LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Nam Thăng Long”
là công trình nghiên cứu riêng của tác giả.
Các số liệu sử dụng trong luận văn hoàn toàn trung thực, nguồn trích dẫn có
thực và đáng tin cậy. Các kết quả của luận văn chưa được công bố ở bất cứ nơi nào.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Huy
1
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin được nói lời cảm ơn sâu sắc nhất với thầy Chử Bá Quyết
- người đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này trong thời gian sớm
nhất. Trong quá trình thực hiện luận văn thầy Chử Bá Quyết đã tận tình bảo ban,
giúp em định hướng trong việc xây dựng và hoàn thiện luận văn để có được kết quả
tốt nhất.
Em xin trân trọng cảm ơn trường Ban lãnh đạo trường Đại học thương mại
Khoa sau Đại học và tập thể các thầy cô giáo nhà trường đã truyền đạt cho em
những kiến thức bổ ích và tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thiện đề tài
nghiên cứu này.
Em xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám đốc, cán bộ nhân viên,
các Phòng, Ban thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Nam Thăng Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình tham
khảo số liệu và tìm hiểu các thông tin về phục vụ việc nghiên cứu luận văn.
Tuy nhiên do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên luận văn của
em thực hiện không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được các ý kiến đóng
Thương mại cổ phần
Ngân hàng nhà nước
Sản xuất kinh doanh
Tổ chức tín dụng
Tài sản đảm bảo
Kinh tế xã hội
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển kinh tếxã hội. Những năm qua kết quả từ hoạt động kinh doanh của ngành Ngân hàng đã
đóng góp một phần hết sức quan trọng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh
trong lĩnh vực Ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt cả về mức độ, phạm vi và sản
phẩm, dịch vụ cung ứng trên thị trường. Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, nhu
cầu của khách hàng ngày càng cao trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ hết sức đa
dạng, phức tạp. Khách hàng đòi hỏi những sản phẩm chất lượng cao với nhiều tiện
Trong nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại, dịch vụ thẻ thanh toán ngày càng trở nên
quan trọng hơn. Cũng chính vì thế, đã có rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài
nước về vấn đề này.
2.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Douglas Akers, Jay Golter, Brian Lamm, and Martha Solt. (2005). Overview
of Recent Developments in the Credit Card Industry. Cuốn sách coi dịch vụ thẻ là
một ngành công nghiệp, và có nhiều kiến thức thú vị về việc phát triển thẻ tín dụng.
Thông qua thực trạng phát triển thẻ tín dụng, với nhiều con số và bằng chứng hùng
hồn, cuốn sách cũng đã đưa ra một vài định hướng trong công tác phát triển thẻ, cả
về số lượng, chất lượng, để mang lại cho Ngân hàng nhiều lợi nhuận nhất.
Foscht et al. (2010). Debit and credit card usage and satisfaction-Which uses
which and why–evidence from Austria. International Journal of Bank Marketing.
Tác phẩm này xứng đáng là cuốn sách bỏ túi của những nhà quản trị, và phát triển
thẻ. Để phát triển dịch vụ thẻ, không có cách gì hiệu quả hơn là làm cho thẻ dễ sử
dụng hơn, tạo được sự hài lòng của khách hàng. Những kinh nghiệm của tác giả
khiến cho việc trình bày không khô khan, trừu tượng mà rất cụ thể, dễ hiểu.
Mena Report. (2014). Belgium: New Report on Card Fraud Shows Online
Fraud Increased in 2012. Một báo cáo ngắn của HighBeam research, nhưng những
thông tin rất có ý nghĩa và giá trị. Thông qua điều tra tổng hợp, nhóm đã đưa ra, và
chứng minh bằng con số rằng: lừa đảo trong thanh toán online đang tăng lên nhiều
lần so với trước, và không có dấu hiệu dừng lại. Đây là hồi chuông cảnh báo cho tất
8
cả các ngân hàng về việc củng cố hạ tầng công nghệ, chống gian lận song song với
hiện đại hóa nghiệp vụ ngân hàng; không chỉ chạy theo danh hão, mà đánh mất uy
tín và tài sản của mình.
