nghiệp Tam Dương II ..................................................................... 64
Bảng 3.13: Tình hình cơ cấu việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất ....................... 67
Bảng 3.14: Đánh giá chung về mức thu nhập hiê ̣n ta ̣i so với trước khi có khu
công nghiệp .............................................................................................. 69
Bảng 3.15: Diện tích và số hộ bị thu hồi đất tại khu công nghiệp Tam Dương II ......... 71
Bảng 3.16: Số người trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cần giải
quyết việc làm .......................................................................................... 71
Bảng 3.17: Nhu cầu chọn việc làm của người dân cần giải quyết việc làm ............. 72
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để chuyển dịch cơ
cấu ngành sang hướng công nghiệp hoá thì việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị tập trung nhằm phát
triển kinh tế xã hội là điều hết sức cần thiết và quan trọng. Quá trình công nghiệp
hoá, đô thị hoá ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố có vị trí địa lý và
II tác động tích cực đến đời sống, tạo việc làm của người dân bị thu hồi đất.
Xuất phát từ đó tôi lựa chọn đề tài: "Giải pháp tạo việc làm cho người dân
bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương,
tỉnh Vĩnh Phúc" nhằm tìm hiểu các tác động của việc thu hồi đất để xây dựng các
khu công nghiệp đến tạo việc làm của người dân bị thu hồi đất và đề xuất giải pháp
hợp lý cho khu vực và có thể áp dụng nhân rộng là mục tiêu của đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tạo việc
làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp Tam Dương II,
huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, đề xuất giải pháp tạo việc làm cho người dân bị
thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh
Vĩnh Phúc.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Một là, góp phần hệ thống hóa về cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề tạo việc
làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp.
Hai là, phân tích đánh giá thực trạng tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất
để xây dựng khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ba là, đề ra định hướng và giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất
để xây dựng khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giải pháp nhằm tạo việc làm cho
người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp Tam Dương II, huyện Tam
Dương tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng thu thập thông tin là những hộ dân bị ảnh hưởng bởi khu công
nghiệp Tam Dương II, huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2.Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu
công nghiệp
1.1.1. Khái niệm tạo việc làm và thu hồi đất
1.1.1.1. Khái niệm việc làm
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều
định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: "việc làm?". Và ở các quốc gia khác nhau do ảnh
hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp...) người ta quan
niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và
khái quát nhất về việc làm.
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
đã đưa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có
được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người
tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập
gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [1].
Theo quan niệm này thì người có việc làm là những người lao động ở tất cả
các khu vực công và tư nhân, cá thể, hộ gia đình đem lại nguồn thu nhập nuôi sống
bản thân, gia đình và xã hội. Do đó, khái niệm này khá hoàn chỉnh, phù hợp trong
nền kinh tế hiện đại và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay. Vì vậy, khái niệm này được các quốc gia thừa nhận và đã được áp dụng ở
nhiều nước trên thế giới.
Theo quan điểm của Mác: "Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp
giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ...)
để sử dụng sức lao động đó". Sức lao động do người lao động sở hữu. Những điều
kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ... có thể do người lao động có
quyền sở hữu, sử dụng hay quản lý hoặc không. Theo quan điểm của Mác thì bất cứ
tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều
kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay
việc chính. Chẳng hạn, đối với người nông dân, việc làm chính của họ là sản xuất
nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là những việc làm thêm
trong lúc nông nhàn.
Bốn là, việc làm bền vững: Là việc làm mà nó tạo ra các cơ hội cho người
lao động được làm việc một cách có hiệu quả, có thu nhập công bằng, bảo đảm an
toàn tại nơi làm việc, tạo điều kiện để cá nhân phát triển và khuyến khích hòa nhập
6
xã hội, cho phép mọi người được tự do bày tỏ những mối quan tâm của mình, được
tự do tổ chức và tham gia vào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ và
bảo đảm cho tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng và được đối xử bình đẳng.
