Luận văn thạc sỹ: Phát triển dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng - Pdf 26

MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Kinh nghiệm bao thanh toán của Mỹ 25
Kinh nghiệm bao thanh toán của Hồng Kông 26
Kinh nghiệm bao thanh toán của Nhật 26
Kinh nghiệm bao thanh toán của Trung Quốc 28
Bài học về công tác Marketing 30
Bài học liên quan tới các quy định của Pháp luật 31
Bài học liên quan tới vận hành hoạt động bao thanh toán 31
3.2.6 Tăng cường hoạt động và tài chính làm cơ sở cho hoạt động bao thanh toán 75
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
BẢNG
Bao thanh toán đầy đủ 11
Kinh nghiệm bao thanh toán của Mỹ 25
Kinh nghiệm bao thanh toán của Hồng Kông 26
Kinh nghiệm bao thanh toán của Nhật 26
Kinh nghiệm bao thanh toán của Trung Quốc 28
Bài học về công tác Marketing 30
Bài học liên quan tới các quy định của Pháp luật 31
Bài học liên quan tới vận hành hoạt động bao thanh toán 31
3.2.6 Tăng cường hoạt động và tài chính làm cơ sở cho hoạt động bao thanh toán 75
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới, cùng với sự tác động của quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá, ngành ngân
hàng tài chính Việt Nam đã và đang phải đối mặt với những cạnh tranh gay gắt.
Việc đa dạng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ mới là một trong những chiến
lược quan trọng để giữ vững vị thế cạnh tranh của các tổ chức tín dụng đặc biệt là
các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Không nằm ngoài cuộc đua cạnh tranh, từ đầu năm 2009 Ngân hàng TMCP

lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra nghiên cứu
Và một số phương pháp khác.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ bao
gồm 3 chương như sau:
Chương 1- Những lý luận cơ bản về dịch vụ bao thanh toán của ngân hàng
thương mại
Chương 2- Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng
Chương 3- Giải pháp nhằm phát triển dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát cơ bản về bao thanh toán
1.1.1 Khái niệm bao thanh toán
1.1.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của bao thanh toán
Bao thanh toán, một loại hình dịch vụ khá mới mẻ với nhiều doanh nghiệp
Việt Nam, song lại là không thể thiếu đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài khi
bán hàng, bởi nó đã có một tiến trình phát triển lịch sử hàng trăm năm. Một số học
giả cho rằng bao thanh toán xuất hiện đầu tiên ở La Mã, một số khác lại cho rằng
bao thanh toán xuất hiện từ hàng ngàn năm trước vào thời vua Hammurabi của nền
văn minh Mesopotanimia - nền văn minh đầu tiên trên thế giới phát minh ra chữ
viết, hình thành các quy tắc thương mại và luật lệ nhà nước.

