luận văn thạc sĩ hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nƣớc ta hiện nay - Pdf 41

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, kết luận nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Thu Hương


2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu số 2.1: Sự tăng trưởng một số chỉ tiêu của BHTN ở Việt Nam
Biểu số 2.4 : Sự biến động về số lao động được giới thiệu việc làm

DANH MỤC HÌNH VẼ
Mô hình 2: Mô hình tổ chức thực hiện BHTN hiện nay
Mô hình 1: Mô hình BHXH Việt Nam hiện nay

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASXH
BHXH
BHYT
BHTN
BLLĐ

An sinh xã hội

những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Thất nghiệp gia
tăng làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn, các tệ nạn xã hội và tội phạm
gia tăng làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa của gia đình và xã hội.
Thất nghiệp dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về thu nhập kinh tế
quốc dân, sự lãng phí nguồn nhân lực do tỷ lệ thất nghiệp cao đi liền với sự
giảm sút thu nhập do không sản xuất. Đồng thời, thất nghiệp còn làm tăng
chi tiêu của Chính phủ, của doanh nghiệp và xã hội cho các trợ cấp thất
nghiệp và các chi phí có liên quan như chi phí đào tạo, đào tạo lại, bồi
dưỡng, dịch vụ việc làm. Vì vậy, hạn chế thất nghiệp và đảm bảo ổn định
đời sống người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp là mục tiêu
chung của các quốc gia và các tổ chức quốc tế và khu vực. Nước ta, tuy mới
bước vào nền kinh tế thị trường nhưng thất nghiệp đã, đang và sẽ là vấn đề
cấp thiết mà Đảng, Nhà nước và toàn xã hội phải tập trung giải quyết.
Nhận thức được điều này, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường,
ngay từ rất sớm, Đảng ta đã khẳng định "Từng bước hình thành quỹ bảo
trợ thất nghiệp ở thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu
hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên…" (Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm 1996). Tiếp đó, vấn đề thất nghiệp và
bảo trợ thất nghiệp đã được khẳng định lại trong nhiều văn kiện của Đảng


5

và được cụ thể hoá bằng nhiều chính sách đối với vấn đề này. Đặc biệt, Bộ
luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là những văn bản
pháp lý quan trọng của chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ở Việt
Nam.
Ngày 1.1.2009, tại Việt Nam một loại hình bảo hiểm mới đã bắt đầu có
hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp. Đó là
bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN ). Sự ra đời của loại hình bảo hiểm này thực

khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vức năm 1998 thì vấn đề nghiên cứu thất
nghiệp và BHTN mới thực sự được đặt ra. BHTN là một vấn đề mới cho nên
các công trình nghiên cứu chưa nhiều mà chủ yếu là những bài viết khoa
học về thất nghiệp, xây dựng chế độ BHTN, hoặc liên quan đến vấn đề này
dưới góc độ lý luận và kinh nghiệm các nước trên thế giới.
- TS. Nguyễn Huy Ban (2004) và các cộng sự tại Bảo hiểm xã hội Việt
Nam đã thực hiện một chuyên đề khoa học: “Nghiên cứu những nội dung
cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại – vấn đề lựa chọn hình thức trợ
cấp thất nghiệp ở Việt Nam” và "Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam",
của PGS.TS. Nguyễn Văn Định (2008), Trường Đại học Kinh tế quốc
dân,Trong chuyên đề này, một số nội dung của bảo hiểm thất nghiệp đã
bước đầu đề cập, một số quan điểm khi lựa chọn hình thức trợ cấp thất
nghiệp ở nước ta được đưa ra. Song, việc phân biệt giữa bảo hiểm thất
nghiệp và trợ cấp thất nghiệp chưa được nghiên cứu, vấn đề tổ chức bảo
hiểm thất nghiệp ở nước ta chưa được làm rõ.
- TS. Đặng Anh Duệ (2003), tại buổi hội thảo khoa học“ Hoàn thiện
chính sách tài chính đảm bảo an ninh xã hội” do Bộ tài chính tổ chức, đã có
bài báo tham luận: “ Để xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp
ở Việt Nam”. Bài báo này mới chủ yếu tập trung nêu lên sự cần thiết phải
có chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
ở Việt Nam và điều kiện về mặt tài chính để xây dựng và thực hiện chế độ


