1
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, nội dung công trình nghiên cứu khoa học là của riêng
tôi, không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học của tác giả khác.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Gia Lộc, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Lam
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn, ngoài những cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều
tập thể và cá nhân trong và ngoài trường đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
bản luận văn này.
Tôi xin được trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của các thầy
cô khoa sau đại học. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc tới
TS Nguyễn Thanh Huyền, người đã tận tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Gia Lộc, các phòng ban
chức năng của huyện Gia Lộc, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện
và đặc biệt tập thể lãnh đạo, cán bộ chuyên viên phòng Tài chính - Kế hoạch huyện
Gia Lộc - Tỉnh Hải Dương đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi
học tập và thực hiện luận văn.
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, động viên của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè.
Kinh tế xã hội
Ngân sách nhà nước
Phòng chống tham nhũng
Sự nghiệp giáo dục
Sự nghiệp kinh tế
Tài chính – Kế hoạch
Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Ủy ban nhân dân
Xây dựng cơ bản
5
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, PHỤ LỤC
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Hệ thống tổ chức thực hiện quản lý chi ngân sách huyện
BẢNG
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
NSNN là công cụ vật chất quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của NSNN là động viên hợp lý các nguồn thu đồng
thời tổ chức và quản lý chi tiêu NSNN, cân đối thu - chi. Trong những năm gần đây,
nợ công là một vấn đề đang được nhà nước Việt Nam cùng toàn dân rất quan tâm
bởi tỷ lệ nợ công ngày càng lớn qua từng năm. Chi ngân sách nhiều hơn thu, chi
thường xuyên chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt chi cho bộ máy quản lý hành chính, hiệu quả
của chi đầu tư phát triển chưa cao,...vv dẫn đến tỷ lệ nợ công ngày càng lớn. Công
tác quản lý thu chi NSNN có vai trò quyết định trong vấn đề này. Trong đó quản lý
chi NSNN là một trong những yếu tố quyết định việc đầu tư và chi tiêu ngân sách
đầu tư công, Luật xây dưng,... công tác quản lý chi NSNN cấp huyện sẽ chịu ảnh
hưởng trực tiếp từ văn bản pháp luật. Do vậy, để chính quyền huyện thực thi được
hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế xã hội mà nhà nước giao, xây dựng và phát triển
kinh tế địa phương trên mọi lĩnh vực thì cần một ngân sách huyện đủ mạnh, công
khai, minh bạch và phù hợp là mục tiêu phấn đấu, là đòi hỏi cần thiết đối với huyện
Gia Lộc.
Xuất phát từ thực tiễn và vai trò của quản lý chi NSNN nói trên tôi lựa chọn
và nghiên cứu đề tài: Quản lý chi NSNN huyện Gia Lộc, tỉnh Hải dương cho luận
văn Thạc sỹ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu công tác quản lý NSNN nói chung và công tác quản lý chi
NSNN cấp huyện nói riêng có nhiều công trình nghiên cứu:
2.1. Các nghiên cứu chung về công tác quản lý NSNN.
- Lê Thành Công (2014), Tổ chức hệ thống NSNN ở Mỹ và bài học kinh
nghiệm về tổ chức chi ngân sách theo mục tiêu ở Việt Nam, Viện Kinh Tế và
Thương Mại Quốc Tế của Trường Đại học Ngoại thương, truy cập ngày 4 tháng 11
năm 2014,( Trong nghiên cứu này tác giả đã
khái quát được hệ thống NSNN ở Mỹ và qua đó liên hệ tới hệ thống tổ chức chi
ngân sách của Việt nam, đưa ra các kinh nghiệm trong việc tổ chức chi Ngân sách.
Thời điểm nghiên cứu cập nhật mới.
- Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc”, Nguyễn Thị Thùy Dương, trường Đại học kinh tế, năm 2007. Tác giả đã hệ
thống và khái quát các lý thuyết về ngân sách nói chung và ngân sách cấp tỉnh nói
riêng, phân tích được thực trạng quản lý ngân sách tỉnh Vĩnh Phúc và đưa ra các
giải pháp cơ bản để tăng hiệu quả quản lý thu chi ngân sách tỉnh Vĩnh Phúc.
- Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý NSNN huyện Phù Cát, tỉnh Bình
Định”, Phạm Văn Thịnh, trường Đại học Đà Nẵng, năm 2011. Tác giả đã nghiên cứu
thực trạng công tác quản lý NSNN của huyện Phù Cát từ năm 2007 đến 2010, đánh
giá được các mặt đạt được và mặt hạn chế trong công tác xây dựng lập dự toán,
- Quản lý chi NSNN cấp huyện là gì? Quản lý chi ngân sách cấp huyện gồm
những nội dung nào? Nguyên tắc khi quản lý chi NSNN huyện?
- Tình hình quản lý chi NSNN huyện Gia Lộc qua những năm gần đây như thế
nào? Công tác lập dự toán chi ngân sách có phù hợp với quy định và tình hình thực
tiễn? Việc thực hiện dự toán chi ngân sách có hiệu quả? Công tác kiểm tra, giám sát
việc chấp hành dự toán như thế nào?
9
- Những mặt mạnh, đạt được và các mặt hạn chế cần khắc phục trong công tác
quản lý chi NSNN huyện Gia Lộc là gì?
- Những biện pháp nào có thể khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý
chi NSNN huyện Gia Lộc? Đánh giá từng biện pháp?
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng công tác quản lý chi
NSNN huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị
nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN huyện Gia Lộc ngày càng hoàn thiện
hơn.
4.2. Nhiệm vụ nghien cứu:
Trên cơ sở mục đích và các câu hỏi nghiên cứu ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu cụ
thể của luận văn là:
- Hệ thống những lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN nói chung và chi
NSNN cấp huyện nói riêng.
- Thu thập dữ liệu về tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện Gia Lộc; các số
liệu về lập dự toán; chấp hành dự toán; quyết toán chi NSNN huyện Gia Lộc.
- Phân tích dữ liệu, so sánh dữ liệu qua các năm để nhận xét, đánh giá thực
trạng quản lý chi NSNN huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của công tác quản lý chi NSNN huyên
Gia Lộc.
Dương
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
11
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI NSNN
VÀ QUẢN LÝ CHI NSNN HUYỆN
1.1. Tổng quan về chi NSNN.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm chi NSNN.
1.1.1.1. Khái niệm chi NSNN.
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước[20]
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực
hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN là
quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa
chúng đến mục đích sử dụng[20].Vì thế chi NSNN là những việc cụ thể, không
dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và
từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước.
Hai quá trình trong chi NSNN: quá trình phân phối và quá trình sử dụng, cần
được phân biệt rõ ràng bởi nó có ý nghĩa quan trọng trong quản lý NSNN.
Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành
các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ
NSNN mà không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
Ví dụ việc chi dùng quỹ NSNN cho đầu tư XDCB, hoặc các chương trình kinh tế có
mục tiêu.... Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình đó.
dạng. Do vậy, nó tác động mạnh mẽ đến môi trường tài chính, vĩ mô, đền tổng cung,
tổng cầu về vốn tiền tệ. Nếu thu, chi NSNN cân đối được, về cơ bản cân bằng tổng
cung tổng cầu về tài chính và do đó, tổng cung tổng cầu về hàng hóa, dịch vụ của xã
hội sẽ ổn định.
Những đặc điểm của chi NSNN cần được nhận thức đầy đủ trong quản lý và tổ
chức thực hiện các khoản chi NSNN.
1.1.2. Phân loại chi NSNN.
1.1.2.1. Căn cứ vào mục đích, nội dung của chi NSNN.
Căn cứ vào mục đích, nội dung của chi NSNN có thể phân loại chi NSNN
thành hai nhóm: Nhóm chi tích lũy và nhóm chi tiêu dùng.
Nhóm chi tích lũy của NSNN là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và
tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển
và các khoản tích lũy khác
Nhóm chi tiêu dùng của NSNN là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật
chất để tiêu dùng trong tương lai, bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý
hành chính, quốc phòng, an ninh....
1.1.2.2. Căn cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý.
Căn cứ vào yếu tố thời hạn và phương thức quản lý thì chi NSNN được phân
13
thành các nhóm:
Nhóm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động
thường xuyên của nhà nước;
Nhóm chi đầu tư phát triển là các khoản chi dài hạn nhằm làm tăng cơ sở vật
chất của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;
Nhóm chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện
nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các
14
hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.
Chi NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư: Nền
KTTT với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đền sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng
lớp dân cư, Nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm
giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. Chi NSNN là công cụ
tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập thông qua các
khoản chi của NSNN như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển
KT-XH: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hóa
gia đình...là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp.