National Instituted For Finance. (2013). Card Market: Growth potential is
even great. Viện Tài chính đã có nghiên cứu về thị trường và đưa ra kết luận: tiềm
thẻ ngân hàng tại Việt Nam” của Trần Tấn Lộc, trường Đại học kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh. Cả hai tác phẩm đều nghiên cứu về thẻ ngân hàng nói chung, và thực
trạng thẻ ngân hàng tại Việt Nam. Tác giả tham khảo nhiều phần lý thuyết vào
chương 1 luận văn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng triển khai dịch vụ thẻ thanh toán tại
Vietinbank Nam Thăng Long. Qua đó đề xuất một số giải pháp để phát triển dịch vụ
thẻ thanh toán, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán không dùng
tiền mặt sao cho xứng với tiềm năng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Ngân
hàng.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hóa lý luận về thẻ thanh toán, và dịch vụ thẻ thanh toán. Phân tích
các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định dùng thẻ của khách hàng để có định hướng
phát triển dịch vụ thẻ.
+ Nghiên cứu tình hình, thực trạng dịch vụ thẻ thanh toán của Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long. Chỉ ra những ưu
điểm và tồn tại trong việc triển khai dịch vụ này của Ngân hàng, từ đó đưa ra đánh
giá chung.
+ Đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ thẻ thanh toán của chi nhánh nhằm nâng
cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dịch vụ thẻ thanh toán của Ngân hàng
thương mại, cụ thể hơn là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh
Nam Thăng Long.
10
4.2. Phạm vi nghiên cứu
với một chỉ tiêu khác để thấy mức độ ảnh hưởng, vai trò của các yếu tố, chỉ
tiêu này đối với yếu tố, chỉ tiêu khác.
- Phương pháp đồ thị, biểu đồ:
Bằng hình ảnh, tính chất của đồ thị, biểu đồ ta thấy được sự biến động, cơ cấu,
vai trò của các khoản mục và từ đó phân tích mối quan hệ, mức độ ảnh hưởng của
các nhân tố tới các chỉ tiêu phân tích.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam – chi nhánh Nam Thăng Long.
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Nam Thăng Long.
12
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn
liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều
khái niệm về NHTM:
Ở Mỹ cho rằng: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên
trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối” giữa các đơn
vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn.
Thông qua sự điều chuyển này, NHTM có vai trò quan trong trong việc thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi
Chính phủ. Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà
lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản
nhất của NHTM.
1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực
hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi
của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Nếu như mọi
khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện bên ngoài NH thì chi phí thực hiện là
rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền... Với sự ra đời của
NHTM, phần lớn các khoản chi trả trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch
vụ của xã hội dần được thực hiện qua NH, với những hình thức thanh toán phù hợp,
thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại hơn.
Chính nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội ở NH nên việc lưu thông
hàng hoá dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn. Không những vậy, do
thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NH có điều kiện huy động tiền gửi của
toàn xã hội nói chung và của DN nói riêng tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho đầu tư
phát triển, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của NH.
1.1.2.3. Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với
mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển
14
của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô
15
-
* Nếu căn cứ vào thời hạn cho vay gồm:
Cho vay ngắn hạn: thời hạn dưới 1 năm.
Cho vay trung hạn: thời hạn từ 1-5 năm.
Cho vay dài hạn: thời hạn trên 5 năm.
Cho vay ngắn hạn chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, cho vay trung và
dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho các đơn vị, các tổ chức kinh tế.
• Nếu căn cứ vào tính chất đảm bảo của khoản vay:
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: đây là loại cho vay đối với những khách hàng
-
chưa quen hoặc khách hàng chưa có uy tín với NH.
Cho vay không đảm bảo bằng tài sản: loại cho vay này áp dụng đối với những
khách hàng truyền thống có quan hệ lâu năm với NH, đồng thời đó là những khách
hàng có tình trạng tài chính vững chắc, sản xuất kinh doanh có lãi ổn định, có quan
hệ tốt trong giao dịch với khách hàng và NH.
• Nếu căn cứ vào tính chất sử dụng vốn vay:
- Cho vay sản xuất kinh doanh (đối với các đơn vị kinh tế)
- Cho vay tiêu dùng (mua xe, nhà cửa, đất đai…)
Cho vay gián tiếp: một khoản cho vay được thực hiện bằng các chiết khấu
giấy tờ có giá hoặc mua lại các chứng từ nợ thương mại theo thỏa thuận giữa NH
-
với khách hàng.
– Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng
– Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quí
– Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái
phiếu…
Các hoạt động trung gian này không phải đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho
NHTM nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc mở Khái quát về NHTM mở
rộng hoạt động huy động và sử dụng nguồn vốn, đồng thời đa dạng hoá hoạt động,
giảm bớt rủi ro và tăng thu nhập cho NH.
Ba nhóm hoạt động cơ bản của NHTM có những đặc điểm khác nhau song có
quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau. Trong quản trị NH, không
được coi nhẹ hoạt động nào mà phải luôn đặt mối quan hệ giữa chúng trong khi đề
ra chiến lược cũng như lập kế hoạch kinh doanh để đạt được hiệu quả trong hoạt động.
