1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả, số liệu
trong luận văn là chân thực và chưa từng có ai công bố trong bất kỳ công trình khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về thông tin nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Cẩm Chi
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Quý Thầy Cô đã giúp tôi trang
bị tri thức, tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập
và thực hiện luận văn này.
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới Tiến sĩ
Phan Hữu Nghị đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian
thực hiện nghiên cứu này.
Xin chân thành cảm ơn Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Yên Bái đã hợp tác chia sẻ thông tin, cung
cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo
sau đại học, Đại học Thương mại đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học
tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã
luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
:
:
:
Tổ chức tín dụng
Tổ chức kinh tế
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa,
vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Nó đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của kinh
tế của đất nước. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế của đất nước
ta cần phải có những biện pháp, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn vốn
nhàn rỗi trong nền kinh tế. Trong điều kiện thị trường chứng khoán chưa phát
triển nên số lượng vốn huy động được bằng con đường tài chính trực tiếp
thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác còn rất
nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Do đó, quá trình trung chuyển vốn
trên thị trường chủ yếu được thực hiện qua các ngân hàng thương mại và thị
trường tín dụng. Chính vì vậy, vai trò của ngân hàng thương mại trong hoạt
động huy động vốn cho nền kinh tế cực kỳ quan trọng.
Thực hiện đường lối đổi mới và phát triển của Đảng và Nhà nước, trong
những năm gần đây, hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống ngân hàng
pháp nâng cao chất lượng huy động vốn tại ngân hàng Công thương Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Thu Hằng (2010).
- Luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế - tài chính ngân hàng: “Tăng
cường huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”của tác
giả Phan Thị Mai Phương (2011).
- Luận văn tiến sĩ kinh tế: Hoàn thiện các công cụ tài chính để huy động
vốn cho chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam đến năm 2020 của tác
giả Sử Đình Thành (2010).
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam của tác giả Nguyễn
Thị Lan Phương (2010).
7
- Đề tài: “ Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Quỹ tín dụng Nhân
dân Trung ương, chi nhánh Phú Thọ ” của Phạm Thị Khánh Tâm (2012).
- Đề tài: “ Một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chi nhánh tỉnh Phú Thọ ” của Lưu
Thị Thuỳ Linh (2012).
- Đề tài: “ Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt Nam, chi nhánh Đền Hùng ” của Tạ Minh Chuân (2012).
Ngoài ra còn một số đề tài nghiên cứu khoa học và bài báo trên các tạp
chí viết về vấn đề này. Các công trình này nhìn chung đã tiếp cận vấn đề huy
động vốn ở nhiều góc độ khác nhau, tập trung vào phân tích, đánh giá việc
thực hiện huy động vốn. Các luận văn này đã làm sáng tỏ những cơ sở hệ
thống lý luận về các công cụ tài chính có các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
huy động vốn và đánh giá thực tiễn sử dụng các nhân tố đó để từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng huy động vốn.
Từ kết quả nghiên cứu, khảo sát nói trên, em thấy rằng mặc dù một số
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam – Chi nhánh TP Yên Bái (NHNo&PTNT VN–Chi nhánh TP Yên Bái).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Hoạt động huy động vốn.
- Phạm vi không gian: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam – Chi nhánh TP Yên Bái.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thu thập trong 3 năm từ năm 2012 - 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện
luận văn là phương pháp phỏng vấn, điều tra nghiên cứu, thống kê, phân
9
tích, tổng hợp, so sánh và các phương pháp khác để giải quyết những vấn
đề đặt ra trong luận văn.
5.1 Phương pháp luận
Sử dụng phương pháp biện chứng duy vật và phương pháp duy vật lịch
sử nhằm tìm ra mối liên hệ kinh tế của các hoạt động huy động vốn với ngân
hàng. Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn vận động và liên quan đến nhau, tuân
theo những quy luật nhất định, chúng có quan hệ biện chứng với nhau. Sử
dụng phương pháp này để phân tích nghiên cứu mối quan hệ của việc sử dụng
các hình thức huy động vốn tại ngân hàng.
5.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Việc thu thập tài liệu thông tin bao gồm việc sưu tầm và thu thập những
tài liệu, số liệu liên quan đã được công bố và những tài liệu số liệu mới tại cơ
sở nghiên cứu. Việc thu thập số liệu bao gồm:
+ Thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng bảng hỏi và phiếu điều tra
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐNCỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm, vai trò của huy động vốn
1.1.1.1. Khái niệm
Nguồn vốn của NHTM là các giá trị tiền tệ của chính NHTM, do NHTM
huy động hay đi vay, được dùng để tổ chức các hoạt động kinh doanh của ngân
hàng như cho vay, đầu tư tài chính, bảo lãnh và các dịch vụ ngân hàng khác.