Việc làm của lao động nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả
các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT - XH của một bộ phận lao
động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Việc làm ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều kiện sinh sống, làm việc
của người lao động nông thôn và có thể phân thành hai loại sau:
Một là, việc làm thuần nông: Là những hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt và
chăn nuôi dựa trên cơ sở kế thừa kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất được truyền qua các thế
hệ. Loại việc làm này thường thiếu sự ổn định và có mức thu nhập thấp, bấp bênh.
Hai là, Việc làm phi nông nghiệp: Đây là việc làm trong các ngành nghề,
lĩnh vực ngoài sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn (như công nghiệp, dịch
vụ, quản lý). Đây là những việc làm đòi hỏi nguồn lao động được đào tạo, rèn luyện
để có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu công việc.
Từ những phân tích các quan niệm về vấn đề việc làm xuất phát từ thực tiễn
phát triển KT - XH Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động, tích cực
hội nhập quốc tế hiện nay, Luận văn tổng kết như sau: Việc làm là hoạt động lao
động của con người, là dạng hoạt động kinh tế - xã hội, đó là sự kết hợp giữa sức
lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích con người (cá nhân, gia đình, cộng
1.1.1.3. Khái niệm tạo việc làm
Tạo việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm thu
nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Có nhiều lý
thuyết tạo việc làm của các nhà kinh tế, cụ thể như sau:
Một là, lý thuyết tạo việc làm bằng gia tăng đầu tư - tăng trưởng kinh tế.
Muốn tăng trưởng kinh tế phải có tích lũy, để từ đó có vốn đầu tư mở rộng tái sản
xuất, tạo ra nhiều việc làm. Đối với các nước đang phát triển do thu nhập thấp, tỷ lệ
tích lũy thấp, dẫn đến thiếu vốn đầu tư. Để tạo vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế,
các nước này cần phải dựa vào lợi thế so sánh của mình là tài nguyên thiên nhiên và
nguồn nhân lực giá rẻ để thu hút vốn đầu tư (hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm vốn
bằng ngoại tệ, thiết bị, phương tiện kỹ thuật, công nghệ, tri thức quản lý kinh tế hiện
đại) từ bên ngoài nhằm tạo ra “cú huých”, từ đó tạo thêm nhiều việc làm. Theo lý
thuyết này, tốc độ và quy mô của vốn đầu tư tăng sẽ thúc đẩy trực tiếp tốc độ và quy
mô của việc thu hút nguồn nhân lực vào hoạt động kinh tế, tạo nhiều việc làm mới.
8
Hai là, Lý thuyết tạo việc làm của W.Athur Lewis. Ông đã đưa ra mô hình
kinh tế nhị nguyên, sau đó được các nhà kinh tế học John Fei, Gustar Ranis, Harris áp
dụng phân tích quá trình tăng trưởng ở các nước đang phát triển. Tư tưởng cơ bản của
lý thuyết này là chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực
công nghiệp do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước đang phát triển. Quá
trình này sẽ tạo ra nhiều việc làm bởi vì, trong khu vực nông nghiệp đất đai chật hẹp,
lao động dư thừa, số lao động này không có việc làm nên không có thu nhập. Vì vậy,
khi có một mức lương cao hơn trong khu vực này thì các nhà đầu tư sẽ sử dụng ngay
nguồn lao động dư thừa từ nông nghiệp chuyển sang. Do chi trả lương theo năng suất
cận biên nên phần còn lại sẽ thuộc về các nhà đầu tư, từ đó các nhà đầu tư sẽ thu hồi
vốn nhanh, có nhiều lợi nhuận và tiếp tục tái sản xuất mở rộng.
Lý thuyết của W.Athur.Lewis được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng khác tiếp tục
nghiên cứu và phân tích. Luận cứ của họ xuất phát từ khả năng phát triển và tiếp
Lý thuyết này cho thấy, ở các nước nông nghiệp muốn đẩy mạnh tăng trưởng
kinh tế cần phải tập trung vào việc phát triển ngành nông nghiệp và kinh tế nông
thôn, để tạo ra thị trường cho công nghiệp và dịch vụ phát triển.