Các vai trò của chi NSNN cho thấy tính chất quan trọng của chi NSNN, với
các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối vối toàn bộ hoạt
động của nền kinh tế.
1.1.4. Các nội dung của chi NSNN:
Chi ngân sách, một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất
lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Chi ngân sách bao gồm chi thường xuyên,
chi đầu tư phát triển và chi khác.
1.1.4.1. Chi thường xuyên.
Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN để
đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về
lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước phải
cung ứng.
Chi thường xuyên của NSNN có các đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ
nét. Do các chức năng vốn có của Nhà nước: bạo lực, trấn áp và tổ chức quản lý các
hoạt động kinh tế - xã hội đều đòi hỏi phải thực thi cho dù có sự thay đổi về thể chế
chính trị. Mặt khác, tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn
định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi bộ phận cụ thể trong guồng máy của Nhà
nước phải thực hiện.
- Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: Việc thành lập các
đơn vị sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho hoạt động của mỗi ngành và phục vụ chung
cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân là hết sức cần thiết. Trong điều kiện của nước ta
hiện nay, hầu như ngành nào cũng có một số đơn vị sự nghiệp kinh tế do ngành đó
quản lý. Tuy nhiên, kết quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế này tạo ra
không nhất thiết chỉ mang lại lợi ích riêng cho một ngành đó, mà nhiều khi mang lại
lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ví dụ: Các đơn vị sự nghiệp giao
thông, sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp và lâm nghiệp, sự nghiệp định
canh, định cư và kinh tế mới...
- Chi cho các hoạt động quản lý Nhà nước: Đó là các khoản chi cho hoạt động
của Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND các cấp, viện kiểm soát và Tòa án nhân dân.
- Chi cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và cá tổ chức khác
được cấp kinh phí từ NSNN: Được xếp vào các tổ chức này, bao gồm: Đảng cộng
16
sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - đoàn thể - xã hội như Đoàn thanh niên
CSHCM, Mặt trận tổ quốc, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội liên hiệp phụ
nữ,... Đây là nét đặc thù trong cơ cấu chi thường xuyên ở nước ta.
- Chi cho quốc phòng - an ninh và trật tự, an toàn xã hội: Phần lớn số chi NSNN
cho quốc phòng an ninh được tính vào cơ cấu chi thường xuyên của NSNN (trừ chi đầu
tư XDCB cho các công trình quốc phòng, an ninh). Sở dĩ như vậy là do nhu cầu chi
cho quốc phòng - an ninh được coi là tất yếu và phải thường xuyên quan tâm khi còn
tồn tại giai cấp, tồn tại nhà nước ở mỗi quốc gia riêng biệt. Chi cho quốc phòng an ninh
gồm: Chi lương và phụ cấp cho binh sỹ, sỹ quan,.. gọi chung là chi cho con người; cho
vũ khí; khí tài chuyên dụng của các lực lượng vũ trang....
- Chi khác: Ngoài các khoản chi lớn đã được sắp xếp vào 5 lĩnh vực trên, còn
có một số khoản chi khác cũng được xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như: Chi trợ
giá theo chính sách của Nhà nước, chi hỗ trợ quĩ BHXH, chi thường xuyên thuộc
các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước,.... Đây là những khoản chi
tảng vật chất đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xà hội, làm tăng tổng
sản phẩm quốc nội. Với ý nghĩa đó, chi đầu tư phát triển của NSNN là chi tích lũy.
- Thứ ba, phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của NSNN luôn gắn với
việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong
từng thời kỳ. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ có
ý nghĩa quyết định đến mức độ và thứ tự ưu tiên chi NSNN cho đầu tư phát triển.
Chi đầu tư phát triển của NSNN gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nhằm
đảm bảo phục vụ tốt nhất việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và hiệu
quả chi đầu tư phát triển.
Chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm nhiều khoản chi với những mục đích
khác nhau, có tính chất và đặc điểm khác nhau. Để phục vụ cho công tác quản lý,
người ta có thể dựa vào những tiêu thức nhất định sau:
- Căn cứ vào mục đích các khoản chi thì chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm:
+ Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có
khả năng thu hồi vốn, gồm: Các công trình giao thông, các công trình thủy lợi; các
công trình bưu chính viễn thông, điện lực, các công trình giáo dục, khoa học công
nghệ; y tế, văn hóa, công sở, ...
+ Chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các tổ
chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
+ Chi dự trữ Nhà nước: là khoản chi để mua hàng hóa vật tư dự trữ Nhà nước
có tính chiến lược quốc gia hoặc hàng hóa, vật tư dự trữ Nhà nước mang tính chất
chuyên ngành.
+ Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà
nước như chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình mục tiêu nông thôn mới,
dự án định canh, định cư....
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác.
- Căn cứ vào tính chất các hoạt động của đầu tư phát triển:
Quá trình tác động và điều chỉnh của Nhà nước được hiểu là: quá trình vận dụng các
chứng năng Nhà nước để hoạch định chiến lược, kế hoạch, chính sách, chế độ liên
quan đến chi của Nhà nước; là việc vận dụng các phương pháp thích hợp tác động
đến quá trình chi của Nhà nước phù hợp với yêu cầu khách quan cũng như điều kiện
của đất nước trong từng thời kỳ. Quá trình vận dụng các phương pháp thích hợp
thực hiện thanh tra, kiểm tra bảo đảm cho quá trình chi của Nhà nước đúng pháp
19
luật, chống các hiện tượng tiêu cực.
Ngân sách huyện là quỹ tiền tệ tập trung của huyện được hình thành bằng các
nguồn thu, đảm bảo các nhiệm vụ chi trong phạm vi của huyện . Do vậy quản lý chi
NSNN cấp huyện là toàn bộ quá trình lập dự toán, chấp hành dự toán, kiểm soát và
quyết toán chi NSNN cấp huyện theo đúng quy định của pháp luật, nhằm sử dụng
NSNN đúng mục đích, có hiệu quả, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển
KTXH trên địa bàn huyện.
* Đối tượng quản lý chi NSNN cấp huyện: là toàn bộ các khoản chi ngân sách
cấp huyện trong năm tài khóa được bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của UBND huyện trong từng giai đoạn nhất định.
* Mục tiêu của quản lý chi NSNN huyện:
- Mục tiêu tổng quát trong việc điều hành NSNN nói chung hay quản lý chi
NSNN nói riêng, đó chính là thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững trong điều
kiện sử dụng nguồn lực hiệu quả, tiết kiệm, thực hiện công bằng xã hội và đảm bảo
các mục tiêu chính trị xã hội, ANQP, đối ngoại. Mục tiêu này được thiết lập phù hợp
với chiến lược, nhiệm vụ phát triển KTXH của đất nước trong từng thời kỳ.
- Mục tiêu của quản lý chi NSNN cấp huyện đó là phải mang lại một kết quả
tốt nhất về phát triển KTXH, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích kinh
tế giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể khác trong xã hội, đáp ứng
được các nhiệm vụ phát triển KTXH của huyện. Mục tiêu cụ thể của quản lý chi
ngân sách cấp huyện:
trạng bội chi ngân sách, nguyên nhân gây mất ổn định cho sự phát triển KTXH, ổn
định chính trị của huyện.
- Đảm bảo yêu cầu cần tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các khoản chi
tiêu của NSNN huyện. Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc chỉ đạo của mọi hoạt
động kinh tế, tài chính. Các khoản chi NSNN huyện nói chung có đặc điểm là bao
cấp với khối lượng chi tiêu tương đối lớn. Trong thực tế, trải qua một thời gian dài
với quan điểm chi với bất cứ giá nào đã gây ra tình trạng lãng phí, kém hiệu quả
trong việc sử dụng các khoản chi NSNN huyện, đặc biệt là các khoản chi XDCB.
Mặt khác, trong xu hướng hiện nay tỷ trọng của các khoản chi NSNN huyện cho
tiêu dùng ngày càng lớn, cho nên xét ở góc độ thuần túy về mặt kinh tế thì đó là các
khoản chi không sinh lợi, chính vì vậy nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả trong chi ngân
sách cần phải được quan tâm.
- Cấp phát ngân sách và sử dụng nguồn vốn NSNN huyện phải có dự toán.
Tuân thủ nguyên tắc này nhằm tạo tiền đề cần thiết cho việc bảo đảm tính cân đối
trong quá trình phát triển KTXH và là cơ sở để thực hiện nguyên tắc tiết kiệm trong
chi NSNN huyện. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi khoản chi tiêu của NSNN huyện phải
được thực hiện trên cơ sở những dự toán có cơ sở và thực tiễn. Trên thực tế việc lập
dự toán chi NSNN huyện vừa phải đảm bảo tính chính xác nhất định vừa phải có
tính thực tế thích ứng với sự biến động của tình hình kinh tế tài chính hiện tại. Điều
đó có thể được thực hiện bằng cách nắm chắc những diễn biết của các nhân tố ảnh
hưởng đến dự toán chi ngân sách huyện từ đó kịp thời điều chỉnh dự toán theo
21
những quy định chặt chẽ của Luật ngân sách.
