luận văn thạc sĩ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm than tại công ty cổ phần than đèo nai vinacomin - Pdf 41

1

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu của tôi là công trình nghiên cứu độc lập và
do sự nỗ lực cố gắng của bản thân, dựa trên những kiến thức đã được đào tạo trong
nhà trường và những nghiên cứu thực tế tại tại Công ty Cổ phần than Đèo NaiVinacomin. Số liệu của luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG


2

2

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học cũng như
các thầy cô giáo trong trường Đại học Thương Mại đã giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập tại trường, để tôi có được nền tảng kiến thức phục vụ quá trình nghiên
cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của cô giáo –
PGS.TS Ngô Thị Thu Hồng– người hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu
tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ
phần than Đèo Nai – Vinacomin cùng các cô chú và anh chị tại phòng kế toán của
Công ty đã tận tình chỉ bảo và cung cấp đầy đủ thông tin, số liệu phục vụ cho việc
thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày … tháng … năm

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


7

7

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế thị trường với tiến trình hội nhập mở cửa nền kinh tế đã đang và sẽ
thường xuyên đặt ra những thách thức cùng các cơ hội phát triển cho tất cả các
doanh nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế thị trường với tính năng của nó đòi hỏi các chủ thể
của nền kinh tế khi tham gia vào đó phải có sự nhạy bén trong các vấn đề về tổ
chức, quản lý. Để có thể thích ứng và tồn tại trong cơ chế mới này các doanh nghiệp
phải biết nắm bắt các cơ hội cần phải vươn lên từ chính nội lực của bản thân sử dụng
hợp lý các nguồn chi phí tiến tới hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản
phẩm đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Đây là một vấn đề lớn, một bài toán khó đòi hỏi
sự nhạy bén trong quản lí sản xuất kinh doanh mà kế toán đóng vai trò quan trọng.
Công ty Cổ phần than Đèo Nai- Vinacomin là doanh nghiệp khai thác than lộ
thiên đã xác định đúng đắn vai trò và trách nhiệm của mình đối với công nhân viên,
ngành than và xã hội. Là một doanh nghiệp có quy mô lớn, số lượng nhân công
nhiều, chi phí sản xuất phức tạp, Công ty luôn quan tâm đến vấn đề sử dụng hợp lý
chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Trong quá trình hoạt động Công ty đã
không ngừng áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật để cải tiến công nghệ khai thác
để nâng cao sản lượng khai thác hàng năm, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm
than, đáp ứng nhu cầu thị trường, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, ổn định và
dần cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ,
cũng như hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước. Khi chúng ta bước vào nền kinh tế
thị trường thì cũng là lúc chúng ta phải chịu chi phối bởi các tác động của yếu tố

chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhưng trong phần giải pháp hoàn thiện
phương pháp tính giá thành còn chung chung chưa cụ thể.
Luận văn thạc sĩ năm 2013 của tác giả Triệu Thị Thu Phương: “Kế toán chi
phí và giá thành sản xuất bê tông tươi tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại
Dầu khí Sông Đà”. Về mặt lý luận tác giả đã khái quát được những vấn đề chung về
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Về
mặt thực tiễn luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Dầu khí Sông Đà”,
những tồn đọng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm tại Công ty. Tuy nhiên phần giải pháp hoàn thiện phương pháp
tính giá thành, đánh giá sản phẩm dở dang còn chưa rõ ràng.
Luận văn thạc sỹ năm 2014 của tác giả Đỗ Ánh Hồng: “Hoàn thiện kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần chế tạo máy than
Việt Nam - TKV” . Nghiên cứu đề tài về lý luận tác giả đã đề cập đến những vấn đề


9

9

cơ bản về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm như khái
niệm, bản chất, phân loại, mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm. Về thực tiễn đề tài thực hiện phân tích, đánh giá thực trạng nêu được những
ưu điểm và hạn chế từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty. Tuy nhiên phần giải pháp hoàn thiện phương
pháp kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ; hoàn thiện phương pháp tính giá
thành sản phẩm còn đưa giải pháp chung chung chưa cụ thể.
Ngoài ra số lượng các đề tài nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm còn rất nhiều, tuy nhiên mỗi tác giả lại có một phương pháp tiếp cận,
nghiên cứu và đánh giá vấn đề khác nhau. Như Luận văn thạc sỹ năm 2006 của tác giả

của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm than tại Công ty Cổ phần Than
Đèo Nai- Vinacomin
* Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian nghiên cứu: Công ty Cổ phần than Đèo Nai- Vinacomin
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2016 đến tháng 10/2016
- Phạm vi số liệu: 2016
- Luận văn nghiên cứu trên góc độ kế toán tài chính.
5. Phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận:
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và những nguyên lý
cơ bản cúa chủ nghĩa Mac – Lênin, sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
* Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
+ Các chuẩn mực kế toán, các thông tư hướng dẫn, các giáo trình kế toán tài
chính, các công trình nghiên cứu khoa học cùng chủ đề, các luận văn cùng đề tài của
các khóa trước, các tạp chí kế toán, tạp chí tài chính, thời báo kinh tế...
+ Các sổ sách kế toán của Công ty Cổ phần than Đèo Nai- Vinacomin
- Phương pháp so sánh: Thông qua quá trình nghiên cứu thông tin, đối chiếu
so sánh các số liệu liên quan để đánh giá thực trạng tìm ra nguyên nhân và đưa ra
giải pháp.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp toán học.