Lý thuyết tạo việc làm của Harry Toshima. Theo Harry Toshima, lý thuyết
của W.Athur.Lewis không có ý nghĩa thực tế với tình trạng dư thừa lao động trong
nông nghiệp ở các nước châu Á gió mùa. Bởi vì, nền nông nghiệp lúa nước vẫn
thiếu lao động trong mùa vụ và chỉ dư thừa lao động lúc nông nhàn. Vì vậy, Harry
Toshima cho rằng cần giữ lại lao động nông nghiệp và chỉ tạo thêm việc làm trong
những lúc nông nhàn bằng cách thâm canh, tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, vật
nuôi,... Đồng thời, sử dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp vào các ngành công
nghiệp cần nhiều lao động. Bằng cách đó, sẽ tạo việc làm đầy đủ cho mọi thành
viên gia đình nông dân trong những tháng nông nhàn để nâng cao thu nhập hàng
năm của họ và sẽ mở rộng được thị trường trong nước cho các ngành công nghiệp
và dịch vụ. Như vậy, lực lượng lao động sẽ được sử dụng hết.
Từ đó ông cho rằng, sự phát triển của các nước châu Á gió mùa phải bắt đầu
từ nông nghiệp. Phải tạo ra công ăn việc làm cho nông dân trong lúc nông nhàn
bằng cách phát triển các ngành nghề trong kinh tế nông thôn, ngành công nghiệp sử
dụng nhiều lao động. Có như vậy mới nâng cao được thu nhập của nông dân và mở
rộng thị trường nội địa cho các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển.
Các lý thuyết về tạo việc làm nêu trên đều tập trung luận giải các xu hướng,
biện pháp nhằm tạo việc làm. Mặc dù các lý thuyết chưa làm rõ vai trò của Chính
phủ trong việc kết hợp các chính sách kinh tế với chính sách xã hội để thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nhiều việc làm.
Song nó có tác dụng gợi mở những phương thức, biện pháp để tạo nhiều việc làm
10
cho lao động nông nghiệp, trong đó có bộ phận nông dân bị thu hồi đất trong quá
trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. [5]
Tạo việc làm không đơn thuần là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất với sức lao
11
Tạo việc làm theo nghĩa hẹp là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng
thất nghiệp, thiếu việc làm, trong đó có nông dân bị thu hồi đất, thiếu hoặc không
còn đất sản xuất, nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất
nghiệp ở mức thấp.
Để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa, rất nhiều hộ gia đình đã
phải nhường đất để di dời đến nơi định cư mới theo sự sắp xếp của các nhà quản lý.
Cùng với đó là hàng trăm ngàn ha đất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử
dụng, do đó sẽ có hàng chục vạn lao động không còn cơ hội được làm việc trên
mảnh đất của mình. Số lao động đó hoặc phải chuyển sang các ngành nghề mới,
hoặc phải chấp nhận cảnh không có việc làm. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho
những người nhường đất, tạo việc làm cho lao động vùng bị thu hồi đất là điều kiện
tiên quyết cho việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa đất
nước; đồng thời là nhân tố quan trọng trong việc phấn đấu đạt được mục tiêu thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
Từ những phân tích các lý thuyết, quan niệm về việc làm, tạo việc làm trên
cơ sở thực tiễn phát triển KT - XH của Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và
tích cực, chủ động hội nhập quốc tế hiện nay, luận văn cho rằng: Việc làm cho nông
dân bị thu hồi đất, là hoạt động lao động của người nông dân trong độ tuổi lao động,
là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp
nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích của người
nông dân, cộng đồng và xã hội. Hoạt động lao động đó không bị luật pháp Việt
Nam ngăn cấm.