người mua cuối cùng. Đây chính là cơ sở cho bao thanh toán hiện đại. Khái niệm
bao thanh toán phát triển liên tục và ngày nay đã trở nên quen thuộc trong kinh
doanh thương mại, tài chính ngân hàng hay xuất nhập khẩu.
Đầu những năm 1960, tổ chức bao thanh toán quốc tế (International Factor
Group - IFG) ra đời với sự tham gia của 47 quốc gia đã đánh dấu bước phát triển
mạnh mẽ của bao thanh toán. Các quy tắc hoạt động chính thức được hình thành và
điều chỉnh hoạt động bao thanh toán. Năm 1968, hiệp hội bao thanh toán quốc tế
(Factors Chain International-FCI) ra đời đã liên kết các đơn vị bao thanh toán với
nhau và đưa bao thanh toán trở thành dịch vụ mang tính toàn cầu. Cùng với sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của thương mại thế giới nói chung và các
hình thức thanh toán nói riêng, bao thanh toán ngày càng hoàn thiện và trở thành
một hình thức tài trợ thương mại phổ biến như ngày nay.
1.1.1.2 Khái niệm bao thanh toán
Bao thanh toán có từ rất lâu đời song thực chất nó chỉ phát triển mạnh từ sau
chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay. Sở dĩ, sau này bao thanh toán mới phát
4
triển mạnh là vì sau thế chiến 2, nhiều nước trên thế giới lâm vào kiệt quệ, khủng
hoảng và suy thoái kinh tế, nhất là các quốc gia tham chiến trừ Mỹ. Các doanh
nghiệp của các quốc gia này cũng rơi vào tình trạng khó khăn tài chính nghiêm
trọng. Để phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp khi mua bán
với nhau phải dùng đến phương thức thanh toán trả sau (trả chậm). Tuy nhiên, khi
sử dụng phương thức này, doanh nghiệp lại phát sinh thêm chi phí quản lý nợ.
Trong trường hợp người bán cũng thiếu vốn để tài trợ cho sản xuất kinh doanh của
mình, buộc người bán phải bán lại khoản nợ để nhanh chóng có vốn phục vụ sản
xuất. Bên cạnh đó, tình trạng nợ khó đòi cũng là một vấn đề nhức nhối đối với
nhiều doanh nghiệp bán hàng. Chính vì như vậy, bao thanh toán ra đời nhằm đáp
ứng nhu cầu về tài trợ vốn và quản lý, thu hồi các khoản nợ giúp doanh nghiệp, hỗ
trợ cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn.
Vậy, bao thanh toán là gì?
Theo Từ điển kinh tế (Dictionary of Economic-Christopher Pass & Bryan

phải thu đơn vị bao thanh toán còn cung cấp dịch vụ theo dõi sổ sách, thu nợ hộ và
bảo hiểm rủi ro tín dụng”. Tóm lại, theo Công ước quốc tế UNIDROIT, bao thanh
toán là hoạt động tài chính tổ hợp từ các hoạt động tài trợ các khoản phải thu ngắn
hạn, quản lý sổ sách, thu nợ hộ và bảo hiểm rủi ro tín dụng.
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 về Quy chế hoạt
động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng, “Bao thanh toán là một hình thức cấp
tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản
phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua
hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng”.
Từ các khái niệm trên, chúng ta có hiểu Bao thanh toán là việc chuyển nợ của
người mua hàng (con nợ) từ người bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ (chủ nợ cũ)
sang công ty mua nợ (chủ nợ mới). Công ty mua nợ đảm bảo việc thu nợ, tránh rủi
ro về không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua. Công ty mua nợ
có thể trả trước thời hạn toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua cùng
với khoản hoa hồng tài trợ hay phí thu nợ. Mọi rủi ro không thu được nợ đều do
công ty mua nợ gánh chịu.
6
Hay nói cách khác, bao thanh toán có thể được hiểu là việc người bán chuyển
nhượng toàn bộ quyền và nghĩa vụ liên quan tới các khoản phải thu ngắn hạn phát
sinh trong hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán cho đơn vị bao thanh
toán, đổi lại đơn vị bao thanh toán cung cấp cho người bán một hoặc một số dịch vụ
sau:theo dõi sổ sách bán hàng của người bán; tài trợ dưới dạng tạm ứng cho người
bán dựa trên giá trị các khoản phải thu; thu nợ hộ; bảo hiểm rủi ro tín dụng cho các
khoản phải thu.
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của bao thanh toán
1.1.2.1 Đặc điểm của bao thanh toán
Từ khái niệm bao thanh toán, chúng ta thấy Bao thanh toán có hai tính chất cơ
bản là tính chất tín dụng và tính chất nhờ thu.
Với tính chất tín dụng, bao thanh toán khắc phục được những khó khăn về vốn
cho các doanh nghiệp. Thay vì việc phải chờ đợi 30, 60, hay 90 ngày để được người

