i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn: “Kế toán doanh thu, chi phí, kết
quả kinh doanh tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện Lực Hải
Dương” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS.
Đoàn Vân Anh. Các số liệu trích dẫn trung thực, luận văn không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu tương tự khác.
Hà Nội, ngày
tháng
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Dịu
năm 2016
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài, em đã nhận được sự quan tâm,
góp ý của các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau đại học, Khoa Kế toán - Kiểm toán,
Trường Đại học Thương mại. Em cũng nhận được sự giúp đỡ của cán bộ, nhân viên
trong công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương.
Trước hết, em xin cảm ơn quý thầy cô Trường Đại học Thương mại, đặc biệt
là những thầy cô đã tận tình dạy bảo em suốt thời gian em học tập tại trường.
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS,TS. Đoàn Vân Anh, Khoa Kế toán
Kiểm toán - Trường Đại học Thương mại đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết
hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
CMKT
CP
CTGS
DN
DT
GTGT
HĐTC
HĐKD
KQKD
KTQT
KTTC
LN
NKC
NPT
PP
QL
TK
TN
TNDN
TNHH
TS
TSCĐ
TT
SX
SXKD
Nghĩa đầy đủ
Báo cáo tài chính
Bán hàng
Bộ Tài chính
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nguyên lý sản xuất điện của nhà máy điện.................................................51
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty....................................................................52
Sơ đồ 2.3. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty...........................................................55
Biểu đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện thời điểm ghi nhận doanh thu tại công ty..............................58
vi
PHỤ LỤC
Số phụ
lục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
1.5
1.6
1.7
1.8
1.9
1.9.1
1.9.2
1.9.3
1.9.4
1.9.5
2
Hóa đơn GTGT tiền điện
Biên nhận thanh toán tiền điện
Giấy báo tiền điện
Hợp đồng cung cấp điện cho tổ chức kinh doanh
Phiếu thu
Giấy báo có
Bảng cân đối Tài khoản công ty năm 2015
Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2015
Chứng từ ghi sổ
Chứng từ ghi sổ
Chứng từ ghi sổ
Chứng từ ghi sổ
Chứng từ ghi sổ
Phiếu chi
Phiếu chi
Chứng từ ghi sổ
Chứng từ ghi sổ
Sổ cái TK 511
Sổ cái TK 515
Sổ cái TK 641
Sổ cái TK 642
Sổ cái TK 632
Sổ cái TK 635
Sổ cái TK 711
vii
3.9.
4
Sổ chi tiết TK 5111
Sổ chi tiết bán hàng năm 2015
Sổ chi tiết TK 5151
Sổ chi tiết TK 6411
Sổ chi tiết TK 6429
Sổ chi tiết TK 6324
Sổ chi tiết TK 63511
Sổ chi tiết TK 71111
Sổ chi tiết TK 81123
Sổ chi tiết TK 9111
Mẫu Sổ chi tiêt TK 51111
Mẫu sổ chi tiết TK 5111
Mẫu sổ chi tiết TK 5111
Mẫu sổ chi tiết TK 515
Mẫu sổ chi tiết TK 7111
Mẫu Sổ chi tiêt TK 63211
Mẫu sổ chi tiết TK 6321
Mẫu sổ chi tiết TK 6321
Mẫu sổ chi tiết TK 6351
Mẫu Sổ chi tiêt TK 911111
Mẫu sổ chi tiết TK 91111
Mẫu sổ chi tiết TK 9111
Mẫu sổ chi tiết TK 9111
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận (LN) luôn là mục
tiêu cơ bản của các doanh nghiệp (DN), chi phối mọi hoạt động của DN. Để phân
MTV Điện lực Hải Dương, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao công
tác kế toán tại công ty nói chung và công tác doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh
doanh tại công ty TNHH MTV Điện lực nói riêng.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nội dung về kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh đã được nhiều tác
giả nói đến thông qua các luận văn, luận án, bài báo, tạp chí. Sau đây, tôi xin trình
bày một số luận văn, luận án, bài báo nghiên cứu về kế toán doanh thu, chi phí, kết
quả kinh doanh, cụ thể như sau:
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh bảo vệ năm 2015 tại Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết
quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc Tổng Công ty thép Việt
Nam”. Luận án đã đưa ra được các vấn đề sau:
Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về kế toán CP, DT,
KQKD trong các DNSX.
Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu CMKT quốc tế về kế toán CP, DT, KQKD và
mô hình kế toán của 2 nước Pháp, Mỹ. Luận án đã chỉ ra mô hình tổ chức bộ máy
kế toán áp dụng cho các DNSX ở Việt Nam nên theo mô hình kết hợp giữa KTTC
và KTQT trên cùng một hệ thống kế toán.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kế toán CP, DT, KQKD trong các
DN SX thép thuộc Tổng công ty Thép Việt Nam, tác giả đã đưa ra những bất cập và
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kế toán CP, DT, KQKD trong các DN SX thép
thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam dưới góc độ KTTC và KTQT.
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Anh Thủy bảo vệ năm 2009 tại Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp thiết bị y tế trên địa bàn Hà Nội”. Trong bài luận
văn của mình tác giả đã đưa ra những ưu điểm trong kế toán BH và xác định KQKD
của các DN kinh doanh thiết bị y tế trên địa bàn Hà Nội như sau: Việc tổ chức lập
3
4
mình, tác giả chỉ trình bày, phân tích kế toán DT, CP và KQKD dưới góc độ KTTC
mà chưa làm rõ được kế toán DT, CP và KQKD dưới góc độ KTQT.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Đoàn Thị Kim Oanh bảo vệ năm 2009 tại Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và xác
định kết quả dịch vụ viễn thông tại các đơn vị thuộc Tổng công ty viễn thông quân đội
Viettel”. Thành công chính của luận văn là tác giả đã hệ thống hóa được các vấn đề
lý luận cơ bản về kế toán CP, DT và xác định KQKD dưới góc độ KTTC và KTQT.
Trên cơ sở đó tác giả đã phân tích thực trạng và phương hướng hoàn thiện kế toán
CP, DT và xác định KQKD dưới cả 2 góc độ KTTC và KTQT.
Bài viết “Kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh thương mại ở một
số nước phát triển và bài học cho Việt Nam” của tác giả Trần Hải Long, Trường
Đại học Thương mại đăng trên Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 04 (129),
2014, trang 50 - 52. Bài viết đã trình bày kế toán DT, CP và KQKD thương mại
theo kế toán Mỹ, kế toán Pháp và đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Trong
từng hệ thống kế toán, tác giả đã nêu ra được khái niệm, bản chất, phân loại CP
thương mại trong HĐKD thương mại; thời điểm ghi nhận DT, KQKD và các khái
niệm liên quan tới giảm trừ DT. Bài viết cũng nhấn mạnh rằng “Hệ thống kế toán
pháp quy định chặt chẽ và cụ thể cho từng phần hành kế toán, tạo ra sự thống nhất
trong hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, đồng thời đảm bảo tính so sánh
được của các số liệu kế toán qua các thời kỳ của DN”. Song tác giả cũng nhấn mạnh
việc hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế trở nên phức tạp, làm giảm bớt sự chủ động
của kế toán. Bên cạnh việc nêu công tác kế toán DT, CP và KQKD thương mại theo
kế toán Mỹ, Pháp, bài viết cũng nêu ra bài học kinh nghiệm cho các DN thương mại
ở Việt Nam.
Bài viết “Kế toán chi phí - thu nhập - xác định kết quả theo mô hình kế toán
Mỹ, Pháp và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Phạm Tiến
Hưng, Học viện Tài chính đăng trên Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 07
(132), trang 65 - 67, 2014. Trong bài viết này, tác giả đưa ra hai mô hình kế toán chi
phí – Thu nhập - xác định KQKD ở hai cường quốc kinh tế là Mỹ, Pháp và rút ra
thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp.
6
Thứ hai, nghiên cứu, phân tích, đánh giá và khảo sát thực trạng về công tác kế
toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH MTV Điện
lực Hải Dương dưới góc độ kế toán tài chính.