7

này.
- TS Nguyễn Văn Định (2000) và các cộng sự của bộ môn Kinh tế Bảo
hiểm - Trường đại học Kinh tế Quốc thực hiện một đề tài khoa học cấp bộ,
mã số B2000 - 38 - 62: “ Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong
điều kiện kinh tế thị trường”. Tuy nhiên, do thời gian và kinh phí có hạn và

bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay” do Nhà xuất bản lao động phát hành,
tác giả đã có một bài viết với tiêu đề: “ Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp
và trợ cấp hưu trí”. Nội dung vài viết mới chỉ đề cập đến khái niệm về trợ
cấp thất nghiệp và sự cần thiết phải có trợ cấp thất nghiệp cho người lao
động trong cơ chế thị trường.
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến chính
sách BHTN trên cả nước. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập và
tiếp cận lĩnh vực dưới nhiều góc độ phát triển khác nhau ở tầm vĩ mô, được
xem xét điều kiện thực tế ở các địa phương khác nhau và ở những thời
điểm khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu
nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về việc thực hiện triển
khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam. Các công trình nghiên
cứu, bài viết nhìn chung mới chỉ đề cập tới từng khía cạnh riêng lẻ, bức xúc
trong lĩnh vực việc làm, thất nghiệp và BHTN trong điều kiện nước ta chưa
thực hiện chính sách BHTN.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về chính sách bảo hiểm thất
nghiệp
- Đánh giá thực trạng quy trình bộ máy thực hiện chính sách bảo hiểm
thất nghiệp, thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước
ta.


9

- Làm rõ quan điểm về hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Từ
đó đưa ra một số đề xuất, giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách bảo
hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ :

Đề tài sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, dựa trên các
nguồn tài liệu đã có hoặc tồn tại dưới dạng số liệu thô rồi sau đó tiến hành
xử lý. Các tài liệu chủ yếu được lấy theo nguồn Bộ lao động Thương binh –
Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Cục việc làm, Tổng cục Thống kê…


11

5.3. Phương pháp xử lý dữ liệu
Số liệu trong đề tài chủ yếu được xử lý dưới dạng bảng biểu sau đó
được phận tích đánh giá theo phương pháp tổng hợp, so sánh…
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phân tích số liệu thứ cấp: tiến
hành tổng hợp, thống kê về tình hình tham gia bảo hiểm thất nghiệp của
các công ty, các doanh nghiệp các ngành nghề. Từ đó có những đánh giá về
hiệu quả của quá trình tham gia, thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống hóa, sơ đồ hóa, mô
hình hóa, thống kê, so sánh, phân tích diễn giải để nghiên cứu trình bày các
nội dung cơ bản của luận văn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
Chương 2: Thực trạng chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện
nay.
Chương 3 : Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách
bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay.


12

13

không tìm được việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc
mặc dù trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động.
Người lao động có việc làm là người trong độ tuổi lao động, đang làm
việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn
mức chuẩn quy định cho người lao động có việc làm. Tùy theo tình hình
kinh tế-xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, Nhà nước quy định
mức thời gian làm việc chuẩn để được coi là có việc làm.
Người lao động thiếu việc làm có thời gian làm việc dưới mức quy
định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm. Mức thời
gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do Nhà nước
quy định cụ thể cho từng thời kỳ. Hiện tượng thất nghiệp tạm thời thường
xảy ra đối với lao động làm việc trong các ngànhnông nghiệp, ngư nghiệp.
Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng
lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được
việc làm ở mức tiền lương tối thiểu.
Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi đến 60 đối với nam, đến
55 tuổi đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì
những lý do khác nhau không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc
làm.
Theo định nghĩa này, ở Việt Nam người được coi là thất nghiệp bao
gồm :
-

Người lao động đang làm việc vị mất việc làm vì các lý do sau: Doanh
nghiệp phá sản; Doanh nghiệp sắp xếp lại sản xuất hoặc áp dụng công nghệ
mới; Doanh nghiệp giải thể theo quy định của pháp luật; Người lao động bị
chấm dứt hợp đông lao động trước thời hạn, bị sa thải, hợp động lao động
hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng.