- Chi NSNN huyện theo những mục tiêu quy định. Tuân thủ nguyên tắc này
vừa đảm bảo phương tiện tài chính cho việc thực hiện các chương trình KTXH đã
được Nhà nước hoạch định, tránh sử dụng NSNN huyện một cách tùy tiện, lãng phí,
không hiệu quả. Tính mục tiêu của việc cấp phát, sử dụng nguồn vốn ngân sách
được xem xét dưới hai dạng: Mục tiêu theo ngành và mục tiêu theo loại chi. Việc sử
22
ngân sách cấp huyện, phê chuẩn quyết toán ngân sách cấp huyện, quyết định các
chủ trương, biện pháp để thực hiện ngân sách huyện, quyết định điều chỉ bổ sung
ngân sách cấp huyện trong các trường hợp cần thiết, giám sát việc thực hiện ngân
sách đã được HĐND quyết định.
- UBND huyện: tổ chức quản lý thống nhất ngân sách huyện và các hoạt động
tài chính khác của huyện, gồm: Lập dự toán ngân sách cấp huyện, phương án phân
bổ ngân sách cấp huyện, quản lý thu, chi ngân sách huyện, và quyết toán ngân sách
huyện.
- Phòng TCKH: là cơ quan tham mưu giúp UBND huyện trong việc tổng hợp
dự toán ngân sách huyện và phương án phân bổ dự toán ngân sách huyện, quản lý
thu, chi ngân sách huyện, và quyết toán ngân sách huyện.
- KBNN huyện: là cơ quan kiểm soát chi NSNN theo quy định luật NSNN.
Các nội dung của quản lý chi NSNN cấp huyện bao gồm: Lập dự toán chi NSNN;
chấp hành dự toán chi NSNN; Quyết toán chi NSNN và Kiểm soát chi NSNN.
1.2.4.1. Lập dự toán chi NSNN huyện.
Thứ nhất, hiểu thế nào là lập dự toán chi NSNN huyện: Lập dự toán chi
NSNN là quá trình đánh giá, phân tích nhu cầu chi trên cơ sở cân đối nguồn thu để
từ đó xác định các chỉ tiêu, cơ cấu chi cho phù hợp.
Lập dự toán chi NSNN huyện cũng tương tự như lập dự toán chi NSNN nói
chung về phương pháp và nội dung, đều bao gồm: Lập dự toán chi đầu tư phát triển,
lập dự toán chi thường xuyên, và lập dự toán chi khác ngân sách, tuy nhiên về phạm
vi thì nhỏ hẹp hơn. Lập dự toán chi NSNN nói chung và lập dự toán chi NSNN
huyện nói riêng là khâu đầu tiên quan trọng, là giai đoạn khởi đầu trong một quá
trình ngân sách, tạo tiền đề cơ sở cho các khâu tiếp theo, nếu việc lập dự toán
NSNN huyện được thực hiện có đầy đủ cơ sở khoa học và phù hợp thực tiễn, đảm
bảo đúng tiến độ, thời gian quy định thì việc thực hiện NSNN huyện và quyết toán
NSNN huyện sẽ rất chất lượng và hiệu quả, chính vì vậy việc lập dự toán NSNN
huyện phải được đặt trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng với các giai đoạn
thị trấn lập tờ trình về việc hỗ trợ nguồn vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách huyện
gửi về UBND huyện. Phòng TCKH là đầu mối tiếp nhận các tờ trình trên và thực
hiện tổng hợp. Căn cứ vào các mục tiêu, định hướng phát triển KTXH của năm kế
hoạch, khả năng ngân sách huyện dành cho chi đầu tư XDCB, tiến độ thực hiện dự
án, tỉ lệ cơ cấu ngân sách huyện trong Quyết định cho phép lập dự án đầu tư, Phòng
TCKH tham mưu UBND huyện phân bổ vốn đầu tư cho các dự án đủ điều kiện trình
HĐND huyện phê chuẩn. Căn cứ Nghị quyết của HĐND huyện, UBND huyện
quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý theo quy
định Luật NSNN và các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư XDCB.