Thứ ba, trên cơ sở lý luận và thực tế khảo sát, luận văn đề xuất một số giải
pháp nhằm khắc phục những bất cập trong việc vận dụng chế độ kế toán, chuẩn
mực kế toán , luật kế toán vào việc hạch toán DT, CP và KQKD tại công ty TNHH
MTV Điện lực Hải Dương. Qua đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện
công tác kế toán taị công ty trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, để đạt được mục tiêu nghiên
cứu tác giả đã kết hợp sử dụng các phương pháp (PP) nghiên cứu như: PP tiếp cận
thông tin (TT), PP thu thập dữ liệu và PP xử lý, phân tích dữ liệu. Cụ thể việc áp
dụng các PP nghiên cứu như sau:
a) Phương pháp tiếp cận thông tin
Luận văn vận dụng cơ sở lý luận về kế toán DT, CP và KQKD để phân tích
thực trạng công tác kế toán DT, CP và KQKD tại công ty TNHH MTV Điện lực
Hải Dương. Đồng thời sử dụng các PP nghiên cứu định tính để thu thập dữ liệu, xử
lý thông tin thu được.
PP nghiên cứu định tính: PP nghiên cứu này được tác giả thực hiện thông qua
việc quan sát, phỏng vấn sâu và khảo sát các đối tượng cung cấp TT như các nhân
viên thuộc Phòng Kế toán, các nhân viên Phòng kinh doanh và các phòng ban khác
như phòng vật tư, phòng kỹ thuật, đội vận hành lưới điện,phòng công nghệ thông tin,
đội quản lý điện kế, đội quản lý khách hàng... tại công ty. PP này giúp tác giả có cái
nhìn tổng quát về công tác kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh tại công
ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
b) Phương pháp thu thập dữ liệu
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh trong doanh
nghiệp.
b) Phạm vi nghiên cứu
8
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Luận văn thực hiện nghiên cứu kế toán CP,
DT, KQKD tại công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận văn khảo sát, nghiên cứu về kế toán CP,
DT, KQKD dưới góc độ kế toán tài chính, trong đó:
+ Về kế toán chi phí: Khảo sát, nghiên cứu về kế toán Chi phí cần thiết nên
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
+ Về kế toán doanh thu: Khảo sát, nghiên cứu về kế toán doanh thu BH &
CCDV, kế toán DT bán hàng nội bộ, kế toán DT HĐTC và Thu nhập khác.
+ Về kế toán kết quả kinh doanh: Khảo sát, nghiên cứu về kế toán kết quả kinh
doanh trước thuế.
Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu kế toán thực tế của công ty trong 2 năm 20142015 ; Đề xuất hoàn thiện kế toán CP, DT và KQKD trong những năm tiếp theo.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
a) Ý nghĩa về mặt lý luận
Về mặt lý luận, luận văn góp phần làm rõ bản chất của kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất về mặt kế toán tài chính.
b) Ý nghĩa về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh tại công ty
TNHH MTV Điện lực hải Dương là một sản phẩm khoa học có ý nghĩa cho nhiều
đối tượng.
- Đối với người làm công tác kế toán tại Công ty TNHH MTV Điện lực Hải
Dương: Luận văn giúp người thực hiện công việc kế toán có cái nhìn tổng quan về
công tác kế toán hiện tại của công ty. Từ đó, đưa ra cho riêng mình những phương
Có rất nhiều quan niệm về doanh thu, có thể xem xét và ghi nhận những khoản
được coi là DT của DN dưới dạng sự gia tăng của dòng vốn lưu động, có thể coi DT
là lợi tức hay được xác định là các luồng tiền vào hoặc tiết kiệm luồng tiền ra, hoặc
là những lợi ích kinh tế tương lai dưới hình thức gia tăng giá trị TS.
Theo CMKT quốc tế số 18 “Doanh thu” thì “DT là dòng tiền đầu vào mà DN
thu được trong quá trình hoạt động (dòng tiền dẫn đến sự gia tăng vốn chủ sở hữu
hoặc ảnh hưởng đến sự đóng góp của vốn chủ sở hữu)”.
Theo CMKT Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” (Ban hành và công bố theo
Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng BTC)
thì DT được hiểu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán,
phát sinh từ các hoạt động SX, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của
DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông
hoặc chủ sở hữu.
Theo CMKT Việt Nam số 14 “Doanh thu và TN khác” (Ban hành kèm theo
quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của BTC về việc ban
hành và công bố bốn CMKT Việt Nam (đợt 1)): “DT là tổng giá trị các lợi ích kinh
tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động SX, kinh doanh thông
thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”.
Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của BTC về
Hướng dẫn chế độ kế toán DN thì DT được hiểu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng
vốn chủ sở hữu của DN ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. DT không
bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba.