Như vậy, trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, ngoài nguồn vốn thuộc
chủ sở hữu thì phần còn lại được coi là nguồn vốn từ huy động (chiếm 90%
tổng nguồn vốn), nguồn từ những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, họ chuyển
tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau, lấy lãi hoặc nhờ thu, nhờ chi
hoặc sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng. Ngân hàng thực hiện huy động
vốn để đầu tư, cho vay và cung cấp các dịch vụ khác. Vậy nên có thể nói, huy
động vốn là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng hàng đầu và quyết định đến chất
lượng hoạt động ngân hàng.
Bản thân thuật ngữ “Huy động vốn” đã nêu lên tương đối công việc của
công tác này. Trong nền kinh tế luôn luôn tồn tại những người thừa vốn và những
người thiếu vốn, có thể nói NHTM đóng vai trò điều hoà mâu thuẫn này bằng việc
sử dụng các công cụ, các nghiệp vụ của mình để huy động các nguồn vốn trong xã
hội. Huy động vốn là nghiệp vụ thu hút nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ
chức, cá nhân dưới các hình thức tiền gửi, phát hành GTCG, vay TCTD khác, vay
NHNN và từ các nguồn khác để tạo nguồn vốn cho vay của NHTM.
Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng thì uy tín
của ngân hàng càng cao, ngân hàng càng chủ động trong hoạt động kinh
12
1.1.2. Cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại
NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung gian tài
chính lại được phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung là vai
trò chủ đạo của các NHTM đóng góp khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với
nền kinh tế. Để có được vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và
công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trước tiên là vốn.
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động
được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Vốn của các NHTM phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong
sản xuất kinh doanh được gửi vào NH với những mục đích khác nhau. NH
đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến
các nhà đầu tư có nhu cầu về vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vốn và các
hoạt động về huy động vốn quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển
hoạt động kinh doanh của các NHTM. Vốn đóng vai trò chi phối và quyết
định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM.
Kết cấu nguồn vốn NHTM bao gồm : Vốn tự có, vốn huy động và vốn khác.
* Vốn tự có là nguồn lực tự có mà chủ NH sở hữu và sử dụng vào mục
đích kinh doanh theo luật định. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng,
tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ NH, yêu cầu và sự phát
triển của thị trường. Vốn tự có tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của NHTM song nó lại là yếu tố cơ bản đầu tiên quyết định sự tồn tại và phát
triển của một NH. Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài
sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng, góp phần duy trì khả năng
thanh toán trong trường hợp NH gặp thua lỗ. Vốn tự có cũng là căn cứ để tính
toán các hệ số đảm bảo an toàn và các chỉ tiêu tài chính trong hoạt động kinh
doanh NH.
14
Những NH có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Khả
năng vay mượn này còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài
chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của NH.
- Vốn đi vay từ các NH khác: Đối với nghiệp vụ này các NHTM tiến
hành tạo vốn cho mình bằng cách vay của các TCTD trên thị trường tiền tệ và
NHNN dưới hình thức tái chiết khấu hay vay có bảo đảm, nhằm tạo sự cân
đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà họ không tự cân đối
được trên cơ sở khai thác tại chỗ. Thực tế cho thấy, chi phí của vốn đi vay
thường cao hơn chi phí của vốn huy động tại chỗ cho nên nó chiếm tỷ trọng
nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH. Tuy nhiên, tính chủ động của vốn đi vay
lại cao hơn vốn huy động tại chỗ.
* Vốn khác: Ngoài các nguồn vốn chủ yếu trên NHTM còn có các
nguồn vốn khác cũng không kém phần quan trọng như: vốn trong thanh toán,
nguồn vốn uỷ thác đầu tư...NHTM có thể sử dụng các nguồn vốn này để kinh
doanh trong khoảng thời gian và điều kiện nhất định.
Tóm lại, NHTM có rất nhiều biện pháp nhằm thu hút tối đa các
nguồn vốn trong nền kinh tế, đó là: huy động các khoản tiền gửi; huy động
thông qua phát hành các giấy tờ có giá; huy động từ việc đi vay các NH khác.
Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh
của NHTM. Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM
sử dụng tốt nguồn vốn này thì không những nguồn lợi của NH được tăng lên
mà còn tạo cho NH uy tín ngày càng cao. Qua đó NH có thể mở rộng được
vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của NH.
1.1.3. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Huy động được càng nhiều vốn thì ngân hàng càng có khả năng mở rộng
được hoạt động cũng như quy mô tài sản nên hoạt động huy động vốn luôn
được quan tâm hàng đầu. Đặc biệt là trước sức ép của cuộc cạnh tranh trong
17
trả cho các hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình
kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận tiện.