Vậy hoạt động được xem là việc làm cho nông dân bị thu hồi đất phải đáp
ứng các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, hoạt động lao động của người nông dân khi không có đất sản xuất
(bị thu hồi hết) hoặc còn một phần đất sản xuất (sau khi thu hồi). Đây là hoạt động
có mục đích của người nông dân, dùng sức cơ bắp và thần kinh của mình tác động
phương và chủ thể sử dụng đất thu hồi nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, từ đó có sự
quan tâm đúng mức và phải coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến
lược phát triển KT - XH của đất nước, địa phương. Điều đó bắt nguồn từ các yêu
cầu sau:
Một là, ổn định cuộc sống cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp
Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các KCN, khu kinh tế, KCX, khu đô
thị và các công trình công cộng đã tác động rất lớn đến việc làm điều kiện sống và
thu nhập của nhiều hộ nông dân, do: Thứ nhất, họ phải thay đổi nơi cư trú, từ chỗ
sống gắn với ruộng vườn đến sống ở các khu nhà phân lô hoặc diện tích ruộng vườn
nhỏ sẽ làm xáo trộn cuộc sống vốn có trước đây và ảnh hưởng rất lớn đến các công
13
việc làm thêm của họ. Thứ hai, khi bị thu hồi đất sản xuất làm cho một bộ phận lao
động nông nghiệp mất việc làm truyền thống, thất nghiệp hoặc buộc phải chuyển
đổi nghề nghiệp nhưng rất khó khăn, bởi đa số họ đều có trình độ học vấn thấp,
không có tay nghề, thiếu vốn để tổ chức việc làm. Hơn nữa, đối với họ, việc tìm
kiếm một nghề để ổn định cuộc sống là không đơn giản, vì thiếu những điều kiện cơ
bản như vốn, mặt bằng sản xuất, công nghệ.. .Do đó, Đảng, Nhà nước và chủ thể sử
dụng đất thu hồi cần thiết phải quan tâm tạo việc làm cho họ để ổn định cuộc sống,
tránh tình trạng thu hồi đất mà không có các chính sách hỗ trợ, hoặc quy hoạch treo,
vì vậy phải quan tâm giải quyết việc làm cho họ, nhất là giai đoạn đầu.
Hai là, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Một trong những thiếu sót lớn nhất của công tác thu hồi đất là các chính sách
xã hội bền vững sau thu hồi đất. Trong những năm qua, tạo việc làm cho bộ phận
lao động nông nghiệp dôi dư do quá trình thu hồi đất nông nghiệp đạt hiệu quả thấp,
tỷ lệ lao động nông nghiệp thất nghiệp tương đối cao, bởi vì:
Thứ nhất, việc sử dụng nguồn lao động còn lãng phí, chưa tạo ra được nhiều
việc làm cho người lao động nông nghiệp. Thực tế cho thấy, sau khi bị thu hồi đất
nông nghiệp một bộ phận nông dân, nhất là lao động lớn tuổi và lao động nữ bị thất
nguồn lực do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mang lại cũng kém đi. Khi thất
nghiệp, người lao động, nhất là những người nghèo và người thân trong gia đình họ
không có đủ thu nhập để tiếp cận và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần
mà xã hội mang lại, như ăn uống, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, văn hoá,
thể thao,... làm nới rộng khoảng cách giàu nghèo, gây bất bình đẳng xã hội. Do đó,
giải quyết tốt vấn đề việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa không chỉ
tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân, mà còn góp phần thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội.
Bốn là, giảm các tệ nạn xã hội
Tạo việc làm duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với
phát triển KT - XH đất nước, địa phương. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất
nước đang diễn ra trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, các tệ nạn xã hội đang trở thành vấn đề rất nghiêm trọng mà một trong
những nguyên nhân chủ yếu nhất là do chưa giải quyết tốt vấn đề việc làm cho
người lao động dẫn đến “nhàn cư vi bất thiện”.
