Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
--------------------------------
ĐỖ ĐỨC VỴ
LỊCH SỬ BAN TUYÊN GIÁO
HUYỆN ỦY SƠN DƢƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG (1946 – 2006)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC
Thái Nguyên – Năm 2007
Footer Page 1 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 2 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
------------------------------ĐỖ ĐỨC VỴ
LỊCH SỬ BAN TUYÊN GIÁO
HUYỆN ỦY SƠN DƢƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG (1946 – 2006)
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
6
3
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ đề tài
7
4
Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
7
5
Đóng góp của Luận văn
8
6
Kết cấu của Luận văn
9
Chƣơng mở đầu: SƠN DƢƠNG - MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƢỜI
33
33
BAN TUYÊN GIÁO TRONG THỜI KÌ VỪA SẢN XUẤT VỪA CHIẾN
ĐẤU, XÂY DỰNG HẬU PHƢƠNG, CHI VIỆN TIỀN TUYẾN (1966-1975)
42
Chƣơng 3: BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG TRONG THỜI
KÌ CÙNG CẢ NƢỚC THỰC HIỆN 2 NHIỆM VỤ CHIẾN LƢỢC XÂY
DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1975- 1986)
3.1
54
BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN ỦY TRONG THỜI KÌ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ
TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT, THAM GIA BẢO VỆ BIÊN GIỚI (1975-1980)
Footer Page 3 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
54
3
Header Page 4 of 166.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
107
Footer Page 4 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Header Page 5 of 166.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác Tuyên giáo là một bộ phận cấu thành của công tác xây dựng
Đảng, chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Nếu cán bộ đảng viên tư
tưởng không nhất trí thì khác nào "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Như vậy
thì không thể làm được cách mạng" [41, tr.288].
Trong tiến trình phát triển của lịch sử cách mạng dân tộc, Sơn Dƣơng là
nơi có vị trí chiến lƣợc quan trọng, là vùng đất hội tụ các điều kiện “thiên
thời, địa lợi và nhân hoà”. Đặc biệt, trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc những năm giữa thế kỉ
XX, Sơn Dƣơng đã trở thành một trong những trung tâm căn cứ địa cách
mạng, nơi sống và làm việc nhiều năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các
cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nƣớc, Quân đội, Mặt trận…
Thành tựu to lớn mà nhân dân các dân tộc Sơn Dƣơng đã giành đƣợc 60
năm qua (1946 - 2006) trƣớc hết là có đƣờng lối đúng đắn, sự lãnh đạo tài
tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quan tâm sâu sắc, chỉ đạo
cứu khoa học. Đến nay đã có tới hàng trăm công trình nghiên cứu với nhiều
góc độ khác nhau đƣợc xuất bản.
Liên quan đến đề tài có tính chất định hƣớng cho việc nghiên cứu là các
văn kiện và nghị quyết của Đảng ở Trung ƣơng và địa phƣơng, đặc biệt là các
văn kiện Đại hội Đảng từ Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930) đến Đại hội X.
Một số công trình nghiên cứu, tập san, báo cáo của các phòng, ban đƣợc
ấn hành trong thời gian từ năm 1946 đến năm 2006 đã đề cập tới sự phát triển
của công tác Tuyên giáo trên địa bàn Sơn Dƣơng. Trong đó, đáng chú ý là các
công trình: "Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Dương 1941 – 2000”, Huyện uỷ Sơn
Dƣơng xuất bản năm 2005; tập ca khúc “Về với Sơn Dương” do Huyện uỷ
Sơn Dƣơng phối hợp với Hội Nhạc sĩ Việt Nam phát hành năm 2005; cuốn
“Truyền thống ngành Văn hóa - Thông tin – Thể thao huyện Sơn Dương 1945
– 2005” do Trung tâm Văn hóa - Thông tin - Thể thao huyện Sơn Dƣơng xuất
bản 2007; cuốn “Bác Hồ với Sơn Dương - Sơn Dương với Bác Hồ” do Ban
Chấp hành Đảng bộ huyện Sơn Dƣơng xuất bản 2007.
Footer Page 6 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Header Page 7 of 166.
Các công trình nêu trên tập trung làm rõ sự phát triển của công tác Tuyên
giáo trong huyện Sơn Dƣơng. Đặc biệt cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn
Dương 1941 – 2000” và các báo cáo tổng kết hằng năm của Đảng bộ, của các
ban xây dựng Đảng, của Uỷ ban nhân dân huyện đã phác hoạ rõ nét về quá
trình phát triển của công tác Tuyên giáo trong 60 năm qua.