Những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang
đi học hoặc đang thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, làm nội trợ hoặc
không có nhu cầu về việc làm.
Như vậy, không phải tất cả những người không có việc làm đều là
người thất nghiệp. Chỉ những người không có việc làm, trong độ tuổi lao
động, có nhu cầu tìm việc làm mới được coi là người thất nghiệp. Người
thất nghiệp được quy định trong Bộ Luật lao động của Việt Nam bao gồm
cả những người lao động đã từng đi làm và cả những người chưa từng đi
làm, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện không có việc làm.
1.1.1.2. Ảnh hưởng của thất nghiệp đến người lao động
Thất nghiệp không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân người lao
động và gia đình họ mà còn tác động mạnh mẽ tới tất cả các vấn đề kinh tế,
chính trị, xã hội của mỗi quốc gia.

-

Đối với bản thân người lao động và gia đình : Thất nghiệp làm giảm
hoặc cắt đứt nguồn thu nhập của người lao động, đồng thời cắt đứt
phương tiện sinh sống của họ và gia đình họ. Do đó, đời sống bản thân
người lao động vả gia đình họ sẽ khó khăn, nghèo túng họ không có khả
năng thanh toán cho các chi phí thường ngày như: tiền nhà, tiền điện, tiền


15

nước. Do thất nghiệp mà có khi bỗng chốc có người trở thành vô gia cư (bị
đuổi ra khỏi nhà đang thuê). Ngoài những ảnh hưởng về kinh tế thất
nghiệp còn gây ra những tổn hại về mặt tinh thần của người lao động như
đời sống, sức khỏe họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, để chăm

cho kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hơn và có khả năng phục
hồi chậm.
-

Đối với chính trị, xã hội : khi bị thất nghiệp, người lao động luôn ở
trong tình trạng hoang mang, lo lắng, căng thẳng và thất vọng. Đặc biệt
nếu người lao động là trụ cột, nuôi sống cả gia đình thì áp lực tâm lý càng
đè nặng lên người lao động. Từng cá nhân là tế bào của gia đình, mỗi gia
đình là tế bào của xã hội, như vậy thất nghiệp tác động đến cá nhân người
lao động có nghĩa là đã tác động đến toàn xã hội. Bởi vì, thất nghiệp sẽ dẫn
đến nhiều hiện tượng tiêu cực của xã hội, đẩy người thất nghiệp đến chỗ
bất chấp kỷ cương, vi phạm pháp luật, hủy hoại đạo đức để kiếm kế sinh
nhai, kiếm tiền trang trải cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như trộm cắp,
cờ bạc, mại dâm, ma túy.
Thất nghiệp là sự phí phạm nguồn nhân lực, không thúc đẩy kinh tế
phát triển, đồng thời dễ dẫn đến những xáo trộn về xã hội, tình hình chính
trị trở nên bất ổn, rối loạn nếu không được can thiệp kịp thời. Thất nghiệp
gây ra các cuộc biểu tình, đình công, là cơ hội cho các thế lực thù địch tiến
hành các hoạt động chống phá nhà nước, chống phá Đảng cầm quyền. Hiện
tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc,
nghiện hút...
Thất nghiệp còn làm cho người lao động giảm lòng tin vào chế độ,
giảm lòng tin vào khả năng lãnh đạo của chính phủ cầm quyền... Từ đó, có
thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.