11
Đối với DN SX, “DT là tổng các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ hạch toán,
phát sinh từ hoạt động SXKD thông thường của DN góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”
(Ngô Thế Chi, Ngô Thị Thủy (2007), Kế toán tài chính, Nxb Tài chính, Hà Nội).
Như vậy, qua các khái niệm trên, tác giả nhận thấy doanh thu chỉ bao gồm
tổng giá trị của các lợi ích kinh tế DN đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu
Doanh thu bán hàng ra ngoài: Là toàn bộ DT của khối lượng sản phẩm, hàng
hóa DN đã bán ra cho khách hàng ngoài phạm vi DN.
Nếu DN lựa chọn phân loại DT theo tiêu thức này sẽ xác định được chính xác
kết quả HĐKD của DN, cung cấp thông tin chính xác cho công tác lập BCTC hợp
nhất mang tính tập đoàn, toàn ngành...từ đó ra những quyết định chính xác trong
việc lựa chọn các phương án kinh doanh.
* Phân loại doanh thu theo khu vực địa lý
Theo tiêu thức này DT của DN được chia làm 2 loại:
DT nội địa: Là các khoản thu được từ BH&CCDV vụ trong nước.
DT quốc tế: Là các khoản thu từ BH&CCDV vụ phát sinh tại nước ngoài.
Việc phân loại theo tiêu thức này giúp nhà quản trị xác định được mức độ hoạt
động theo khu vực địa lý, là căn cứ để đánh giá mức sinh lợi cũng như rủi ro trong
kinh doanh của từng khu vực, trên cơ sở đó các nhà quản trị có những giải pháp và
những phương án kinh doanh hợp lý. Phân loại theo tiêu thức này cũng sẽ cung cấp
được số liệu phục vụ cho việc lập BCTC bộ phận của từng DN.
* Phân loại doanh thu theo tình hình kinh doanh
Theo tiêu thức này doanh thu của DN được phân loại như sau:
Doanh thu bán hàng hóa: Là toàn bộ doanh thu của khối lượng hàng hóa đã
bán được trong kỳ.
Doanh thu bán thành phẩm: Là DT của toàn bộ khối lượng sản phẩm, thành
phẩm đã bán trong kỳ, hay đã được xác định tiêu thụ trong kỳ.
Doanh thu cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ DT của khối lượng dịch vụ đã hoàn
thành, đã cung cấp cho khách hàng và đã được khách hàng thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán.
13
Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Là toàn bộ các khoản DT từ trợ cấp, trợ giá của
nhà nước khi DN thực hiện các nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
theo yêu cầu của nhà nước.
Ta thấy, với cách phân loại này sẽ giúp DN xây dựng dự toán về các khoản
công nợ và chi phí trong kỳ của DN. Ngoài ra cách phân loại này giúp cho việc
phân tích, đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng, là căn cứ quan trọng để
xác định mức dự phòng phải thu khó đòi.
* Phân loại doanh thu theo phương thức bán hàng
Theo tiêu chí này DT của DN được chia làm các loại sau:
DT bán buôn: Là toàn bộ DT của khối lượng sản phẩm, hàng hóa.. bán cho
các cơ quan, đơn vị khácnhằm mục đích để tiếp tục chuyển bán hoặc gia công SX.
Doanh thu bán lẻ: Là toàn bộ DT của khối lượng sản phẩm, hàng hóa…bán
cho cơ quan, đơn vị khác, cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng.
Doanh thu gửi bán đại lý: Là toàn bộ DT của khối lượng hàng hóa gửi bán đại
lý theo hợp đồng đã ký kết.
Với cách phân loại DT theo tiêu chí này sẽ giúp DN xác định được tổng mức
tiêu thụ sản phẩm của từng loại, từ đó hoạch định được mức luân chuyển hàng hóa
xây dựng được mức dự trữ hàng hóa cần thiết, tránh được tình trạng ứ đọng hoặc
thiếu hàng gây ảnh hưởng không tốt cho quá trình HĐKD của DN.
Ta thấy, trên thực tế có rất nhiều cách phân loại doanh thu, tùy vào đặc điểm
kinh doanh các DN lựa chọn phương thức phân loại doanh thu cho phù hợp với thực
tế của đơn vị. Phân loại DT theo tình hình kinh doanh là một trong những cách PL
được nhiều DNSX lựa chọn. Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương nên sử
dụng PP phân loại này. Khi xác định được DT của từng loại hình hoạt động, DN sẽ
xác định được đâu là hoạt động mũi nhọn, trên cơ sở đó DN sẽ đưa ra phương án
kinh doanh tối ưu nhất.