bao thanh toán là một loại hình tổ chức tài chính chuyên biệt, các đơn vị bao thanh
toán đã đơn giản hoá hệ thống kế toán của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo thu nợ
và xác định các khoản thanh toán cho khách hàng thông qua việc cung cấp dịch vụ
quản lý sổ sách bán hàng và thu nợ hộ. Bên cạnh đó, với trình độ chuyên môn của
mình các đơn vị bao thanh toán sẽ có những nhận định và phân tích một cách toàn
diện để xác định những bất thường có thể xảy ra và đưa ra các khuyến cáo đối với
doanh nghiệp. Đơn vị bao thanh toán sẽ thay mặt khách hàng của mình theo dõi các
hoá đơn đến hạn, kiểm tra các quy định thanh toán, nhắc nợ và quản lý các khoản
nợ khó đòi. Thông qua hệ thống kỹ thuật hiện đại, chuyên môn nghiệp vụ của mình
các đơn vị bao thanh toán sẽ thực hiện các nghiệp vụ của mình nhờ thế giảm bớt
được những khoản nợ chậm trả và tạo thói quen thanh toán đúng hạn đối với người
mua hàng.
+ Thứ ba, bảo hiểm rủi ro tín dụng. Các đơn vị bao thanh toán cung cấp dịch
vụ này đã giúp cho khách hàng của mình giảm được rủi ro do không thu được nợ vì
khách hàng không thanh toán. Việc quản lý những món nợ đặc biệt là nguy cơ nợ
xấu là một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với các doanh nghiệp do đó các
8
doanh nghiệp chọn giải pháp bán các món nợ đó cho đơn vị bao thanh toán. Khi đó,
các doanh nghiệp sẽ giảm được rủi ro từ các khoản nợ đổi lại các đơn vị cung cấp
dịch vụ bao thanh toán sẽ thu lợi nhuận từ việc mua các khoản nợ thấp hơn giá trị
của chúng.
1.1.2.3 Ưu, nhược điểm của bao thanh toán
Ưu điểm
a. Đối với doanh nghiệp mua hàng
Thứ nhất, khi sử dụng dịch vụ này doanh nghiệp sẽ không mất phí và thời gian
để mở L/C cho từng đơn hàng nhập khẩu/mua tại từng thị trường và thông thường
không phải ký quỹ.
Thứ hai, doanh nghiệp được nhận hàng và sử dụng hàng mà chưa cần phải
thanh toán tiền ngay, doanh nghiệp chỉ phải thanh toán tiền hàng khi hàng hoá đáp
ứng được các yêu cầu của hợp đồng mua bán.

thương mại duy trì và mở rộng thị phần, nâng cao uy tín thanh toán trong nước và
quốc tế.
Thứ ba, việc cung ứng dịch vụ bao thanh toán cũng đồng nghĩa với việc cho
phép ngân hàng sử dụng tốt và linh hoạt hơn nguồn vốn huy động của mình. Sở dĩ
như vậy là vì trong dịch vụ bao thanh toán có dịch vụ ứng trước tiền hàng cho
người bán hay chính là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn khách hàng.
d. Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, bao thanh toán tạo môi trường kinh doanh ổn định hơn cho toàn bộ nền
kinh tế, tạo tâm lý yên tâm, tự tin đối với các doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, bao thanh toán đẩy mạnh thương mại, sản xuất và đặc biệt là xuất
nhập khẩu của quốc gia, tăng thu nhập cho nền kinh tế.
Thứ ba, bao thanh toán thúc đẩy đầu tư có hiệu quả nguồn vốn của nền kinh
tế, bao gồm nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư
e. Đối với xã hội
Bao thanh toán giúp tạo ra một nền kinh tế ổn định hơn và vì thế sẽ tạo ra hệ
quả: một xã hội ổn định hơn với công ăn việc làm nhiều hơn và chất lượng công ăn
việc làm cũng ổn định hơn.
10
Nhược điểm
a. Đối với doanh nghiệp là khách hàng của dịch vụ bao thanh toán
Đối với doanh nghiêp mua hàng, giá hàng thanh toán bằng phương thức bao
thanh toán có thể cao hơn so với giá hàng thanh toán bằng phương thức L/C.
Đối với doanh nghiệp bán hàng, khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán có thể dẫn
tới tổng chi phí thực tế tương đối cao, mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách
hàng có thể bị ảnh hưởng do có sự tham gia của đơn vị bao thanh toán, và khi có
tranh chấp xảy ra giữa người mua và người bán đối với một hoặc một số giao dich,
đơn vị bao thanh toán sẽ không tạm ứng trước cho các khoản đó hoặc sẽ truy đòi lại
các khoản đã tạm ứng cho những giao dịch tranh chấp đó.
b. Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bao thanh toán
Khi cung cấp dịch vụ bao thanh toán đơn vị bao thanh toán thường gặp nhiều