17

1.1.2. Bảo hiểm thất nghiệp và vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
trong nền kinh tế.

1.1.2.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
Một trong các giải pháp để bảo vệ người lao động tránh được những
hụt hẫng khi bị mất việc làm là xã hội cần tạo cho họ một khoản thu nhập
bù đắp khoản thu nhập bị mất đó là BHTN. Đây là một trong những biện
pháp được nhiều nước quan tâm, vì nó không chỉ đảm bảo cuộc sống cho cá
nhân người bị thất nghiệp mà còn góp phần ổn định xã hội.
BHTN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính thông qua việc
đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà
nước, nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho người lao động trong thời kỳ họ bị
mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường
lao động. Như vậy, có thể thấy BHTN vừa là công cụ góp phần giải quyết thất
nghiệp vừa là một chính sách xã hội rất quan trọng. Với cách tiếp cận này,
BHTN có hai chức năng chủ yếu: Chức năng bảo vệ và chức năng khuyến khích.
- Với chức năng bảo vệ: BHTN tổ chức bù đắp thu nhập cho người thất
nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho họ có cơ hội quay trở lại thị trường lao
động.
- Với chức năng khuyến khích: BHTN hạn chế sự ỷ lại của người lao động,
kích thích người thất nghiệp tích cực tìm việc làm và sẵn sàng đi làm việc. Qua
hai chức năng này có thể thấy BHTN không chỉ có ý nghĩa đối với người lao
động mà còn có ý nghĩa đối với cả người sử dụng lao động và nhà nước.
Đối với người sử dụng lao động, do có BHTN nên khi thất nghiệp xảy
ra đối với người lao động, người sử dụng lao động không phải tăng thêm
chi phí để trả trợ cấp mất việc làm cho họ. Điều này sẽ khuyến khích doanh
nghiệp sử dụng lao động có hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
phát triển sản xuất.
Đối với nhà nước, nhờ có BHTN nên gánh nặng ngân sách sẽ giảm hơn


19



những quy định của Nhà nước về nghĩa vụ đóng góp tài chính hỗ trợ cho
người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp.
- Đối tượng hưởng BHTN là những người lao động tham gia đóng
BHTN khi bị thất nghiệp có đủ điều kiện hưởng BHTN theo quy định của
pháp luật. Ngoài ra, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có nhu cầu
học nghề được hỗ trợ kinh phí để học một nghề và học một lần. Bên cạnh
đó, họ còn được hỗ trợ, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí thông qua
Trung tâm Giới thiệu việc làm. Được hưởng đầy đủ chế độ BHYT theo quy
định của pháp luật trong thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
1.2. Những vấn đề cơ bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
1.2.1. Tính tất yếu khách quan của chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường, thu nhập chủ yếu của người lao
động thường gắn với việc làm; khi không còn việc làm, thu nhập đương
nhiên cũng không còn. Khi đó người lao động và gia đình họ có nguy cơ rơi
vào cảnh túng quẫn, bị bần cùng hoá. Để khắc phục tình cảnh này, bản thân
người lao động phải tích cực tìm chỗ làm việc mới. Đây là biện pháp khá
năng động, có tính cá nhân. Tuy nhiên, không phải ai và lúc nào cũng có thể
tìm được việc làm ngay, vì thất nghiệp thường song hành với thời kỳ nền
kinh tế bị suy thoái, doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất
kinh doanh, nên khó tạo ra chỗ làm việc mới cho người lao động. Một biện
pháp khác có tính xã hội cao, là nhà nước tổ chức bảo hiểm thất nghiệp
(BHTN) cho người lao động. BHTN xét về mặt xã hội là biện pháp có tính
thụ động, nhưng lại có ý nghĩa tích cực đối với từng cá nhân người lao
động khi bị thất nghiệp, giúp được họ có một khoản thu nhập bù đắp lại
mức thu nhập đã bị mất do bị mất việc làm; tạo điều kiện cho họ sớm quay
trở lại thị trường lao động, tránh không bị rơi vào tình cảnh túng quẫn.