Đặc điểm của loại tiền này là mức biến động cao và ngân hàng thường
khó có thể dự báo về quy mô tiền gửỉ giao dịch có thể huy động. Đồng thời,
kỳ hạn tiềm năng của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất do khách hàng có thể rút
bất cứ khi nào mà không cần báo trước, mặt khác mức độ giao dịch trên tài
khoản này là rất lớn. Chính vì sự không ổn định của mình, nên loại tài khoản này
thường được trả lãi rất thấp hoặc không được trả lãi và cũng chính vì sự không
ổn định này mà ngân hàng thường phải có một tỷ lệ dự trữ khá cao đảm bảo khả
năng thanh toán. Đối với tài khoản này, khách hàng được sử dụng các công cụ
thanh toán để chi trả cho uỷ nhiệm chi, séc, và các lệnh khác.
Thứ hai, tiền gửi không kỳ hạn phi giao dịch, đó là khoản tiền gửi được
ký gửi với mục đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh
toán. Khi cần, khách hàng có thể đến ngân hàng rút để chi tiêu.
Đối với cá nhân thì TG KKH là nguồn không ổn định nhưng ngân hàng
vẫn rất cần nguồn này, trước hết vì chi phí rẻ, thứ hai là xét trên tổng thể thì
luôn có một giới hạn tổng thể trong đó. Ngân hàng có thể huy động số dư đó
làm nguồn vốn tín dụng để cho vay. Đây là nguồn vốn có chi phí khá thấp nên
nếu các ngân hàng có một kế hoạch tài chính tốt với những hạch toán hợp lý
thì đây cũng là một trong những nguồn vốn khá lớn đem lại lợi ích kinh tế cao
cho NHTM
Tiền gửi không kỳ hạn được huy động chủ yếu từ dân cư và các TCKT,
bên cạnh đó các ngân hàng có thể huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi
thanh toán của các ngân hàng khác nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một
số mục đích khác.
b. Tiền gửi có kì hạn
19
gần đây rất thịnh thành, đó là cạnh tranh về lãi suất huy động vốn. Đây là
phương thức dễ thu hút sự quan tâm của khách hàng nhất nhưng cũng khá
nguy hiểm và gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc
biệt trong thời kỳ vốn khan hiếm.
c. Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản
TGTK, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ
chức nhận TGTK và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi.
Đặc trưng của nguồn vốn này là tính ổn định cao, tuy nhiên chi phí huy
động cao. Đây là nguồn thu nhập của cá nhân chưa sử dụng cho tiêu dùng, họ
gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng
lãi từ số tiền đó. TGTK được phát triển dưới hai loại là TGTK không kỳ hạn
và TGTK có kỳ hạn.
TGTK không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song
không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác. Sản phẩm
này thích hợp với khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi, muốn gửi ngân hàng với
mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền
trong tương lai, do đó ngân hàng thường trả lãi thấp cho loại tiền gửi này.
TGTK có kỳ hạn là tiền mà người gửi tiết kiệm chỉ có thể rút tiền sau một
kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thoả thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
Khách hàng được hưởng mức lãi suất cao hơn so với tiết kiệm không kỳ hạn.
Trên thực tế,các sản phẩm TGTK rất phong phú đáp ứng nhu cầu đa
dạng và biến động thường xuyên của nhóm khách hàng này. Các ngân hàng
thường thu hút người gửi tiền bằng các hình thức huy động đa dạng, lãi suất
cạnh tranh, hấp dẫn, khác nhau giữa các khoản tiền gửi kỳ hạn khác nhau,
huy động có thời hạn linh hoạt, người mua là chủ nợ thường được ưu tiên
thanh toán trước. Trái phiếu thuộc vốn tự có có thời hạn từ 10 năm trở lên,
21
người mua là chủ nợ thứ cấp. Nhìn chung, đối với ngân hàng, đây là nguồn
vốn ổn định nhất, ngân hàng chủ động được thời gian, quy mô vốn,… Tuy
nhiên, chi phí huy động cao so với các loại hình khác. Vì thế, trái phiếu thu
hút được sự đầu tư của nhiều người bởi tính an toàn và lợi nhuận đáng kể.
Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có
và vốn huy động không đủ. Như vậy, khi thực hiện huy động theo hình thức
này, các ngân hàng phải cân nhắc đầu ra để quyết định khối lượng huy động.