1.1.2. Khái niệm, phân loại chi phí trong doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm chi phí
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động
SXKD của DN. CP được nhìn nhận theo nhiều góc độ khác nhau.
15
1.1.2.2. Phân loại chi phí
Trong quá trình SX của DN, phát sinh rất nhiều loại CP. Việc phân loại CP
một cách khoa học và hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và hạch
toán CP của DN. Với mục đích cung cấp thông tin hữu ích cho quản lý và tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác kế toán, CP kinh doanh thường được PL theo các cách
chủ yếu như: PL theo nội dung (tính chất) kinh tế của CP; PL theo cách thức kết
chuyển chi phí,...
* Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Đây là một cách PL khác của CP để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý CP theo
nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa
điểm phát sinh của CP, CP được PL theo yếu tố.
Theo cách PL này, về thực chất, chi phí SXKD chỉ có 3 yếu tố CP cơ bản là:
CP về lao động sống, CP về đối tượng lao động và CP về tư liệu lao động. Tuy
nhiên, để cung cấp thông tin về CP một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây
dựng và phân tích ĐM vốn lưu động, việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán CP, các
yếu tố CP trên cần được chi tiết hoá theo nội dung kinh tế cụ thể của chúng. Để chi
tiết hoá phục vụ yêu cầu quản lý, toàn bộ CP thường được chia thành các yếu tố sau:
Chi phí nguyên liệu và vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu
chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ sử dụng vào SXKD
Chi phí khấu hao TSCĐ máy móc thiết bị: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ
trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho SXKD của DN;
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí cho các dịch vụ mua
ngoài dùng vào SXKD;
Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ CP khác bằng tiền chưa phản ánh
vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ;
Chi phí nhân công: Phản ánh các khoản CP về tiền lương, các khoản BHXH,
BHYT phải trả cho người lao động.
Theo cách PL này thì chi phí SXKD phát sinh nếu có cùng nội dung kinh tế thì
được sắp xếp vào một yếu tố bất kể nó phát sinh ở bộ phận nào, dùng để SX ra sản
18
+ Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi trực tiếp bằng tiền dùng cho việc
phục vụ và quản lý SX ở phân xưởng SX.
Chi phí bán hàng: Là CP phát sinh trong quá trình bán hàng đó là CP lưu
thông và CP tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ,
dịch vụ. Loại CP này bao gồm: CP quảng cáo, CP giao hàng, giao dịch, hoa hồng
bán hàng, CP nhân viên bán hàng và CP khác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá .
Chi phí QLDN: Là các khoản CP liên quan đến việc phục vụ và quản lý SXKD
có tính chất chung toàn DN. Bao gồm: CP nhân viên quản lý, CP đồ dùng văn
phòng, khấu hao TSCĐ dùng cho cho toàn DN, các loại thuế phí có tính chất CP,
CP khánh tiết, CP hội nghị...
Cách PL này giúp cho nhà quản lý biết được KQKD lãi hoặc lỗ của từng mặt
hàng, từng loại dịch vụ mà DN kinh doanh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định
khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí BH và CP quản lý cho từng mặt hàng, từng
loại dịch vụ nên cách PL này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật nghiên cứu.
* Phân loại chi phí theo mối quan hệ với kỳ tính kết quả kinh doanh
Theo cách PL này, toàn bộ chi phí SXKD được chia thành CP sản phẩm và CP
thời kỳ.
Chi phí sản phẩm: Là những CP gắn liền với các sản phẩm được SX ra hoặc
được mua, bao gồm CPNCTT, CPNVLTT, CPSXC .
Chi phí thời kỳ: Là những CP phục vụ cho SXKD, không tạo nên giá trị hàng
tồn kho (sản phẩm, hàng hoá) mà ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ mà
chúng phát sinh. Nó bao gồm có chi phí BH và chi phí QLDN, CP phát sinh ở kỳ
nào thì được hạch toán ngay vào CP kinh doanh của kỳ đó và ảnh hưởng trực tiếp
đến lợi nhuận trong kỳ.
Cách phân loại này tạo điều kiện cho việc xác định giá thành công xưởng cũng
như KQKD được chính xác.