Người bán chuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán và
thông báo cho người mua. Người bán đứng ra làm trung gian giữa người mua và
đơn vị bao thanh toán để theo dõi sổ sách bán hàng và thu nợ từ người mua hàng.
Trong một số trường hợp, người mua được yêu cầu thanh toán trực tiếp cho đơn vị
bao thanh toán. Phương thức này thường được áp dụng đối với những người mua có
nhiều người mua nhỏ (khối lượng giao dịch nhỏ) nhưng không đủ tiêu chuẩn để sử
dụng dịch vụ chiết khấu hóa đơn.
Bao thanh toán đến hạn (Maturity Factoring)
Bao thanh toán đến hạn cung cấp tất cả các chức năng của bao thanh toán trừ
chức năng tài trợ. Nghĩa là trong hình thức bao thanh toán này, đơn vị bao thanh
toán thực hiện việc theo dõi sổ sách bán hàng của người bán, theo dõi các khoản
phải thu và thu nợ hộ người bán khi đến hạn. Đơn vị bao thanh toán làm tất cả các
nghiệp vụ có liên quan đến dịch vụ bao thanh toán trừ việc tạm ứng tiền cho các
khoản phải thu của người bán.
Bao thanh toán thu hộ (HAC: hot and cold backup and collections)
Bao thanh toán thu hộ là dịch vụ bao thanh toán chỉ cung cấp chức năng thu
hộ các khoản phải thu phát sinh trong một khoảng thời gian nhất định. Trước ngày
12
đơn vị bao thanh toán đồng ý cung cấp dịch vụ, trách nhiệm theo dõi sổ sách và thu
nợ thuộc về người bán. Đơn vị bao thanh toán chỉ thu hộ tất cả các khoản phải thu
hiện có tại thời điểm đồng ý cung cấp dịch vụ và sẽ không thu những khoản phải
thu phát sinh sau thời điểm đó.
Bao thanh toán có truy đòi (With recourse Factoring)
Bao thanh toán có truy đòi là dịch vụ bao thanh toán cung cấp tất cả các chức
năng bao thanh toán trừ chức năng bảo hiểm rủi ro tín dụng. Nếu các khoản phải thu
đến hạn mà đơn vị bao thanh toán vẫn không thu hồi được từ người mua thì đơn vị
bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho người bán cùng với lãi
suất ứng trước.
Bao thanh toán miễn truy đòi (Without recourse Factoring)
Bao thanh toán có truy đòi là dịch vụ bao thanh toán cung cấp chức năng bảo