17
1.2. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm thẻ và thẻ thanh toán
Thẻ NH là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức
mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ
tin học trong lĩnh vực tài chính NH.
Thẻ NH là công cụ do NH phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh
toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của
mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ NH còn là công cụ để thực hiện các
dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ
ATM.
Nếu như thẻ tín dụng thông thường cho phép khách hàng có thể trả một phần
số dư nợ cuối kỳ vào ngày đến hạn với điều kiện đảm bảo mức thanh toán tối thiểu
thì đối với thẻ thanh toán, chủ thẻ sẽ phải thanh toán toàn số tiền phát sinh cho NH
khi vào ngày đến hạn. Tuy nhiên, để đổi lại, khi sử dụng thẻ thanh toán, khách hàng
nhất định, chủ thẻ cũng sẽ không phải trả lãi nếu thanh toán đúng hạn.
Thẻ ghi nợ (Debit Card)
Là loại thẻ có quan hệ gắn liền với tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản tiền thanh
toán của chủ thẻ. Khi mua hàng hoá, dịch vụ giá trị những giao dịch sẽ được khấu
trừ ngay vào tài khoản của chủ thẻ thông qua các thiết bị điện tử đặt tại các cơ sở
chấp nhận thẻ đó và đồng thời sẽ ghi có vào tài khoản của các đơn vị chấp nhận thẻ
đó. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên
tài khoản của chủ thẻ.
Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản sau:
Thẻ on-line: Là thẻ ghi nợ mà giá trị của những giao dịch được khấu trừ ngay
lập tức vào tài khoản của chủ thẻ.
Thẻ off- line: Là loại thẻ ghi nợ mà giá trị giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài
khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày.
Thẻ rút tiền mặt (Cash Card)
Là loại thẻ dùng đẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở NH
và các dịch vụ khác do máy ATM cung cấp (ví dụ: kiểm tra số dư, chuyển khoản,
chi trả các khoản vay...). Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng đẻ rút tiền, chủ thẻ
phải kí quỹ tiền gửi vào tài khoản NH hoặc chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng
thấu chi mới sử dụng được. Số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số tiền kí quỹ.
Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
Loại 1: Chỉ dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động của NH phát hành thẻ.
Loại 2: Được sử dụng để rút tiền không chỉ ở NH phát hành mà còn được sử
dụng để rút tiền ở các NH cùng tham gia tổ hợp thanh toán với NH phát hành thẻ.
Phân loại theo đặc tính kỹ thuật
19
-
- Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được sử chấp nhận trên phạm vi toàn cầu, sử dụng
đồng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Do phạm vi sử dụng trê toàn thế giới nên hoạt
đông của thẻ rất phức tạp. Tuy nhiên, thẻ quốc tế vẫn được ưa thích do tính tiện lợi
20
của nó. Thẻ được hỗ trợ và quản lý trên toàn thế giới bởi các tổ chức tài chính lớn,
uy tín như: Master Card, Visa...hoạt động trong một hệ thông liên hoàn, đồng bộ.
Phân loại theo chủ thể phát hành
- Thẻ do NH phát hành: là loại thẻ do NH phát hành giúp cho khách hàng
sử dụng linh hoạt tài khoản của mình tại NH hoặc sử dụng một số tiền do NH cấp
tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay trên thế giới.
- Thẻ do tổ chức phi NH phát hành: Đó là loại thẻ du lịch giả trí của các tập
đoàn kinh doanh lớn phát hành như thẻ Diner Club, Amex... được lưu hành trên
toàn thế giới.
1.2.3. Khái niệm dịch vụ thẻ thanh toán
Giao dịch thẻ là việc sử dụng thẻ để gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền
hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác tại các cơ sở chấp nhận thẻ do tổ chức
phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng.
Theo Nghị định của Chính phủ số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001
về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: Dịch vụ
thanh toán là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán
trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân
hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của người
sử dụng dịch vụ thanh toán.
Các dịch vụ thanh toán gồm có: cung ứng dịch vụ thanh toán; Dịch vụ thanh
toán trong nước; Dịch vụ thanh toán quốc tế; Dịch vụ thu hộ, chi hộ và dịch vụ
thanh toán khác do NHNN quy định.
Các bên tham gia trong dịch vụ thẻ thanh toán
thành viên, tổ chức thẻ quốc tế không có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay đơn vị
chấp nhận thẻ, mà chỉ cung cấp một mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy
trình thanh toán, cấp phép cho NH thành viên một cách nhanh chóng.