Sau khi phân bổ vốn đầu tư, UBND huyện gửi kế hoạch vốn đầu tư đến Sở Kế
hoạch và Đầu tư, sở Tài chính để báo cáo, tiến hành giao kế hoạch vốn cho các chủ
đầu tư để thực hiện, đồng thời gửi phòng TCKH, KBNN để theo dõi, điều hành,
kiểm soát và thanh toán vốn đầu tư.
24
+ Điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư: Trong quá trình thực hiện kế hoạch vốn
đầu tư, Phòng TCKH phối hợp với KBNN huyện, hướng dẫn các chủ đầu tư đẩy
nhanh tiến độ thực hiện dự án và giải ngân kịp thời kế hoạch vốn đầu tư, đồng thời
tiến hành rà soát, tham mưu UBND huyện trình HĐND huyện điều chỉnh kế hoạch
vốn đầu tư đối với những dự án không có khả năng thực hiện sang cho những dự án
có khả năng thực hiện.
- Dự toán chi thường xuyên:
+ Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên cấp huyện:
Để lập dự toán chi thường xuyên cấp huyện, cần căn cứ vào chủ trương của
Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động thuộc bộ máy quản lý Nhà nước
các cấp trong đó đặc biệt là cấp huyện, các hoạt động sự nghiệp, hoạt động
ANQP và các hoạt động xã hội khác trong từng giai đoạn nhất định. Dựa vào căn
cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi thường xuyên của NSNN cấp
huyện có một cách nhìn tổng quát về những mục tiêu và nhiệm vụ mà NSNN cấp
việc lập dự toán ngân sách đối với cấp huyện, cấp xã. UBND huyện chỉ đạo Phòng
TCKH huyện hướng dẫn các đơn vị dự toán cấp huyện, cấp xã lập dự toán NSNN
năm sau, trong đó có dự toán chi thường xuyên.
Trên cơ sở dự toán NSNN do các đơn vị dự toán cấp huyện, cấp xã trình,
Phòng TCKH huyện xem xét và tổng hợp dự toán chi NSNN cấp huyện, trong đó
có dự toán chi thường xuyên, trình UBND huyện xem xét. UBND huyện trình Ban
Thường vụ Huyện ủy thông qua và trình Sở Tài chính tổng hợp trên phạm vi toàn
tỉnh. UBND tỉnh xem xét trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy thông qua, trình HĐND
tỉnh quyết định dự toán NSNN cấp tỉnh. Sau khi HĐND tỉnh quyết định dự toán,
UBND tỉnh phân bổ dự toán ngân sách cấp huyện.
Trên cơ sở dự toán NSNN cấp huyện được UBND tỉnh phân bổ, UBND huyện
chỉ đạo phòng TCKH hướng dẫn các đơn vị dự toán cấp huyện, cấp xã hoàn chỉnh
dự toán, tổng hợp trình UBND huyện xem xét cho ý kiến chính thức. UBND huyện
trình Huyện ủy thông qua để trình HĐND huyện quyết định. Căn cứ Luật tổ chức
HĐND - UBND ngày 6/11/2003, Luật NSNN ngày 16/12/2002, trên cơ sở xem xét
báo cáo của UBND huyện về dự toán chi ngân sách địa phương, phương án phân bổ
NSNN cấp huyện, báo cáo thẩm tra của Ban KTXH- HĐND huyện và ý kiến của
đại biểu HĐND huyện, HĐND huyện phê chuẩn dự toán chi NSNN cấp huyện,
trong đó có dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện.
1.2.4.2. Chấp hành dự toán chi NSNN huyện
- Chấp hành dự toán chi NSNN huyện là quá trình thực hiện dự toán chi
NSNN huyện sau khi được các cấp có thẩm quyền thông qua theo những trật tự,
nguyên tắc nhất định, là khâu cốt yếu mang tính quyết định đối với một chu trình
ngân sách, nếu khâu lập dự toán chi NSNN huyện có tốt thì cũng đang là dự toán,
chúng có phục vụ tốt quá trình phát triển KTXH của địa phương hay không thì lại
tùy thuộc vào hoạt động chấp hành dự toán chi NSNN. Hoạt động chấp hành dự
toán chi NSNN huyện luôn có sự tham gia của Nhà nước cấp huyện, gắn với lợi ích