Bao thanh toán nhập khẩu thường áp dụng khi khối lượng xuất khẩu lớn. Bao
thanh toán nhập khẩu giúp tiết kiệm thời gian thu nợ nhưng không phục vụ mục
đích cung cấp tài chính cho người xuất khẩu. Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chỉ
cung cấp dịch vụ thu nợ và bảo hiểm rủi ro khi người nhập khẩu mất khả năng
thanh toán.
Bao thanh toán xuất khẩu
Bao thanh toán xuất khẩu: là dịch vụ bao thanh toán mà người xuất khẩu
chuyển nhượng nợ cho một đơn vị bao thanh toán ở ngay nước người xuất khẩu.
Đơn vị bao thanh toán cung cấp chức năng tài trợ và bảo hiểm rủi ro khi người nhập
khẩu mất khả năng thanh toán. Để bảo hiểm rủi ro, đơn vị bao thanh toán phải mua
bảo hiểm tín dụng.
Bao thanh toán xuất khẩu cung cấp các tiện ích như: bảo đảm 100% rủi ro tín
dụng trong trường hợp người nhập khẩu mất khả năng chi trả; ứng trước cho những
hoá đơn được chấp nhận và quản lý sổ cái bán hàng của người xuất khẩu. Ưu điểm
của bao thanh toán xuất khẩu là chi phí thấp, liên lạc giữa người xuất khẩu và đơn
vị bao thanh toán chặt chẽ. Nhưng lại có hạn chế là khả năng nắm bắt thông tin về
người nhập khẩu, luật pháp và tập quán của nước nhập khẩu kém.
14
Thực chất bao thanh toán xuất khẩu và bao thanh toán nhập khẩu đều cùng
thuộc một hệ thống gọi là hệ thống hai đơn vị bao thanh toán trong bao thanh toán
quốc tế.
1.1.3.5 Phân loại theo phạm vi giao dịch
Căn cứ vào phạm vi giao dịch của đơn vị bao thanh toán với người mua hàng
bao thanh toán được chia thành 2 loại.
Bao thanh toán kín
Bao thanh toán kín là dịch vụ bao thanh toán mà trong đó người bán đã
chuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán nhưng không thông
báo cho người mua biết. Người mua vẫn thanh toán tiền hàng cho người bán và
người bán lại chuyển số tiền này cho đơn vị bao thanh toán.
Bao thanh toán công khai

1.2 Quy trình nghiệp vụ bao thanh toán
1.2.1 Quy trình bao thanh toán nội địa
1. Người bán và người mua ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
2. Người bán đề nghị đơn vị bao thanh toán ký kết hợp đồng bao thanh toán
dựa trên các khoản phải thu của hợp đồng mua bán hàng hóa.
3. Đơn vị bao thanh toán tiến hành thẩm định khả năng thanh toán của người mua.
4. Đơn vị bao thanh toán thông báo đồng ý ký kết hợp đồng bao thanh toán với
nguời bán trên cơ sở kết quả thẩm định.
16
6
5
1
9 10
2 34
Đơn vị bao thanh toán
Bên bán
Bên mua
7811
5. Đơn vị bao thanh toán và người bán ký kết hợp đồng bao thanh toán.
6. Người mua, người bán thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
7. Người bán chuyển giao chứng từ gốc hợp đồng mua bán hàng hóa và các
chứng từ liên quan khác cho đơn vị bao thanh toán.
8. Đơn vị bao thanh toán ứng trước cho người bán một phần tiền mặt theo thỏa
thuận đã ký trong hợp đồng bao thanh toán.
9. Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán sẽ thu nợ từ người mua hàng.
10. Người mua thanh toán tiền hàn cho đơn vị bao thanh toán.
11. Đơn vị bao thanh toán tất toán với người bán phần giá trị còn lại của khoản
phải thu.
1.2.2 Quy trình bao thanh toán quốc tế (bao thanh toán xuất nhập khẩu)
1. Người bán và người mua ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa.

5. Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chấp nhận tham gia bao thanh toán với
đơn vị bao thanh toán xuất khẩu. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chấp nhận ký kết
hợp đồng bao thanh toán cho người bán.
6. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và người bán ký kết hợp đồng bao thanh toán.
7. Người bán và người mua thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
8. Người bán chuyển giao chứng từ gốc của hợp đồng mua bán hàng hóa và
các chứng từ liên quan khác cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu.
9. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển nhượng các chứng từ cần thiết cho
đơn vị bao thanh toán nhập khẩu.
10. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển tiền ứng trước cho người bán
theo hợp đồng bao thanh toán đã ký.
11. Đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thu hồi nợ từ phía
người mua, người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu.
12. Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thanh toán tiền cho đơn vị bao thanh
toán xuất khẩu sau khi đã trừ các khoản phí.
13. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu tất toán nốt số tiền còn lại với người bán
trên cơ sở hợp đồng bao thanh toán đã ký giữa hai bên.
Từ quy trình hệ thống hai đơn vị bao thanh toán có thể thấy rằng hệ thống này
có sự tham gia của cả đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và đơn vị bao thanh toán
nhập khẩu. Trong đó đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chỉ cung cấp 2 dịch vụ chính
là đảm bảo rủi ro thanh toán khi người nhập khẩu mất khả năng thanh toán và thu
hộ các khoản phải thu, còn việc tài trợ các khoản phải thu cho người xuất khẩu và
cung cấp các dịch vụ khác như đảm bảo rủi ro tín dụng cho người xuất khẩu, quản
lý sổ sách bán hàng cho người xuất khẩu và thu nợ hộ do đơn vị bao thanh toán xuất
khẩu đảm nhiệm.
Có thể thấy rẳng hoạt động bao thanh toán xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào mối
quan hệ giữa đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và đơn vị bao thanh toán nhập khẩu.
Nếu đơn vị bao thanh toán xuất khẩu lựa chọng được một đơn vị bao thanh toán
nhập khẩu có uy tín sẽ đảm bảo hiệu quả tốt hơn đối với hoạt động bao thanh toán.
18