4. Nguồn tƣ liệu, phƣơng pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tư liệu:
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng:
- Những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên giáo.
- Những văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nƣớc, của các cấp
uỷ Đảng về công tác tuyên giáo.
- Các báo cáo tổng kết, các sách, biểu bảng thống kê của các ban, ngành
ở địa phƣơng về công tác tuyên giáo.
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các tài liệu thu thập đƣợc từ điều tra,
điền dã, phỏng vấn lấy ý kiến của các bậc lão thành cách mạng, lãnh đạo
huyện đƣơng chức, sƣu tầm các hình ảnh có liên quan để làm cho nội dung
Luận văn thêm phong phú, sinh động.
- Do công tác bảo quản chƣa tốt, tài liệu bị mục nát, một số tài liệu bị
thất lạc nên trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi gặp không ít khó khăn.
Mặc dù đã rất cố gắng khai thác nhiều nguồn tƣ liệu, tiến hành so sánh, đối
chiếu, phân tích để có đƣợc kết quả tin cậy, nhƣng chắc chắn Luận văn còn có
nhiều thiếu sót.
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp lịch sử kết hợp
với phƣơng pháp lôgíc là chủ yếu. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các
phƣơng pháp thống kê, so sánh, phƣơng pháp định lƣợng toán học, phƣơng
pháp điều tra, điền dã.
5. Đóng góp của Luận văn
- Đây là công trình đầu tiên trình bày có hệ thống, chân thực quá trình ra đời và
phát triển của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Sơn Dƣơng trong 60 năm (1946-2006).
Footer Page 8 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Chƣơng 4: BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG TRONG
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG ( 1986 - 2006 )
Footer Page 9 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Header Page 10 of 166.
Chƣơng mở đầu
SƠN DƢƠNG - MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƢỜI
Sơn Dƣơng là một huyện miền núi và trung du nằm ở phía nam tỉnh
Tuyên Quang. Phía bắc giáp huyện Yên Sơn; phía nam và phía tây - nam giáp
ba huyện Đoan Hùng, Phong Châu (Phú Thọ), Lập Thạch (Vĩnh Phúc); phía
đông giáp hai huyện Đại Từ, Định Hóa (Thái Nguyên). Toàn huyện có tổng
diện tích tự nhiên là 789,26 km2; trong đó, đất nông nghiệp có 195,77 km2
(chiếm 24,8%), đất lâm nghiệp có 396,81 km2 (chiếm 50,27%), còn lại
24,93% là các loại đất khác [57].
Đây là vùng đất có địa hình tƣơng đối phức tạp và đƣợc chia thành hai
vùng khá rõ nét. Vùng cao phía bắc chiếm khoảng 50% diện tích toàn huyện,
giao thông đi lại khó khăn, dân cƣ thƣa, chủ yếu là đồng bào dân tộc ít ngƣời.
Phía nam huyện là vùng đồi núi thấp và các soi bãi rộng màu mỡ cùng các
thung lũng ven các con sông lớn nhƣ sông Lô, sông Phó Đáy. Đây là vùng đất
giàu tiềm năng kinh tế, cƣ dân chủ yếu là ngƣời Kinh, Tày, Cao Lan, Dao...
kinh tế chủ yếu dựa vào cây lƣơng thực, cây công nghiệp, chăn nuôi và khai
thác khoáng sản.
Sơn Dƣơng có nhiều sông, suối, ngòi. Lớn nhất là sông Lô chảy qua địa
năm 1 [24, tr.33].
Địa danh và địa giới của vùng đất này trải qua các thời kì đã có nhiều lần
thay đổi. Từ khi xuất hiện nền Văn minh sông Hồng của ngƣời Việt cổ đến
thế kỉ XV, nơi đây đƣợc gọi là châu Để Giang; Để là Đáy, Giang là Sông, tức
là châu Sông Đáy - vùng đất chạy dọc theo Sông Đáy. Đến thế kỉ XVI, dƣới
thời nhà Lê, châu Để Giang đƣợc đổi tên thành châu Sơn Dƣơng; Sơn là núi,
Dƣơng là ánh sáng lúc mặt trời mọc lên - dịch nghĩa là Mặt trời mọc trên đỉnh
núi. Từ năm 1888 trở về trƣớc, Sơn Dƣơng thuộc về phủ Đoan Hùng, trấn
Sơn Tây. Đầu năm 1888, vua Hàm Nghi ra đạo dụ tách châu Sơn Dƣơng từ
phủ Đoan Hùng, nhập vào thừa tuyên Tuyên Quang [1, tr.17].
