Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch: Thuyết minh về Đền Quán Thánh - Pdf 41

THUYẾT MINH ĐỀN QUÁN THÁNH
Đền Quán Thánh, tên chữ là Trấn Vũ Quán là một ngôi quán cổ, tọa lạc ở một
vị trí đắc địa tại phố Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đền nằm bên
cạnh hồ Trúc Bạch nhìn ra hồ Tây cùng với chùa Trấn Quốc và chùa Kim Liên tạo
nên sự hài hoà trong kiến trúc cảnh quan và trong văn hoá tín ngưỡng đối với cả
khu vực phía Tây Bắc của Hà Nội.
Đền Quán Thánh có từ đời Lý Thái Tổ (1010 - 1028), thờ Huyền Thiên Trấn
Vũ, đây là vị thần tiêu biểu của thần điện Đạo giáo và là một trong bốn vị thần
được lập đền thờ để trấn giữ bốn cửa ngõ thành Thăng Long khi xưa hay còn gọi là
Thăng Long tứ trấn. Bốn ngôi đền đó là: Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ (trấn giữ
phía Đông kinh thành); Đền Voi Phục thờ thần Linh Lang (trấn giữ phía Tây kinh
thành); Đền Kim Liên thờ thần Cao Sơn (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền Quán
Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ (trấn giữ phía Bắc kinh thành).
Năm 1010 sau khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư - Ninh Bình về Đại La Thăng
Long (Hà Nội ngày nay). Ông đã cho xây dựng thành Thăng Long để bảo vệ cơ
quan đầu não của nhà nước phong kiến xưa. Có thể nói đây là một tòa thành hội tụ
tất cả những gì tinh hoa và nó thật xứng đáng với những kỳ vọng của Lý Thái Tổ
khi ông viết:" Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm trời đất,
được cái thế Rồng cuộn Hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện đường
nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu
cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực tốt tươi. Xem khắp đất Việt chỉ có
nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng
là nơi kinh đô bặc nhất của đế vương muôn đời" (Chiếu dời đô - Lý Công Uẩn).
Kinh thành Thăng Long xưa bên cạnh những rào chắn thiên nhiên như sông
Nhị, núi Tản, sông Tô, núi Nùng còn có những lực lượng bảo vệ kinh thành về mặt


tâm linh. Đó là 4 ngôi đền thờ các vị thần trấn 4 phương, mà chúng ta gọi là Thăng
Long tứ trấn. Đây là 4 ngôi đền linh thiêng bảo vệ thành Thăng Long khỏi các thế
lực bên ngoài, cũng như các lực lượng thù địch bốn phương luôn luôn đe dọa sự
bình yên của nhân dân Đại Việt. Bốn ngôi đền này ra đời cùng với sự ra đời của

hàng năm nước lớn nhỏ, mỗi nước cát cứ một phương, trị dân mỗi cách, các nước
gây ra chiến tranh. Để ổn định thống nhất đất nước, nhiều học thuyết ra đời. Pháp
gia thì chủ trương trị nước, trị dân bằng pháp luật, Nho gia chủ trương trị nước
bằng lễ trị, đức trị. Đạo giáo do Lão Tử khởi xướng chủ trương trị nước theo học
thuyết Đạo và Đức và lấy tác phẩm "Đạo đức kinh" của Lão Tử làm tư tưởng giáo
lý của tôn giáo này. Những người tu hành theo Đạo giáo thường sống trong các đền
hay các cộng đồng tương tự thầy tu Phật giáo. Đền của họ được gọi bằng một cái
tên riêng là "Quán". Đạo giáo đã được du nhập vào Việt Nam vào thời thịnh Đường
thế kỷ VI - VII, khi tư tưởng Đạo giáo vào nước ta, nó đã kéo theo việc xây dựng
các kiến trúc của Đạo giáo đó là ngôi quán, nơi thờ những vị thần liên quan trực
tiếp đến ngôi quán đó, ví dụ như Bích Câu đạo quán thờ Tú Uyên, Giáng Kiều. Hay
như tại Lâm Dương quán (Hà Đông) hiện trong điện thờ vẫn thờ bộ tượng Tam
Thanh, Nam Tào, Bắc Đẩu.
Và ở quán Trấn Vũ vị thần được thờ là Huyền Thiên Trấn Vũ hay còn có tên
gọi là Huyền Thiên thượng đế Đăng ma thiên tôn Trấn Vũ. Đây là vị thần tiêu biểu
của thần điện Đạo giáo. Ngài có nhiệm vụ trấn giữ phương Bắc, người xưa cho
rằng: phía Đông ứng với mùa xuân, màu xanh, hành mộc và thờ thần Bạch Hổ;
phía Tây ứng với mùa thu, màu trắng hành kim và thờ thần Thanh Long; phía Nam
được coi là tiền án của kinh thành ứng với mùa hạ, màu đỏ, hành hỏa và thờ thần
Chu Tước (Sẻ Đỏ), phía Bắc ứng với mùa đông, màu đen, hành thủy và thờ Huyền