cho khách hàng. Hạn mức tăng trưởng tín dụng của từng ngân hang cũng bao gồm
trong đó mức tăng trưởng của dịch vụ ứng trước trong bao thanh toán. Điều này dẫn
tới việc phát triển dịch vụ bao thanh toán sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của dịch
vụ cho vay ngắn hạn, vì nếu bao thanh toán phát triển quá nhanh, mức ứng trước
của ngân hàng trong bao thanh toán quá lớn sẽ dẫn đến buộc phải thu hẹp cho vay
ngắn hạn vì dư nợ cho vay của một ngân hàng là một mức xác định. Vì thế buộc các
ngân hang trong chiến lược phát triển dịch vụ bao thanh toán sẽ phải cân nhắc hy
sinh sự phát triển cho dịch vụ khác, cụ thể ở đây là dịch vụ cho vay ngắn hạn.
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ bao thanh toán
Sự phát triển dịch vụ bao thanh toán có thể được đánh giá qua chỉ tiêu phát triển
quy mô bao thanh toán và chỉ tiêu phát triển chất lượng dịch vụ bao thanh toán.
a. Chỉ tiêu phát triển quy mô bao thanh toán
Khi một ngân hàng phát triển quy mô dịch vụ này, điều đó được định lượng
qua một số chỉ tiêu sau:
1) Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán:
Chỉ tiêu này phản ánh sự tăng trưởng về nghiệp vụ bao thanh toán qua các
năm của đơn vị bao thanh toán và phần nào phản ánh doanh thu, lợi nhuận thu được
từ nghiệp vụ bao thanh toán của đơn vị bao thanh toán.
Doanh số bao thanh toán = Số lượng khách hàng thực hiện x giá trị từng món
bao thanh toán
Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán năm (t+1) = Doanh số bao thanh
toán năm (t+1)/Doanh số bao thanh toán năm (t).
2) Số lượng khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ bao thanh toán:
Nếu như số lượng này càng đông đảo, chứng tỏ càng nhiều doanh nghiệp và
khách hàng biết đến loại hình dịch vụ này, cũng như nhu cầu sử dụng dịch vụ này
đã tăng lên. Số lượng khách hàng còn cho chúng ta biết uy tín, tính cạnh tranh, thị
phần của đơn vị bao thanh toán
b. Chỉ tiêu phát triển chất lượng dịch vụ bao thanh toán
Chất lượng dịch vụ bao thanh toán cung ứng được đánh giá thông qua mức độ
hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ này. Thông thường, mức độ hài lòng