Qua kết quả điều tra và nghiên cứu, nhiều nhà khoa học và quản lý xã hội đã
đi đến kết luận rằng: Số người thất nghiệp đóng góp vào các tệ nạn xã hội chiếm
một tỷ lệ đáng kể, bao gồm, ma tuý, mại dâm, trộm cắp, đâm thuê, chém mướn...
Bởi lẽ, đối với người lao động, mất việc làm là mất nguồn thu nhập, mất kế sinh
15
nhai, con người sẽ mất đi phương cách sống chủ yếu nhất để thể hiện và khẳng định
mình. Vì vậy, bản thân người lao động và gia đình họ dễ rơi vào tình trạng khốn
khó, túng quẩn, khủng hoảng về tinh thần, thiếu niềm tin vào cuộc sống, mặc cảm,
tự ti vì nghèo hèn, dễ bị tổn thương, thậm chí bất mãn về chính trị, gây nên các tệ
nạn xã hội, vi phạm pháp luật...làm đảo lộn nếp sống lành mạnh và ảnh hưởng xấu
đến thuần phong, mỹ tục, gây bất ổn xã hội. Đặc biệt, đối với người lao động nhập
cư ở đô thị lớn, vấn đề thất nghiệp trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều, do họ luôn
phải đối diện với nhu cầu hết sức bức bách là phải có tiền để lo toan cuộc sống như:
hỏi phải thúc đẩy xây dựng, cải tạo, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với việc hình
thành các khu công nghiệp, khu du lịch, thương mại, khu đô thị mới ngày càng hiện
đại. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại sẽ kích thích gia tăng hội tụ các nguồn lực đầu
tư cho sản xuất thúc đẩy hoạt động kinh tế phi nông nghiệp diễn ra ngày càng sôi
động, đa dạng hóa và phát triển các ngành nghề công nghiệp, xây dựng, thương mại
và dịch vụ…, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, ĐTH
từ đó tạo mở nhiều việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, xây dựng và
thương mại.
Hai là, CNH, HĐH và ĐTH tạo mở nhiều việc làm trong khu vực kinh tế
không chính thức. ĐTH thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và mức
sống của cư dân đô thị làm nảy sinh các nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh
thần. Để đáp ứng nhu cầu đó đòi hỏi sản xuất và dịch vụ được mở rộng, kéo theo sự
phát triển đa dạng các ngành nghề, tạo mở nhiều việc làm mới. Trong đó, đáng chú
ý là sự hình thành và phát triển một cách tự phát khu vực kinh tế không chính thức
với những hoạt động kinh tế quy mô nhỏ, không đăng ký, không đòi hỏi trình độ
chuyên môn kỹ thuật như bán hàng rong, các dịch vụ, buôn bán nhỏ tại nhà, vỉa hè,
giúp việc gia đình, lao động tự do… Sự phát triển của khu vực kinh tế không chính
thức sẽ tạo ra nhiều việc làm tạm góp phần giải quyết việc làm cho một lực lượng
lao động không nhỏ không có tay nghề, lao động nhập cư, lao động nông nghiệp
thuộc diện thu hồi đất sản xuất, lao động dôi dư do sắp xếp lại các đơn vị kinh tế….
Ba là, CNH, HĐH và ĐTH thúc đẩy khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm
việc làm đối với người lao động, đặc biệt, đối tượng là nông dân bị thu hồi đất.
Trình độ người lao động ngày càng được nâng cao. Do xu hướng giảm lao
động, việc làm có trình độ chuyên môn thấp và tốc độ gia tăng dân số nên một bộ
phận người lao động, nhất là nông dân trong độ tuổi lao động khi chuyển mục đích
sử dụng đất nông nghiệp, buộc phải tự trang bị cho mình kiến thức, trình độ chuyên
môn kỹ thuật nhất định. Vì vậy, thu hồi đất cho công nghiệp hóa, đô thị hóa đã tự
động hướng một bộ phận lao động tham gia vào các chương trình giáo dục, đào tạo,