Vũ (con Rùa). Huyền Thiên Trấn Vũ là một vị thần rất hiển linh, Ngài có công lớn
trong việc diệt trừ yêu quái giúp cho việc xây dựng các công trình được bền vững,
giữ yên sơn hà xã tắc. Trong dân gian còn lưu truyền rất nhiều huyền thoại về vị
thần Trấn Vũ như:
Sách Chân Vũ quán lục do Thanh Hòa Tứ soạn vào năm Tự Đức thứ 7 (1854)
có kể lại rằng: Vào thuở sơ khai, Huyền Thiên Trấn Vũ đã hiển linh vào cuối đời
Hùng Vương. Thời ấy tại làng Long Đỗ (tức thành Thăng Long bây giờ) thuộc bộ
Giao chỉ có một khu đất gọi là Lâm Ấp, có núi Thiết Lâm có con cáo 9 đuôi thường

ngày nay) thì hóa. Lần thứ 2 vào đời Hùng Vương thứ 7 giặc Hán sang xâm lược
nước ta do tướng là Thạch Linh dẫn quân đến đóng đô ô ở bờ sông Thương. Danh
tướng nước ta là Lý Công Đạt đem quân đến núi Tam Táng để chống giữ nhưng bị
thua, phải chạy đến thành Long Đỗ (Thăng Long). Vua cho cầu người tài để giúp
nước. Huyền Thiên Trấn Vũ đã đầu thai vào một bà mẹ ở làng Nghĩa Vũ tổng Vũ
Ninh thành một cậu bé, bỗng chốc lớn lên nhanh chóng và nói với sứ giả rèn cho
một con ngựa sắt nặng nghìn cân và một roi sắt nặng trăm cân. Thần cùng ba tướng
dẫn ba vạn quân, đuổi đánh chúng ở xứ Vũ Ninh, giết được 4 tướng giặc và sau đến
núi Vũ Ninh thì hóa. Vua Hùng phong tước gọi là Thiên Vương và cho lập đền thờ
thần. Ở nơi thần sinh ra, dân làng cũng lập đền thờ và khắc vào bia đá 7 chữ: Đồng
Thiên Vương Thành Mẫu cô trạch". Như vậy là Huyền Thiên Chân Vũ cũng chính
là Thánh Gióng mà nhân dân ta vẫn thờ cũng. Có công trong việc đánh giặc Ân.
Bên cạnh đó thần còn có rất nhiều công lao như: giúp vua Lê Đại Hành chống
quân Tống và diệt trừ yêu quái, giúp vua Lý Thánh Tông giết chết 3 con vật là Hồ
tinh, Quy tinh và Xà tinh đã phá vỡ đê sông Hồng. Vua đã lập đền thờ gọi là đền
Chân Vũ, chính là ngôi đền Quán Thánh hiện nay.


Qua các truyền thuyết kể lại chúng ta có thể biết rằng, vị thần được thờ ở Trấn
Vũ Quán là một vị thần Đạo lão ở Trung Quốc. Đây là vị thần trấn giữ phương Bắc.
Vị thần này đã được du nhập vào nước ta từ khá sớm. Tuy nhiên, việc thờ Đức
Huyền Thiên Trấn Vũ đã trở thành một thứ tôn giáo pha trộn tín ngưỡng của người
dân Việt. Việc thờ đạo Lão nói chung và thờ thần Trấn Vũ nói riêng là rất phổ cập ở
xứ Bắc Kỳ. Tuy nhiên, trong hàng loạt những ngôi quán thờ đức Huyền Thiên Trấn
Vũ thì quán Trấn Vũ ở Hà Nội vẫn là ngôi quán cổ kính và là một di tích nổi tiếng
vào bậc nhất.
Là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa, Trấn Vũ quán không chỉ
là một nơi thờ tự linh thiêng mà quán còn là một di tích nổi tiếng, một danh thắng
vào bậc nhất không những của kinh đô Thăng Long mà trên toàn xứ Bắc Kỳ. Quán
tồn tại suốt nghìn năm lịch sử, được đời đời chúng dân hương đăng thờ phụng, các