11

11

- Phương pháp phân tích kỹ thuật,...

tương ứng, đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động và
chi phí về lao động sống. Trên phương diện này, chi phí được xác định là tổng giá
trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản
tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm
giảm nguồn vốn chủ sở hữu.
Các loại chi phí này phát sinh thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh
doanh, nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất, tính đa dạng của chi
phí luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của các loại hình
sản xuất kinh doanh khác nhau, của các giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau,
của sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nguyên tắc đầu tiên của các
doanh nghiệp là phải đảm bảo trang trải được các phí tổn đã đầu tư để sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác để tiến hành hoạt động sản xuất một loại sản phẩm nào
đó doanh nghiệp phải biết được chi phí để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là bao
nhiêu và nó phải nằm trong giới hạn chi phí của doanh nghiệp.
Chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt
động của doanh nghiệp để đạt được một số sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi
phí được xác định bằng tiền của những hao phí về lao động sống, lao động vật
hóa… trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn.


13

13

Xét về thực chất chi phí sản xuất kinh doanh là sự dịch chuyển vốn của doanh
nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá
trình sản xuất kinh doanh.
Theo Đặng Thị Hòa (Giáo trình Kế toán sản xuất – Đại học Thương mại trang
52) “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống lao

- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến phục vụ
và quản lý sản xuất trong phạm vi phân xưởng, đội sản xuất. Bao gồm các yếu tố
chi phí như: lương nhân viên phân xưởng, vật liệu, dụng cụ, khấu hao TSCĐ, dịch
vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền.
Cách phân loại này giúp cho việc quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở cho
kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn
cứ để thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau.
1.1.2.2. Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, những chi phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế
xếp vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát sinh
trong lĩnh vực hoạt động sản xuất nào, ở đâu và có tác dụng như thế nào. Toàn bộ
chi phí được chia làm các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên vật
liệu dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: chi phí nguyên vật
liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế
và chi phí nguyên vật liệu khác.
- Chi phí nhân công: Yếu tố chi phí nhân công là các khoản chi phí về tiền
lương phải trả cho người lao động, các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT,
KPCĐ, BHTN của người lao động.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Yếu tố chi phí này bao gồm khấu hao của tất cả
TSCĐ dùng vào hoạt động của sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá
trình sản xuất ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
Phân loại chi phí theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi
phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính,
phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí cho kỳ sau.



Khi xem xét chi phí sản xuất trên cơ sở đầu vào của quá trình sản xuất ở doanh
nghiệp thì chi phí sản xuất được chia thành 2 loại:
- Chi phí ban đầu: Chi phí ban đầu là chi phí doanh nghiệp phải lo liệu, mua
sắm, chuẩn bị từ lúc đầu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí ban


16

16

đầu phát sinh trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên
ngoài. Do đó nó còn được gọi là các chi phí ngoại sinh.
- Chi phí luân chuyển nội bộ: Chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí phát
sinh trong quá trình phân công và hợp tác lao động trong nội bộ doanh nghiệp. Đây
là các chi phí luân chuyển giữa các bộ phận khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp.
Ví dụ: giá trị lao vụ dịch vụ cung cấp lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất phụ, sản
xuất phụ và phụ trợ cung cấp cho sản xuất chính, giá trị của nửa thành phẩm tự chế
được sử dụng cho các bộ phận sản xuất tiếp theo.
Chi phí luân chuyển nội bộ phát sinh do có sự kết hợp các yếu tố đầu vào sau
một quá trình sản xuất nhất định. Do vậy chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí
tổng hợp được cấu thành bởi nhiều yếu tố chi phí ban đầu, nó còn được gọi là các
chi phí hỗn hợp.
Việc phân loại chi phí sản xuất theo cách này giúp doanh nghiệp chủ động
trong việc xác định nguồn kinh phí từng giai đoạn trong quá trình sản xuất.
1.1.2.5. Phân loại theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán
chi phí
Theo cách này, chi phí được chia thành 3 loại:
- Chi phí trực tiếp: Là các chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với từng đối tượng
chịu chi phí. Các chi phí này được kế toán căn cứ trực tiếp vào các chứng từ phản
ánh chúng để tập hợp cho từng đối tượng liên quan.