Về dân số và dân tộc, từ thời kì dựng nƣớc vùng đất này là địa bàn cƣ trú
của ngƣời Việt cổ. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, đồng bào các dân tộc
khác đã đến khai phá, canh tác vùng đất dọc theo lƣu vực sông Lô, sông Phó
1
Hiện nay, việc tìm thấy những chiếc trống đồng Đông Sơn tại Sơn Dƣơng còn có
ý kiến khác nhau của các nhà khoa học về nguồn gốc xuất xứ. Có giả thuyết nêu lên đó là
do quá trình giao thoa, trao đổi văn hóa; cũng có ý kiến cho rằng đó là nơi sản xuất ra
những chiếc trống đồng.
Footer Page 11 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Header Page 12 of 166.
Đáy. Đến năm 2006, dân số toàn huyện là 38.058 hộ, với 171.479 nhân khẩu
12
Header Page 13 of 166.
dân tộc trong huyện cũng luôn thể hiện rõ tinh thần đấu tranh, chống chế độ
phong kiến phản động, hà khắc, bảo thủ lạc hậu, giành lại tự do cho mình.
Trong thế kỉ XI, nhân dân trong huyện đã cùng đội quân của Lý Thƣờng
Kiệt tập kích vào đất Tống, phá vỡ bƣớc đầu kế hoạch xâm lƣợc của quân
giặc, đẩy kẻ thù vào thế bị động và tạo ra nhiều điều kiện có lợi để đánh bại
kẻ thù khi chúng kéo quân sang xâm lƣợc nƣớc ta. Thời nhà Trần, trong cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, nhân dân Sơn Dƣơng đã
cùng đội quân của Chiêu Văn vƣơng Trần Nhật Duật chiến đấu anh dũng, lập
nhiều chiến công vang dội có ý nghĩa chiến lƣợc, góp phần đánh đuổi 50 vạn
quân xâm lƣợc ra khỏi bờ cõi Tổ quốc. Đời Lê - Mạc, hai anh em Vũ Công
Uyển, Vũ Công Mật tập hợp nông dân đứng lên chống chế độ phong kiến
phản động hà khắc. Năm 1789, nhân dân các dân tộc trong huyện đã hoà vào
phong trào Tây Sơn, tham gia chặn đánh quân giặc Thanh do Tôn Sỹ Nghị
cầm đầu trên đƣờng chúng tháo chạy về nƣớc.
Cuối thế kỉ XIX, mặc dù triều đình nhà Nguyễn bạc nhƣợc đầu hàng
quân Pháp, nhƣng cùng với nhân dân cả nƣớc, các dân tộc Sơn Dƣơng vẫn
liên tục nổi dậy đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và
bè lũ tai sai.
Ngày 31-5-1884, thực dân Pháp đem quân chiếm đóng Tuyên Quang.
Nhân dân Sơn Dƣơng bị đặt dƣới ách cai trị của bọn đế quốc, phong kiến.
Chúng thiết lập chính sách cai trị hà khắc, tƣớc đoạt quyền tự do, dân chủ tối
thiếu của nhân dân. Chúng cƣớp đoạt ruộng đất nông dân để lập đồn điền,
biến ngƣời dân thành tá điền làm thuê cho chúng. Những đồn điền bao la,
nhƣ: Roayđơba, Anbe, chúa đất Khôi… cƣớp đoạt của nông dân hàng ngàn
cách mạng phát triển mạnh mẽ trong cả nƣớc.
Sẵn có tinh thần yêu nƣớc, yêu quê hƣơng làng bản từ ngàn xƣa để lại,
nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dƣơng một lòng một dạ đi theo Đảng, quyết
tâm đánh đuổi quân xâm lƣợc, giành lại độc lập, tự do.