dột nát, bồi đắp sửa sang tam quan, dựng bia đá, xây nhà bia khiến Quán Trấn Vũ
trở nên khang trang diễm lệ hơn bao giờ hết.
Sang thế kỷ 20, dưới thời thuộc Pháp, Quán Trấn Vũ được Viễn Đông Bác Cổ
học viện liệt hạng số 1 và được nhà nước bảo hộ Pháp cùng quan dân sở tại tu sửa
nhỏ nhiều lần, như năm 1941, quán được đắp thêm đôi voi chầu ở sân trước khu
điện thờ chính...Những lần tu sửa này đã giữ cho ngôi quán được trang nghiêm như
hiện nay.


Việc tu sửa đền Quán Thánh vẫn được thực hiện rải rác cho đến ngày nay. Tuy
nhiên giá trị kiến trúc cảnh quan hiện nay mà ta có thể thấy được đó là phong cách
kiến trúc ở lần trùng tu đời vua Thành Thái thứ 5 (1893).
Tóm lại, sau gần nghìn năm lịch sử tồn tại và phát triển, do những biến động
của thời cuộc, quán Trấn Vũ đã bị thu hẹp nhiều về quy mô nhưng vẫn giữ được
toàn bộ tổng thể những bộ phận chính của một công trình tôn giáo tín ngưỡng. Các
bộ phận kiến trúc của công trình còn nguyên vẹn, nguy nga đồ sộ, bên trong chứa
nhiều di vật quý giá của các thời đại đã qua. Lại nằm ở vị trí đẹp đẽ thuận lợi về
giao thông, trung tâm chính trị, văn hóa xã hội và du lịch của Thủ Đô Hà Nội. Quán
Trấn Vũ quanh năm 4 mùa thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến
tham quan vãn cảnh, chiêm bái và ngưỡng vọng thờ phụng thần Trấn Vũ.
Nằm ở một vị trí đắc địa, cạnh hồ Tây và hồ Trúc Bạch, trung tâm chính trị văn hóa, xã hội, mặt chính của ngôi quán lại quay ra phía đường Thanh Niên. Con
đường này có từ khoảng thế kỷ 17 (năm 1620) sau khi dân của hai làng Yên Hoa và
Yên Quang đắp một con đê nhỏ ngăn góc đông nam Hồ Tây ra để cho tiện việc
đánh cá. Con đê này có tên chữ là "Cố Ngự yển" (nghĩa là Đập Giữ Vững). Từ chữ
Cố Ngự mà dân gian đọc chệch là Cổ Ngư. Con đường Cổ Ngư tồn tại mãi cho đến
năm 1957, khi mà Thành đoàn thanh niên lao động thành phố Hà Nội tổ chức lao
động xã hội chủ nghĩa đắp mở rộng đường ra. Thanh niên Hà Nội phải lao động
trong hai năm đường mới hoàn thành và trở nên rộng đẹp, có vườn hoa, cây cảnh
tươi tốt như ngày nay. Theo sáng kiến đề xuất của Bác Hồ, con đường mang tên
Thanh Niên từ năm 1959. Hiện nay, đường Thanh Niên được nhiều người biết đến

nhà bia tưởng niệm các liệt sỹ phường Quán Thánh, được xây dựng năm 1997, cửa


hướng ra mặt phố Quán Thánh. Phía bên trái của đền còn có 1 dãy nhà cấp 4, là nơi
bán hàng lưu niệm. Qua phần sân, ta vào tới ngôi đền. Phần chính của đền bao gồm
nhà Tiền tế với ba lớp nhà song song và Hậu cung. Không giống các kiến trúc khác
như đình, chùa được gọi theo tên chữ Trung Quốc. Các dãy nhà của quán Trấn Vũ
được cấu trúc theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, tạo nên những nét lô xô của các lớp
nhà.
Bước chân tới tham ngôi đền, hình ảnh đầu tiên mà chúng ta bắt gặp đó chính
là tứ trụ với bốn cột trụ biểu nằm sát mặt đường Thanh Niên, tứ trụ quay về hướng
Tây được xây băng gạch và vôi vữa. Kết cấu kiến trúc gồm bốn trụ cột: hai trụ lớn
và hai trụ nhỏ cân đối. Nối liền giữa trụ lớn và trụ nhỏ là tương bao xây liền khối.