đối lập nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau, đó là: các chi phí mà doanh
nghiệp đã chi ra và kết quả sản xuất thu được – sản phẩm, công việc hoàn thành.
Như vậy doanh nghiệp phải tính được chi phí bỏ ra để sản xuất được sản phẩm,
công việc đã hoàn thành.
Vậy giá thành sản xuất sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí về lao
động sống, lao động vật hóa và các chi phí khacs được dùng để sản xuất hoàn thành
một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động
sản xuất, kết quả sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất của
doanh nghiệp.
Giá thành sản phẩm được xác định cho từng loại sản phẩm, dịch vụ cụ thể và
chỉ tính toán xác định với số lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành, kết thúc toàn


18

18

bộ quá trình sản xuất (thành phẩm) hay hoàn thành một số giai đoạn công nghệ sản
xuất (bán thành phẩm).
1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng yêu cầu của quản lý và hạch toán, giá thành sản phẩm được chia
làm nhiều loại khác nhau, tùy theo các tiêu thức sử dụng để phân loại giá thành.
1.2.2.1. Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính
giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại sau:
- Giá thành kế hoạch: là loại giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở chi
phí kế hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch. Giá thành kế hoạch bao giờ
cũng được tính toán trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong một thời kỳ. Giá thành sản phẩm kế hoạch là mục tiêu phấn đấu trong

số sản phẩm tiêu thụ cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
phát sinh trong kỳ tính cho số sản phẩm này. Như vậy, giá thành toàn bộ sản
phẩm tiêu thụ chỉ tính và xác định cho số sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất và
đã tiêu thụ, nó là căn cứ để tính toán xác định mức lợi nhuận thuần trước thuế
của doanh nghiệp.
1.3. Mối quan hệ giữa kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều là biểu hiện hai mặt của quá trình
sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì đều cùng biểu hiện bằng tiền
những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra,
nhưng khác nhau về lượng, khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho chúng trong
một thời kỳ nhất định, không phân biệt cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay
chưa, còn khi nói đến giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất
nhất định tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định. Giá thành sản phẩm
là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng hoặc đơn vị sản phẩm, công việc lao vụ
do doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá
thành được thể hiện qua công thức:
Tổng giá thành
sản phẩm

Chi phí sản
= xuất dở dang
đầu kỳ

Chi phí sản

Chi phí sản
+ xuất phát sinh
trong kỳ

-

đủ kinh nghiệm để xác định đúng đắn các loại chi phí, chi phí nào hợp lý được tính
vào giá thành của sản phẩm, chi phí nào không được tính vào giá thành sản
phẩm. Nếu xác định không đúng đắn chúng ta có thể bỏ sót các chi phí hoặc thêm
vào các chi phí không hợp lý làm giá thành của sản phẩm bị đội lên và làm mất tính
cạnh tranh về giá cả của mặt hàng trên thị trường. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải
quản lý tốt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm một cách khoa học đúng
đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm.
1.4.2. Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ
thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối
quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần phải xác định
nhiệm vụ của mình như sau:


21

21

- Lựa chọn, xác định đúng đối tượng kế toán chi phí sản xuất, lựa chọn
phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện
của doanh nghiệp
- Xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp
- Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ
ràng trách nhiệm từng nhân viên, từng bộ phận có liên quan.
- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành của từng loại sản phẩm, dịch vụ được
sản xuất.
- Kiểm tra chặt chẽ tình hình các định mức tiêu hao, các dự toán chi phí nhằm

- Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất.
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp.

Xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học hợp lý là cơ sở để tổ
chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức
tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết,…
1.5.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng để tập
hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng
tập hợp chi phí đã xác định. Nội dung cơ bản của phương pháp kế toán tập hợp chi
phí sản xuất là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở
các sổ kế toán nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đối
tượng hoặc tính toán, phân bổ phần chi phí phát sinh cho các đối tượng đó. Thông
thường tại các doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí như sau:
* Phương pháp tập hợp trực tiếp
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp chi phí có liên quan trực tiếp đến
các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức là đối với các loại chi phí phát sinh
liên quan đến đối tượng nào có thể xác định được trực tiếp cho đối tượng đó, chi phí
phát sinh liên quan đến từng đối tượng được tập hợp chi phí cụ thể đã xác định sẽ
được tập hợp và quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó.
Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách
cụ thể, tỉ mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ
kế toán liên quan theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định. Như vậy mới
đảm bảo các chi phí phát sinh tập hợp đúng theo các đối tượng một cách chính xác,
kịp thời và đầy đủ.


23

23

Với phương pháp phân bổ gián tiếp, mức độ chính xác của chi phí sản xuất
tính cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phụ thuộc vào việc lựa chọn tiêu
chuẩn phân bổ.
1.5.2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.5.2.1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
1.5.2.1.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
* Khái niệm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các chi phí về nguyên vật liệu
chính, nửa thành phẩm mua ngoài hoặc tự chế, vật liệu phụ.… sử dụng trực tiếp cho
việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ.


24

24

* Phương pháp tập hợp và phân bổ:
- Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, có liên quan trực tiếp đến từng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành thì tập hợp theo phương
pháp trực tiếp.
- Đối với những chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, có liên quan đến nhiều đối
tượng chịu chi phí thì tập hợp và phân bổ theo phương pháp gián tiếp.
- Tiêu chuẩn phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: chi phí định mức, chi
phí kế hoạch, khối lượng sản phẩm sản xuất, ...
* Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp và phân bổ chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng
TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp.
- Nguyên tắc kế toán:
+ Tài khoản này chỉ dùng để phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu sử dụng
trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện các dịch vụ của các ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status