Cũng nhƣ cả nƣớc, thực dân Pháp áp đặt ách thống trị vô cùng tàn bạo
tại Sơn Dƣơng. Chúng thiết lập hệ thống đồn bốt dày đặc nhằm đàn áp phong
trào nổi dậy của quần chúng, bảo vệ các cơ quan thống trị. Chính sách cai trị
hà khắc, khai thác bóc lột dã man của đế quốc, phong kiến làm cho đời sống
nhân dân ngày càng cơ cực. Nhân dân ta phải gánh chịu một chế độ tô, thuế
Footer Page 14 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Header Page 15 of 166.
hết sức dã man, với nhiều loại khác nhau: thuế thân, thuế điền, thuế thổ trạch,
tô liên đới 1…
Đời sống vô cùng khổ cực là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những cuộc
đấu tranh của nhân dân Sơn Dƣơng liên tiếp nổ ra. Đặc biệt là cuộc đấu tranh
chống thu thuế, chống thu tô liên đới của hàng trăm nông dân Khe Thuyền,
Văn Phú ngày 7-11-1936, do thầy giáo Nhạ 2 và Lý Tàng chỉ huy giành đƣợc
thắng lợi, đã có tiếng vang và ảnh hƣởng khắp cả vùng [27, tr.21].
Đầu năm 1940, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng, cơ sở cách
mạng đã đƣợc gây dựng ở khắp các địa phƣơng trong tỉnh Tuyên Quang. Ở các xã
vùng phía nam huyện Sơn Dƣơng, các cán bộ của Đảng đã về hoạt động tuyên truyền
vận động nhân dân làm cách mạng đánh đuổi quân xâm lƣợc và bè lũ tay sai bán nƣớc.
Header Page 16 of 166.
nói chuyện, đọc sách báo cách mạng, học thuộc lòng trƣớc rồi truyền khẩu trong
một vài ngƣời, đến tuyên truyền theo từng nhóm, tổ...
Các tờ báo của Đảng đƣợc chuyển từ miền xuôi lên đã góp phần tuyên truyền, giác
ngộ cách mạng cho nhân dân. Nhờ có sự lƣu hành sách báo của Đảng và sự vận động
tích cực, khéo léo của cán bộ cách mạng, nhân dân bƣớc đầu đƣợc giác ngộ về quyền lợi
giai cấp, quyền lợi dân tộc, thấy rõ tội ác của kẻ thù, nỗi nhục của ngƣời dân mất nƣớc,
đồng thời cũng hiểu đƣợc đƣờng lối và phƣơng thức đấu tranh cách mạng.
Lúc này, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ngày càng ác liệt.
Trƣớc tình hình đó, Trung ƣơng Đảng Cộng sản Đông Dƣơng đã quyết định
phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, tập hợp lực lƣợng chuẩn
bị khởi nghĩa từng phần, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nƣớc.
Xác định rõ trách nhiệm lớn lao, công tác tuyên truyền, vận động của
huyện Sơn Dƣơng tiếp tục động viên hun đúc ngọn lửa yêu nƣớc của đồng
bào toàn huyện quyết tâm đứng lên đi theo Đảng làm cách mạng, giành lấy
độc lập tự do về mình.
Footer Page 16 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Header Page 17 of 166.
Chƣơng 1
TỔ TUYÊN TRUYỀN VÀ CỔ ĐỘNG HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG
TRONG THỜI KÌ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
Header Page 18 of 166.
đoàn kết, cán bộ Cứu quốc quân đã vận dụng một cách khéo léo mối quan hệ họ
hàng thân tộc, đồng niên, cùng cảnh ngộ để tuyên truyền giác ngộ đồng bào theo
Việt Minh làm cách mạng, đóng vai thầy cúng, cán bộ Cứu quốc quân khéo léo
đƣa nội dung hoạt động của Mặt trận Việt Minh vào các bài cúng.
Khi đã giác ngộ, những quần chúng tốt đƣợc kết nạp vào Việt Minh qua
các buổi lễ uống máu ăn thề theo phong tục địa phƣơng. Nhờ có những hình
thức khéo léo, linh hoạt nhƣ vậy, phong trào cách mạng nhanh chóng phát
triển trong các vùng đồng bào dân tộc.
Những năm 1942 - 1943, đƣờng lối cách mạng của Đảng tiếp tục đƣợc
cán bộ cách mạng tuyên truyền mạnh mẽ vào các vùng trong huyện. Phong trào
Việt Minh phát triển nhanh chóng, các cuộc đấu tranh chống bắt phu, bắt lính,
chống thuế... nổ ra ở nhiều nơi. Các xã: Trúc Khê, Phƣợng Liễn, Lũng Tẩu,
Khuổi Kịch, Ngòi Nho, Khuôn Đào, Ao Búc... đã có Ban Việt Minh [13, tr.9].