Trụ chính
Cột trụ chính được chia làm nhiều phần nối liền nhau. Bên dưới là bộ phận

chân bệ đắp nổi khối vuông cả bốn mặt. Bên trên là phần thân cột được xây lõm,
bên trong đắp nổi hàng chữ Hán được viết rất đẹp và rõ nét. Tiếp theo đó là gờ chỉ
giật cấp thu nhỏ thân cột tạo ra phần trên thân cột một khối hình vuông lồng đèn.
Bốn mặt của lồng đèn được đắp khung hình vuông có gờ chỉ nối. Tại đây người ta
khắc nổi chữ Hỷ.
Phía trên lồng đèn là phần mui luyện. Mui luyện được thu nhỏ dần tạo sống
cạnh bốn góc. Trên mui luyện là một phần được đắp nổi khối tròn đều. Các mặt
chính của khối tròn có trang trí.
Đỉnh trụ được trang trí hình tượng tứ phượng quy hồi, biểu tượng cho chốn
hội tụ tinh hoa trời đất. Phượng là con vật linh thiêng, với ý nghĩa đầu đội công lý,
mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là
tinh tú, chân là đất, phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Bốn con chim phượng quay

kiểu mũi sư tử to, cánh mũi nở rộng về hai bên. Miệng hổ phù há để lộ hàm răng
đang cắn nửa vành trăng có gắn chữ thọ. Hai tay hổ phù dang rộng ra hai bên chống
xuống như đỡ thân mình. Hình tượng hổ phù ngậm vành trăng là cầu mong sự no


đủ, hạnh phúc, trường tồn, biểu thị cho sự trường tồn mãu mãi của thần Trấn Vũ
trong niềm tin tâm linh của nhân dân Việt Nam. Hình tượng hổ phù còn biểu hiện
vũ trụ bao la vô bờ bến, là hình ảnh linh thiêng, xua đuổi tà mà, chống lại ám khí,
bảo vệ chủ nhân. Đối xứng hai bên hổ phù là hình một đôi rồng chầu. Toàn thân
rồng uốn thành nhiều nếp cong cân đối. Điểm xuyết thân rồng là những cụm mây
xoắn thành nhiều lớp nhỏ. Hai đuôi rồng chụm vào nhau nâng cằm của hổ phù. Với
cách thức bố cục cân đối, mảng trang trí rồng chầu hổ phù càng thêm trang trọng,
đẹp mắt.
• Tam quan.
Từ tứ trụ qua một khoảng vỉa hè rộng, ta tới tam quan của đền Quán Thánh.
Nếu như ở chùa, tam quan bao hàm ý nghĩa Phật triết sâu sắc, có thể coi như tuyên
ngôn của đạo Phật đối với đời thì tam quan của Quán lại là biểu tượng của "huyền"
tức là của đạo, của hư vô và huyền ảo.
Tam quan được xây dựng hai tầng, tầng trên là gác chuông, tầng dưới là cửa ra
vào. Phía trước tam quan có hai cột vuông lớn cao 8m. Về hình thức hai cột này rất
giống với tứ trụ trước Tam quan. Cột trụ được nối với tam quan bằng tường bao.
Trên hai bức tường này có trang trí đề án Tùng - Hạc và Mai - Điểu.
Đố án Mai - Điểu được thể hiện dưới dạng phù điêu khá chi tiết. Cây mai cổ
thụ có nhiều nếp gấp uốn thân, để lộ ra những mắt cây già cỗi. Thân mai vươn cao
trên núi đá, cành hoa nở in trên nền trời xanh. Trên cây là một đôi uyên ương đang
chuyền cành, tạo ra không khí sinh động cho bức tranh. Bức tranh Mai - Điểu ở đây
muốn mang đến ý nghĩa tốt đẹp về một cuộc sống hạnh phúc.
Đồ án Tùng - Hạc được thể hiện ở tường bao bên trái, ở đây, cây tùng cũng có
những biểu hiện già cỗi mà cứng rắn. Những nếp uốn thân cây vươn lên trên núi đá,
tỏa bóng mát xuống thân hạc. Chính diện là một chim hạc đứng, bóng dáng hạc ở