22

của nền kinh tế nói chung. Vì thế, việc tổ chức thực hiện BHTN rất khác so
với các cấu trúc khác trong BHXH (thuần túy chỉ là chi trả các trợ cấp bảo
hiểm). Như nêu trên, trong kết cấu chi của BHTN, ngoài trợ cấp thất nghiệp
còn có trợ cấp học nghề và các hỗ trợ để tìm kiếm việc làm mới…
Ở một số quốc gia khác, trong đó có Việt nam, dù không tách riêng,
nhưng quỹ BHTN là một quỹ thành phần thuộc quỹ BHXH. Trong quá trình
thực hiện có sự gắn kết giữa các cơ quan BHXH và cơ quan lao động. Các
cơ quan lao động tổ chức đăng ký, theo dõi thất nghiệp và tổ chức dạy
nghề, chuyển nghề cho người lao động; các cơ quan BHXH tổ chức chi trả
trợ cấp BHXH. Điều này càng cho thấy tính phong phú, tính đa dạng và tính
phức tạp của hệ thống BHXH trong nền kinh tế thị trường.
1.2.2. Vai trò, nguyên tắc của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
1.2.2.1. Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
- Chính sách BHTN có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người lao
động khi họ bị mất việc làm
Chính sách BHTN đã góp phần tích cực giải quyết an sinh xã hội cho
NLĐ. Khi tham gia BHTN lao động mất việc không chỉ được hỗ trợ một
phần kinh phí để trang trải cuộc sống mà còn giúp đỡ họ và gia đình họ về
mặt tinh thần có thể tránh rơi vào tình trạng cùng cực, nghèo khổ, giúp
người lao động có cuộc sống ổn định trong thời gian bị thất nghiệp và để
tìm việc làm mới.
Chính sách BHTN hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm và cơ hội có
việc làm thông qua việc tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để giúp họ
có điều kiện sớm quay trở lại thị trường lao động. Ngoài ra, người lao động
bị thất nghiệp còn được hưởng nhiều quyền lợi khác từ chính sách BHTN
như được đóng bảo hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp.
Bên cạnh chính sách hỗ trợ cho người lao động thất nghiệp, chính

tạo nghề, làm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp. Thất nghiệp giảm, có


24

nghĩa là nhiều người lao động tìm được việc làm. Nguồn nhân lực không bị
lãng phí và được sử dụng vào các hoạt động tạo ra của cải cho xã hội, thúc
đẩy kinh tế phát triển.
1.2.2.2. Một số nguyên tắc cơ bản của chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
Chính sách BHTN được xây dựng và thực thi dựa trên những
nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chính sách BHTN dựa trên nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro.
BHTN là "hạt nhân" của chính sách thị trường lao động, nằm trong hệ
thống chính sách kinh tế-xã hội, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên
trong quan hệ lao động. Do vậy, BHTN dựa trên sự tương trợ giữa các cá
nhân trong xã hội, theo đó số đông bù số ít. Nếu nguyên tắc này không được
đảm bảo thì các khoản trợ cấp thất nghiệp sẽ chỉ đơn thuần là một khoản
"tiền tiết kiệm trả muộn" và ý nghĩa xã hội của BHTN sẽ mất đi.
Chính vì vậy, việc tham gia vào BHTN phải là bắt buộc đối với người
lao động và người sử dụng lao động. Những chủ thể này đều có trách
nhiệm tham gia BHTN và đây được coi là một nội dung trong hợp đồng lao
động. Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý và hỗ trợ khi cần thiết.
Thứ hai, mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương của người
lao động
Người lao động thuộc đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do
Nhà nước quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN là tiền
lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên
nghề ( nếu có ). Tiền lương này tính trên cơ sở mức tiền lương tối thiểu
chung do Nhà nước quy định tại thời điểm đóng.

phải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán
độc lập. Quỹ BHTN do một cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đến địa
phương theo chế độ tài chính của Nhà nước. Quỹ được sử dụng vào các mục



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status