Tại các cuộc mít tinh của nhân dân, cán bộ cách mạng đã diễn thuyết
vạch rõ tội ác của giặc và phổ biến điều lệ, chính sách của Mặt trận Việt
Minh. Cán bộ cách mạng cũng sử dụng những hình thức tuyên truyền vận
động phù hợp với tâm lí của đồng bào nhƣ dựa vào quan hệ họ hàng, láng
giềng, tuổi tác, phong tục tập quán...
Tháng 11-1943, cán bộ Việt Minh hoạt động tại vùng xung quanh núi
Hồng đã họp bàn việc mở rộng cơ sở cách mạng. Sau đó, Phân khu Nguyễn
Huệ đƣợc thành lập. Sơn Dƣơng đƣợc chọn là trung tâm chỉ huy của Phân
khu Nguyễn Huệ, nơi đặt đại bản doanh của cơ quan Khu uỷ và nơi đóng
quân của Trung đội Cứu quốc quân III, làm nòng cốt cho công tác vũ trang,
tuyên truyền cách mạng [21, tr.41].
Dƣới sự chỉ đạo trực tiếp của Khu uỷ Nguyễn Huệ, phong trào cách
mạng đã hình thành và phát triển ở khắp các vùng nông thôn trong huyện Sơn
Dƣơng. Phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển thành cao trào, trọng
đƣợc binh lính, chính quyền tay sai địch ở tất cả các xã trong huyện.
Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng
ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12-3-1945),
quyết định phát động cao trào cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân.
1
Đó là: Song Hào, Trần Thế Môn, Lê Hiến Mai, Tạ Xuân Thu, Chu Quý Lƣơng, Trần
Tùng, Nhị Quý, Vũ Phong, Hoàng Bá Sơn, Phạm Ngọc Bổng, Trung Đình và Nguyễn Cao.
Footer Page 19 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Header Page 20 of 166.
Ngày 10-3-1945, tại Sơn Dƣơng, nhận thấy thời cơ khởi nghĩa giành
chính quyền đã chín muồi, Khu uỷ Phân khu Nguyễn Huệ họp dƣới sự chủ trì
của Song Hào1, đã quyết định chọn Thanh La (nay là xã Minh Thanh) làm nơi
khởi nghĩa giành chính quyền đầu tiên trong cả vùng.
Đêm 10-3-1945, ta đã giải phóng hoàn toàn xã Thanh La. Thừa thắng,
quân cách mạng tiến về giải phóng đồn Đăng Châu, huyện lị Sơn Dƣơng và
các xã lân cận. Ngay sau khi Đăng Châu đƣợc giải phóng, Phân khu uỷ
Nguyễn Huệ tổ chức mít tinh tại Đình Thanh La, tuyên bố thành lập châu Tự
Do và Uỷ ban cách mạng lâm thời Châu. Đây là huyện đầu tiên trong cả nƣớc
đã giành đƣợc chính quyền cách mạng về tay nhân dân [59, tr.19].
Sau khi khởi nghĩa Thanh La thắng lợi, đồn Đăng Châu bị tiêu diệt, châu
chế độ thực dân, phong kiến, ƣớc mong tự do độc lập bao đời nay đã trở thành
hiện thực.
Có đƣợc thắng lợi to lớn đó, là do Đảng ta có đƣờng lối cách mạng đúng
đắn, đƣợc các cán bộ Việt Minh tuyên truyền, vận động nhân dân đứng lên
làm cách mạng. Nhân dân trong huyện, sau khi đƣợc tuyên truyền vận động
đã hiểu rõ mục tiêu cao cả của cách mạng, kiên quyết theo Đảng nguyện hi
sinh sức ngƣời, sức của và cả xƣơng máu suốt chặng đƣờng chông gai của
cách mạng.
Thắng lợi này đã tạo ra bƣớc phát triển vƣợt bậc của phong trào cách
mạng trong huyện, là điều kiện quan trọng tiên quyết để Hồ Chí Minh cùng
Trung ƣơng Đảng quyết định về Sơn Dƣơng - Tân Trào hoạt động cách mạng.
Ngày 21-5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) về xã Tân
Trào để lãnh đạo cách mạng Việt Nam [2, tr.45]. Tại đây, Ngƣời chỉ thị thành
lập Khu giải phóng, Tân Trào là trung tâm, trở thành thủ đô của Khu giải
phóng [71, tr.34].
Mƣời chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh đƣợc thực hiện, công tác
tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, tham gia các tổ
chức cách mạng, bình dân học vụ, xây dựng nếp sống mới, đƣợc đặc biệt
quan tâm và tăng cƣờng.