giữa có hình ảnh rồng chầu mặt trời với ý nghĩa ngọn lửa thiêng bảo vệ sự an lành
cho nơi linh thiêng trước mọi sự xâm nhập của tà ma. Bờ dải có đắp nổi hình con
phượng chầu. Đầu phượng ngẩng cao quay về trung tâm. Thân phượng bám vào bờ
dải theo bốn hướng. Cánh phượng dài ôm lấy thân mình tròn đều. Đuôi phượng


chạy dài mềm mại theo bờ dải. Hình ảnh phượng hòa vào kiến trúc một cách thanh
thoát.
Đối xứng với lầu giữa là hai lầu nhỏ ở hai bên. Hai lầu này thấp hơn, đường
đao cong mềm mại, phía trong hai lầu nhỏ được xây theo kiểu cuốn vòm. Phía trên
cửa người ta đắp nổi hình hai trái đào và hia trái lựu lồng vào nhau chung một
cuống. Hình tượng quả ở đây cũng mang ý nghĩa nhất định: quả lựu (biểu tượng
của sự sung túc, no đủ), quả đào (biểu tượng cho sự trường thọ).
Toàn bộ Tam quan đền Quán Thánh được xây dựng trên nền là những phiến đá
xanh lớn ghép lại với nhau. Sự liên kết này tạo cho công trình sự vững chãi.
Bước qua cổng tam quan là một khoảng sân khá rộng, khoảng sân này chính là
không gian chứa đầy ánh sáng và màu xanh để chuyển tiếp giữa cái bình dị của đời
thường với cái uy nghiêm của Thần Thánh. Đặc biệt, hai bên sân có đôi voi phục.
Theo thuyết phong thủy, con voi có thể mang lại may mắn và thành công. Chúng
được ngưỡng mộ vì có trí thông minh, sức mạnh và nhân phẩm tuyệt vời. Chúng
vừa có phẩm chất con người vừa có phẩm chất của thần linh, nên với người Phương
Đông voi là biểu tượng chung cho sự may mắn, được thờ cúng và tôn vinh. Điều đó
dễ thấy vì sao đôi ngựa được đặt tại di tích này.
Sau khi qua khoảng sân rộng rãi chúng ta sẽ thấy trước mặt là tòa nhà Tiền tế.
Do ngôi quán được kết cấu theo kiểu trùng thiềm điệp ốc với những lớp nhà nối
tiếp nhau. Bởi vậy, khu nhà Tiền tế cũng có 3 lớp nhà.
• Lớp nhà thứ nhất
Nhà thứ nhất được làm theo kiểu tường hồi bít đốc với hai mái cân xứng, lợp
ngói kiểu vảy hến. Phần chính giữa bờ nóc đắp bầu rượu hai bên là cá chép. Cá
chép tỳ thân xuống nóc, hai vây xòe ra hai bên. Thân và đuôi uốn cong để lộ ra

Bằng kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng, người nghệ nhân đã rất chú ý tới yếu tố phối
cảnh không gian; sự hài hòa của thiên nhiên, con người và động thực vật.


Trước nhang án là hình tượng đôi Rùa đội Hạc. Trong quan niệm của người
Việt, rùa là loài bò sát lưỡng cư, có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc nên biểu thị
cho sự trường tồn. Rùa là loài không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là thanh
cao, thoát tục. Hạc là loại chim quý được dùng để tượng trưng cho đạo giáo thần
tiên, ở đâu có hạc là ở đó có tiên nên các hoa văn, họa tiết trang trí thường có cảnh
tiên cưỡi hạc. Do đó hạc là biểu hiện cho sự tinh túy, thanh cao.
Theo một câu chuyện truyền thuyết thì hạc và rùa là đôi bạn thân của nhau.
Rùa là loài sống ở dưới nước, biết bò. Hạc là loài sống trên cạn, biết bay. Khi trời
mưa lũ, rùa đã giúp hạc vượt qua vùng ngập nước úng để đến nơi khô ráo. Ngược
lại, khi trời hạn hán rùa được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Câu chuyện này nói
lên lòng chung thủy, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn.
Chính vì ý nghĩa đó mà rùa và hạc là hai trong số những con vật được người
Việt đề cao, biểu thị cho sự khát vọng tốt đẹp may mắn và chúng có một vị trí quan
trọng trong nền văn hóa dân tộc, chúng còn là hình ảnh biểu thị cho sự hòa hợp
giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương.
• Đèn đồng
Phía trước của nhang án là hai cây đền đồng do ông Nguyễn Văn Đạo người
làng Ngũ Xá đúc cho chùa Thần Quang tại làng. Cây đèn này đúc cùng năm với
pho tượng đồng Adiđà ở chùa Thần Quang làng Ngũ Xá vào năm 1950.
Đèn được chia làm 4 phần: cổ đèn, đĩa đèn, thân đèn và chân đế. Những bộ
phận này được đúc dời sau đó được khớp lại với nhau bởi những đường răng.
Đồ án trang trí chủ yếu đúc nổi hình "lưỡng long chầu nhật". Mặt trời là một
khối tròn nổi, để trơn nhẵn, xung quanh có các tia lửa mảnh bay lên. Phía dưới chân
đèn là hoa văn hình sóng nước.
Ở phần đế của đèn được chia thành những ô hình chữ nhật. Ô trước mặt có
đúc nổi chữ: Việt Nam - Hà Nội. Thần Quang Tự - Ngũ Xá phố (những chữ này