Vốn này chỉ được huy động trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ
thì ngừng không phát hành nữa.
b. Vay các TCTD khác
Ngân hàng thương mại được vay vốn của TCTD, tổ chức tài chính trong
và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Thông thường, các ngân hàng có
thể vay nhau qua hợp đồng vay vốn hoặc thoả thuận trước với nhau về hạn
mức tín dụng. Ngoài ra, trong trường hợp thiếu hụt dự trữ tại NHNN thì ngân
hàng dự trữ dư thừa ngày hôm đó sẽ viết séc hoặc gửi điện tín đến chi nhánh
NHNN tại địa phương, yêu cầu chuyển một phần tiền dự trữ của ngân hàng
mình sang ngân hàng xin vay, thời gian vay rất ngắn, thường chỉ vài ngày.
Ngoài ra, NHTM thiếu vốn có thể đem GTCG đi chiết khấu, vay cầm cố tại
ngân hàng khác.
c. Vay Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng thương mại được vay vốn của NHNN dưới hình thức tái cấp
vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. NHNN là nơi
phát hành tiền, thực thi và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, là ngân hàng
của các ngân hàng. Vì vậy, khi ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn thì
Hiệu quả của việc tăng cường huy động vốn là yếu tố quyết định tới qui mô
đầu tư, cho vay của NHTM. Việc tăng cường trong công tác HĐV là nhiệm vụ
hàng đầu mà các ngân hàng đặt ra.
23
Lượng vốn huy động hàng năm phải lớn, chi phí bỏ ra ít nhưng vẫn thu hút
được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các TCTD hay các TCKT. Nguồn vốn
huy động phải đáp ứng nhu cầu đầu tư, cho vay của ngân hàng. Lợi nhuận mang
lại từ nguồn vốn huy động phải đạt được so với các chỉ tiêu mà ngân hàng đặt ra.
Tránh tình trạng huy động vốn một cách ồ ạt nhưng lại không mang ra sử dụng ,
điều đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh. Nguồn vốn huy động phải
phù hợp với công tác sử dụng vốn thì hoạt động kinh doanh mới có hiệu quả.
1.2.2. Sự cần thiết phải tăng cường huy động vốn
a. Đối với nền kinh tế
Như đã đề cập ở phần trên, sẽ là không tưởng khi nói tới sự phát triển
kinh tế lại không có vốn hay thiếu vốn. Vốn thực sự có vai trò quan trọng đối
với nền kinh tế. Vốn có thể huy động qua nhiều kênh khác nhau, tuy nhiên có
3 kênh chủ yếu là: qua kênh ngân sách Nhà nước, qua thị trường chứng
khoán, qua các tổ chức tài chính trung gian.
Đối với các nước có thị trường vốn và thị trường tài chính, tiền tệ phát
triển thì huy động vốn qua các kênh này không mấy khó khăn ngược lại đối
với các nước đang phát triển như Việt Nam thì nguồn vốn của các trung gian
tài chính - NHTM chính là kênh huy động vốn có hiệu quả phục vụ cho nhu
cầu phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể:
Kênh ngân sách nhà nước không có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu
của thực tế đặt ra do mức động viên tài chính vào ngân sách nhà nước chỉ ở
phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân
hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị
trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn).
Quá trình kinh doanh tiền tệ của ngân hàng được mã hoá bằng công thức TT’, trong đó T là nguồn vốn bỏ ra ban đầu, T’ là nguồn vốn thu về sau một
quá trình đầu tư, tiến hành hoạt động kinh doanh: T’>T. Từ công thức này, có
thể khẳng định ngân hàng nào trường vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh
trong cạnh tranh. Vì vậy, ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn điều lệ) theo
quy định thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn
trong suốt quá trình hoạt động của mình.
25
• Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng.
Trong điều kiện bình thường, đầu vào luôn ảnh hưởng trực tiếp tới
đầu ra. Đối với ngân hàng, vốn chính là yếu tố đầu vào; tín dụng, đầu
tư... là yếu tố đầu ra. Vì vậy, so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ
có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi khối lượng cho
vay của các ngân hàng này cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho
vay được tại các thị trường trong vùng thậm chí trong nước và cả quốc tế, thì
các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi nhỏ, hẹp chủ yếu trong cộng
đồng. Hơn nữa, vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ thường không phản ứng
nhanh nhạy được trước những đợt biến động về lãi suất, ảnh hưởng trực tiếp
đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế.
Chúng ta có thể lấy một ví dụ trên địa bàn một ngân hàng nào đó nhu cầu
vốn rất lớn, nếu ngân hàng không huy động vốn được thì không thể tiến hành
cho vay, đến đây xảy ra 2 trường hợp: nếu khả năng vốn của ngân hàng dồi
dào, thì chắc chắn ngân hàng sẽ đáp ứng được nhu cầu cho vay, có đủ điều
kiện mở rộng thị trường tín dụng và các dịch vụ ngân hàng; ngược lại ngân