1.2.4. Lợi ích của dịch vụ thẻ thanh toán
1.2.4.1. Đối với kinh tế xã hội
Giảm khối lượng tiền mặt, tăng khối lượng và tốc độ chu chuyển vốn
Dịch vụ thẻ thanh toán giúp loại bỏ một khối lượng lớn tiền mặt lẽ ra phải lưu
chuyển trực tiếp trong lưu thông để thanh toán mua hàng, trả tiền dịch vụ trong cơ
chế thị trường đang ngày càng sôi động.
Dịch vụ thẻ thanh toán không đòi hỏi nhiều thủ tục, do đó tiết kiệm được các
chi phí phát sinh như in ấn, bảo quản vận chuyển đồng thời giao dịch được xử lý
22
qua hệ thống máy móc điện tử và thanh toán trực tuyến, vì vậy tốc độ chu chuyển
nhanh hơn nhiều so với các dịch vụ thanh toán khác như séc, ủy nhiệm thu, ủy
nhiệm chi…..Với hình thức này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Thực hiện các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước
Thẻ là một trong những công cụ hữu hiệu góp phần thực hiện các biện pháp
kích cầu của nhà nước. Nhà nước thông qua hệ thống NH kiểm soát mọi giao dịch
về tiền tệ, tạo cơ sở để quản lý thuế - một nguồn thu quan trọng góp phần thực hiện
những chính sách tiền tệ của quốc gia.
Các NHTM kích thích khách hàng phát hành thẻ bằng việc nới lỏng các chính
sách phát hành và phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ hàng hóa khuyến khích
người tiêu dùng thông qua việc cung cấp phương tiện thanh toán hiện đại và chính
sách ưu đãi, giảm giá hàng hóa, dịch vụ.
Sự tiện lợi mà dịch vụ thẻ ngân hàng nói chung, thẻ thanh toán nói riêng,
mang lại cho người sử dụng, cơ sở chấp nhận thẻ, NH… khiến cho ngày càng có
nhiều người ưa chuộng sử dụng dịch vụ thẻ, điều này làm cho thẻ trở thành một
công cụ hữu hiệu góp phần thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước. Khuyến
ngày càng trở nên phổ biến, dịch vụ thẻ thanh toán được kỳ vọng là phương thức
thanh toán chính.
24
1.2.4.3. Đối với Ngân hàng
Hơn ai hết, NH chính là người được hưởng lợi từ dịch vụ thẻ thanh toán nhiều
nhất. Điều này thể hiện ở các mặt sau:
Lợi nhuận ngân hàng
Lợi ích lớn nhất mà dịch vụ thẻ thanh toán đem lại cho NH là lợi nhuận, thu
nhập từ thẻ mà NH có được là: phí CSCNT, phí sử dụng thẻ (phí thường niên) và lãi
suất cho thẻ tín dụng và chủ thẻ chậm thanh toán. Đó là chưa kể các khoản thu từ
dịch vụ NH và đầu tư kèm theo.
Ngoài ra, dịch vụ thẻ thanh toán còn tạo ra sự “hỗ trợ chéo” rất có hiệu quả
cho NH. Tỷ lệ lợi nhuận tương đối cao từ dịch vụ thẻ thanh toán có thể bù đắp cho
những hoạt động kém sinh lời hơn của NH, để hoạt động của Ngân hàng được đánh
giá cao.
Tạo uy tín trên thị trường
Bằng việc khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ thanh toán, NH sẽ
thực hiện số giao dịch séc, tiền mặt ít hơn. Điều này mang lại cho NH nhiều lợi ích:
Thực hiện số giao dịch ít hơn, nhưng thông tin thường nhật được cung cấp bởi các
tổ chức thẻ quốc tế Visa, Master Card dưới hình thức điện tử làm cho việc ghi nợ
tương ứng vào các khoản của khách hàng được nhanh hơn, đơn giản hơn…Hoạt
động của NH nhờ đó cũng có hiệu quả hơn.
NH nhận được uy tín, danh tiếng trên thị trường. Trong hoạt động kinh doanh,
đặc biệt là kinh doanh tiền tệ thì uy tín là điều đặc biệt quan trọng. NH có thể mở
rộng các quan hệ với khách hàng và các đối tác (như NH khác và ĐVCNT) thông
qua phát hành thẻ liên kết. Điều này quyết định sự tồn tại, phát triển cũng như khả
năng cạnh tranh của NH trong thị trường cạnh tranh hiện nay.