hương để thờ. Khi ông mất đi, để ghi công thầy, những học trò của ông đã tạc
tượng ông bằng đá để thờ.
Pho tượng được tạo tác có kích thước như người thật và ở trong tư thế ngồi
thiền, hai tay đan ngón vào nhau. Đầu tượng đội chiếc khăn mỏng, phần dưới chiếc


khăn mỏng, phần dưới chiếc khăn được buông xuống nhẹ nhàng ôm lấy bờ vai.
Khuôn mặt được tạc đầy đặn hình trái xoan, mắt mũi thể hiện chi tiết. Từ khuôn
mặt toát lên vẻ ưu tư, hiền hậu. Thân tượng tròn, bụng hơi nở. Tượng mặc áo đạo
sĩ, không trang trí hoa văn. Chỉ có chiếc tay áo thụng rộng hơi kéo lên tạo ra những
nếp áo mềm mại rủ xuống phủ kín hai đầu gối.
• Lớp nhà thứ 3
Có kết cấu như lớp nhà thứ nhất. Phần mái cũng được lợp ngói vảy hến nhưng
trang trí có phần đơn giản hơn.
• Hậu cung
Hậu cung nằm song song với nhà Tiền tế và được ngăn cách với lớp nhà thứ 3
bởi hệ thống xà ngưỡng cao 0.35m và một hệ thống cửa được sơn son, thiếp vàng.
Hậu cung được làm cao, rộng, có hình vuông theo kiểu phương đình với 2
tầng mái. Mái được lợp ngói vẩy hến. Tầng mái trên, bờ nóc có trang trí rồng chầu
mặt trời, tầng mái dưới 4 đầu đao được uốn con phượng, đắp hình rồng và hoa lá.
Hậu cung là gian thờ chính của ngôi đền, nơi đặt tượng Huyền Thiên Trấn Vũ.
Quán Trấn Vũ nổi tiếng cũng nhờ pho tượng này. Pho tượng được đặt tại gian giữa
nhà Hậu cung. Trước đây tượng Trấn Vũ được làm bằng gỗ, đến năm Vĩnh Trị thứ
2 đời vua Lê Hy Tông (1677) mới được đúc bằng đồng, tượng nặng 4 tấn, cao
3.96m, chu vi bệ tượng là 8m. Năm 1892 toàn bộ bức tượng được nâng lên bậc đá
xanh cao 1.5m.
Tượng được đặt trong tư thế ngồi trên tảng đá lớn, đầu để trần, tóc xõa ra đằng
sau. Khuôn mặt vuông chữ điền, trán dô, lộ rõ quai hàm. Mũi rọc dừa cân đối, hai
cánh mũi nở đều. Môi hơi mím, đôi môi dày. Đôi mắt tượng đỏ ngàu nhìn thẳng về
phía trước thoáng nhìn qua thấy rất dữ tợn, nhưng nhìn kỹ ta sẽ thấy đôi mắt được

Theo nghệ nhân làng Ngũ Xã kể lại rằng, tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được
làm bằng đồng thau, sau khi đúc xong người ta cho hun khói khiến cả bức tượng có
một màu đen như vậy, đôi khi người ta vẫn tưởng tượng của Ngài được làm bằng
đồng đen, sở sĩ làm tượng thần có màu đen bởi màu đen chính là biểu tượng của
phương Bắc.