21
khách hàng mới thực sự yên tâm sử dụng dịch vụ và tin tưởng vào chất lượng dịch
vụ bao thanh toán tại ngân hàng mà họ sử dụng dịch vụ.
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ bao thanh toán
Bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính đặc thù. Sự phát triển của nó
chịu sự tác động của nhiều nhân tố bao gồm:
a. Nhân tố bên ngoài
1) Cầu của doanh nghiệp về dịch vụ bao thanh toán
Xuất phát từ chính nhu cầu thực tế trong hoạt động thương mại giữa các doanh
nghiệp mà xuất hiện nhu cầu về dịch vụ bao thanh toán. Nói cách khác, bao thanh
toán chỉ có thể phát triển được khi doanh nghiệp có nhu cầu về sử dụng dịch vụ này.
Trên thực tế, nhu cầu của doanh nghiệp về thu hộ nợ, quản lý nợ xấu, tài trợ vốn là
rất lớn song không phải doanh nghiệp nào cũng chấp nhận sử dụng dịch vụ bao
thanh toán. Lý do là vì doanh nghiệp còn phải cân nhắc tới nhiều yếu tố được-mất
khi sử dụng dịch vụ này, đó là sự cân nhắc trước thu hồi nợ đúng hạn, không mất
chi phí nhân công, chi phí quản lý các khoản phải thu, nhận được sự bảo đảm chắc
chắn về thu hồi nợ…vv với chi phí cao, lãi suất ứng trước, sự ảnh hưởng tới mối
quan hệ bạn hàng khi sử dụng dịch vụ này…vv.
2) Vấn đề nhận thức, thói quen, tập quán
Khi nhận thức của người dân và doanh nghiệp về dịch vụ bao thanh toán
trở nên sâu sắc, doanh nghiệp nhận thấy tầm quan trọng và lợi ích của dịch vụ
bao thanh toán mang lại cho họ là cần thiết, họ sẽ cân nhắc đến việc sử dụng
dịch vụ này.
Tương tự như vậy, ở một số thị trường doanh nghiệp có thói quen và tập quán
sử dụng dịch vụ bao thanh toán, ví dụ như thị trường Trung Quốc gần đây, song ở
một số thị trường khác, doanh nghiệp không có thói quen sử dụng dịch vụ này vì họ
không sử dụng phương thức thanh toán trả chậm (ghi sổ) như Ấn Độ chẳng hạn thì
việc phát triển dịch vụ này thực sự khó khăn đối với các ngân hàng cho dù các ngân
hàng có cố gắng đến mấy.
22

Trên thế giới hiện nay có hơn 1.809 đơn vị bao thanh toán đang hoạt động.
Trong đó có 247 đơn vị bao thanh toán hình thành từ 66 quốc gia là thành viên của
Hiệp Hội Bao thanh toán quốc tế (FCI). Theo số liệu thống kê của FCI, doanh thu
bao thanh toán thế giới tăng hàng năm. Cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Doanh số bao thanh toán trên thế giới
Đơn vị: Triệu EUR
Năm Doanh số BTT nội địa Doanh số BTT quốc tế Tổng số
2002 681.281 42.916 724.197
2003 712.657 47.735 760.392
2004 791.950 68.265 860.215
2005 930.061 86.486 860.215
2006 1.030.598 103.690 1.134.288
2007 1.153.131 145.996 1.299.127
2008 1.148.943 176.168 1.325.111
2009 1.118.100 165.459 1.283.559
(Nguồn từ FCI: www. factors-chain.com)
Từ bảng số liệu trên, ta thấy doanh số bao thanh toán không ngừng gia tăng
theo thời gian. Điều này chứng tỏ, các bên tham gia giao dịch ngày càng nhận ra lợi
ích đáng kể mà dịch vụ này mang lại. Trong đó, tỷ trọng doanh thu của bao thanh
toán quốc tế còn khá khiêm tốn so với doanh số bao thanh toán nội địa. Tuy nhiên
tỷ lệ này tăng dần theo thời gian: năm 2003 là 6,69%, năm 2004 là 8,62%, năm
2005 là 9,29%, năm 2006 là 10,06%, năm 2007 là 12,66%, năm 2008 là 15,33%,
năm 2009 là 14,80%. Điều này nói lên sự phát triển khá mạnh của bao thanh toán
quốc tế cũng như việc nhận ra tầm quan trọng của bao thanh toán đối với hoạt
động xuất nhập khẩu. Trong tương lai, doanh số bao thanh toán quốc tế sẽ tiếp
tục tăng mạnh.
Bảng 1.2: Doanh số bao thanh toán của một số thị trường bao thanh toán
trên thế giới
Đơn vị: Triệu EUR
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status