Tháng 8-1945, thời cơ cách mạng trong cả nƣớc đã chín muồi. Tại Sơn
Dƣơng, nhiều hoạt động quan trọng của Trung ƣơng Đảng và Hồ Chí Minh đã
liên tiếp diễn ra, có tính quyết định vận mệnh phong trào cách mạng của cả
nƣớc. Trong hai ngày, từ ngày 14 đến 15-8-1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc
của Đảng họp tại Tân Trào, quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa, Uỷ ban
khởi nghĩa toàn quốc đƣợc thành lập. Ngày 16-8-1945, Quốc dân Đại hội cũng
đƣợc triệu tập tại Tân Trào. Đại hội biểu thị ý chí quyết tâm sắt đá giành độc
Footer Page 21 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 22 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Header Page 23 of 166.
Diệt giặc đói là nhiệm vụ vô cùng cấp bách trƣớc mắt của toàn Đảng bộ
và nhân dân trong huyện. Các tổ chức Cứu quốc của Mặt trận Việt Minh tích
cực tuyên truyền vận động hội viên, đoàn viên phát huy tinh thần tƣơng thân,
tƣơng ái, động viên nhân dân tích cực tăng gia sản xuất với khẩu hiệu “Tấc
đất tấc vàng”, “Không một tấc đất bỏ hoang” để khắc phục nạn đói.
Mặc dù còn khó khăn, túng thiếu, đồng bào các dân tộc trong huyện vẫn
hăng hái tham gia Tuần lễ vàng do Chính phủ phát động để xây dựng nền tài
chính Quốc gia. Nhiều ngƣời không ngần ngại đóng góp cả những đồ vật quý
giá của gia đình ủng hộ cách mạng. Nhân dân trong huyện còn tự nguyện
đóng đảm phụ quốc phòng, xây dựng quỹ độc lập.
Song song với giải quyết khó khăn về kinh tế, tài chính, Mặt trận Việt
Minh cũng là lực lƣợng xung kích trong cuộc vận động nhân dân tham gia
phong trào bình dân học vụ.
Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch "những người biết chữ hãy dạy
cho người chưa biết chữ... những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học
cho biết", cán bộ, đảng viên trong toàn huyện vừa tích cực tham gia học tập
vừa động viên tạo điều kiện cho những ngƣời thân trong gia đình đi học. Các
lớp bình dân học vụ đƣợc mở ở khắp nơi trong huyện, lôi cuốn mọi tầng lớp
nhân dân tham gia. Tại các lớp học, học viên thiếu giấy bút thì dùng than viết
lên tƣờng, dùng que viết lên mặt đất, thậm chí viết lên lá chuối... Tại một số
trƣởng Tổ truyên truyền và cổ động. Đồng thời, Chi bộ phân công hai tổ viên
là Nguyễn Ngọc Huy, phụ trách tuyên truyền cổ động và Ma Xuân Hoè theo
dõi huấn luyện học tập [34].
Sự ra đời của Tổ Tuyên truyền và cổ động - tổ chức tiền thân của Ban
Tuyên giáo Huyện ủy ngày nay - có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó
đánh dấu bƣớc phát triển vƣợt bậc về công tác tƣ tƣởng chính trị của huyện. Từ
đây, huyện Sơn Dƣơng đã có một cơ quan chuyên trách làm công tác tham mƣu
và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực tuyên truyền và huấn học.
Năm 1946, do số lƣợng đảng viên toàn huyện còn ít (mới có 5 đảng
viên) nên công tác tuyên truyền và cổ động còn gặp nhiều khó khăn. Song,
với quan điểm toàn Chi bộ Đảng làm công tác tuyên truyền, vận động, mọi
cán bộ, đảng viên đều phải làm công tác vận động truyên truyền, nên nhìn
1
Ma Văn Chuyền (tức Mỵ), ngƣời dân tộc Tày, sinh năm 1919 tại làng Cầu Toa, xã
Thanh La (nay là xã Minh Thanh). Đồng chí Chuyền là một trong ba đảng viên đầu tiên
của Chi bộ Đảng huyện Sơn Dƣơng.
Footer Page 24 of 166.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
Header Page 25 of 166.
chung, thời kì này cán bộ các cấp từ huyện đến cơ sở trực tiếp tuyên truyền
vận động nhân dân thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, nhất là các chỉ
thị, nghị quyết về công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.