Nhìn chung, pho tượng đồng Trấn Vũ là một kiệt tác nghệ thuật, đỉnh cao của
nghệ thuật đúc đồng của ông cha ta vào thế kỷ 17. Pho tượng đã thu hút sự chiêm
bái, thờ phụng của đông đảo các tầng lớp nhân dân và du khách thập phương. Du
khách đến đây chiêm bái thường có thói quen sờ vào chân của thần Trấn Vũ: người
ta tin rằng làm như vậy sẽ khiến tâm hồn thanh thản, thần sẽ truyền sức mạnh cho
mình sẽ thấy khỏe mạnh hơn.
• Tượng các đại nguyên soái
Tượng được đặt hai bên nhà Hậu cung. Theo quan niệm dân gian thì đây là
quân của thần Trấn Vũ. Mỗi bên nhà đặt hai tượng. Tượng được đắp bằng đất sơn
màu. Mỗi pho tượng cao 1.6m, mặc áo dài, các nếp áo ở thân và tay rủ xuống rất tự
nhiên và rõ nét, chân đi hài. Hai tượng ở gian bên trái: một ông cầm kiếm, một ông
cầm cờ. Hai tượng ở gian bên phải: một cầm roi, một cầm giáo.
Bốn pho tượng này có niên đại vào khoảng thế kỷ 19. Bởi theo như tấm bia
ghi lại việc tu sửa Quán Trấn Vũ vào năm Tự Đức thứ 10 (1857) thì khi sửa quán
đã cho đắp lại bốn pho tượng đại Nguyên soái.
• Trang trí trên kiến trúc
Tại quán Trấn Vũ, trang trí trên kiến trúc rất dày đặc. Phổ biến là các đồ án tứ
linh và cỏ cây hoa lá. Di tích nổi bật lên với các mảng chạm khắc gỗ được thể hiện
trên các chi tiết kiến trúc của các lớp nhà. Đó là trên các đầu bảy, đầu dư vì nóc,
cửa võng, hệ thống cửa gỗ, hoành phi, câu đối...
Kĩ thuật chạm khắc được sử dụng phổ biến ở đây là kĩ thuật chạm lộng và
chạm thủng, các họa tiết sinh động, các chi tiết kiến trúc đều được sơn son, thiếp
vàng lộng lẫy.

là cuốn thư, trong đó đề một bài thơ chữ Hán khảm trai.
Tóm lại, các đề tài trang trí trên kiến trúc tại đền Quán Thánh mang rõ màu
sắc của Đạo giáo, thể hiện tư tưởng của Đạo giáo, phổ biến là tứ linh và tứ
quý...Đặc biệt là chủ đề sinh hoạt của con người và thần tiên được thể hiện rất
thành công về mặt tạo hình. Các mảng trạm đều được sử dụng kỹ thuật chạm thủng,
chạm lộng và chạm bong kênh. Tất cả đều được sơn son, thiếp vàng đẹp mắt. Có


thể nói, điêu khắc trang trí tại đền Quán Thánh đã đạt tới giá trị cao về mặt tạo
hình.
• Các di vật bằng đá
 Bia Đức Long thứ 5 (1633)
Bia "Diệu cảm tu tâm kiến văn lạc đạo
bi" (Cảm lẽ huyền diệu tu dưỡng cõi
lòng, trông nghe nhận hiểu, vui theo đạo
lý) niên hiệu Đức Long thứ 5 (1633).
Bia có dáng cung hơi tròn ở phần trán
bia. Trán bia được khắc nổi hình lưỡng
long chầu nhật, bên dưới có khung chữ
nổi "Diệu cảm tu tâm kiến văn lạc đạo
bi". Thân bia chữ được khắc chìm. Diềm
bia trạm nổi hình hoa sen dây (bia bên
phải)



Bia Tự Đức niên hiệu thứ 10 (1857) (ở giữa)

Bia "Trùng tu Trấn Vũ quán bi ký" niên
hiệu Tự Đức thứ 10 (1857) để nguyên

cành mai mềm mại uốn quanh ôm lấy cuốn thư.
Biển trái đào và cuốn thư đều được sơn màu đen bóng, đường diềm có màu
vàng nhũ. Trong lòng là những bài thơ chữ Hán được khảm trai có màu trắng sáng.
Thăng Long tứ trấn – sự hội tụ văn hóa nội lực và ngoại sinh

TRẤN NAM - ĐỀN KIM LIÊN



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status