luận văn thạc sĩ quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần tiên phong – chi nhánh hà nội - Pdf 41

i

LỜI CAM ĐOAN
Với sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo và Ban
lãnh đạo Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Chi nhánh Hà Nội, tôi đã hoàn thành luận
văn. Tôi xin cam đoan những nghiên cứu trong luận văn là của riêng tôi. Các số liệu
được lấy từ thực tế Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Chi nhánh Hà Nội.

Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Học viên

Đỗ Thị Huệ


ii

MỤC LỤC
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1...........................................................................................32
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong...................................................33
2.1.1. Sự hình thành của bộ máy tổ chức................................................................................33
2.2.1. Giới thiệu hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại TPBank Hà Nội....................................42
2.3.1. Những kết quả đạt được trong quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Tiên Phong, chi nhánh Hà Nội.........................................................................................60
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân................................................................................................62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2...........................................................................................69
3.3.1. Đối với Nhà nước...........................................................................................................91
3.3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước.........................................................................................92

TÓM TẮT CHƯƠNG 3.............................................................................................94
KẾT LUẬN.................................................................................................................95

:
:

Trung tâm Thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước
Đơn vị kinh doanh/chi nhánh/phòng giao dịch
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại cổ phần
Thương mại Cổ phần
Tài sản bảo đảm
Tổ chức Tín dụng
Chuyên viên Quan hệ khách hàng
Chuyên viên thẩm định tín dụng
Ngân hàng Nhà Nước
Cán bộ tín dụng
Tổ chức kinh tế
Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong –

14.TP Hà Nội

:

15.QTRR

:

Quản trị rủi ro

16. NQH
17. DPRR

Biểu đồ 2.1: Dư nợ cho vay theo loại hình doanh nghiệp Error: Reference source not
found


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nghiệp vụ tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận
cho các Ngân hàng thương mại. Ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho các khách hàng
dưới hình thức cho vay có TSBĐ độc lập hoặc hình thành từ vốn vay hoặc tín chấp
(không có TSBĐ). Song cùng với đó, hoạt động tín dụng cũng là nguyên nhân chính
dẫn đến rủi ro thua lỗ của các NHTM. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân
hàng thường rất nặng nề: làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm
hoặc mất đi cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối
cùng làm tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân hàng. Bởi vậy, quản lý rủi ro tín
dụng trở thành nhiệm vụ quan trọng và thường trực trong hoạt động quản trị của
mỗi ngân hàng.
Rủi ro rín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn
toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm
thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra. Đứng trên quan điểm quản lý toàn bộ hoạt
động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng, một tỷ lệ tổn thất dự
kiến đối với hoạt động tín dụng phải luôn được xác định trong chiến lược hoạt động
chung. Khi ngân hàng kinh doanh với một mức tổn thất thấp hơn hoặc bằng mức tỷ
lệ tổn thất dự kiến thì đó là sự thành công trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Ngân hàng
phải bằng nhiều biện pháp tác động đến hoạt động tín dụng để hạn chế tối đa rủi ro
tín dụng nhằm góp phần đạt tới mục tiêu hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả trong
tăng trưởng.
Thực tiễn hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong,
Chi nhánh Hà Nội thời gian qua cũng cho thấy rủi ro tín dụng chưa được kiểm soát một

5. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến việc quản lý rủi ro
tín dụng tại các ngân hàng thương mại và đưa ra các giải pháp cho việc quản lý này.
Các đề tài nghiên cứu phần nào đã phản ánh thực trạng việc quản lý rủi ro tín dụng
tại ngân hàng, đưa ra các giải pháp mang tính khả thi và đạt được những kết quả
đáng ghi nhận. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần phải được làm rõ hơn trong
các nghiên cứu tiếp theo. Tiêu biểu có một số công trình sau:
- Học viện Ngân hàng năm 2014, có sinh viên Nguyễn Ngọc Thanh làm luận
văn tốt nghiệp với đề tài: “Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Chi nhánh Lê Ngọc Hân”. Luận văn đưa ra một
số lý luận cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng, từ đó
phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân
hàng Tiên Phong chi nhánh Lê Ngọc Hân.


3

- Học viện Ngân hàng năm 2013 có sinh viên Nguyễn Quốc Hưng làm luận
văn thạc sĩ với đề tài “ Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồng Hà” . Nội dung của đề tài
tập trung vào nghiên cứu về rủi ro tín dụng và đưa ra các giải pháp tăng cường quản
lý rủi ro tín dụng tại Agribank Hồng Hà.
- Năm 2013 tại Học viện Ngân hàng có sinh viên Nguyễn Thị Huyền Trang
làm luận văn tốt nghiệp với đề tài “ Tăng cường quản lý rủi ro đối với hoạt động
tín dụng có tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Quân đội, Chi nhánh Tây Hà Nội”. Luận văn đưa ra một số lý luận cơ
bản về tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay, rủi ro đối với hoạt động tín dụng này
và đưa ra các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro đối với hoạt động tín dụng có tài
sản bảo đảm hình thành từ vốn vay tại MB Tây Hà Nội.
- Học viện Ngân hàng năm 2010 có sinh viên Trịnh Xuân Vân Anh làm luận

thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Tiên Phong – Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Tiên Phong - Chi nhánh Hà Nội


5

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng
1.1.1. Khái niệm
Theo nghĩa hẹp, tín dụng là quan hệ vay mượn giữa người đi vay và người
cho vay về một lượng giá trị nhất định dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật.
Theo nghĩa rộng, tín dụng là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình chuyển quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định từ chủ thể này sang chủ
thể khác dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng
một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ khác.
1.1.2. Phân loại tín dụng
Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầu
của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân
loại chủ yếu:
a. Căn cứ theo mục đích tín dụng
- Tín dụng bất động sản: Đây là khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản bao gồm:
+ Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai

- Tín dụng không có tài sản bảo đảm: là loại tín dụng được cấp dựa trên uy tín
và khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng hoặc được bảo lãnh bằng uy tín
của bên thứ ba.
d. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay
- Tín dụng trả góp: là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi
vay định kỳ thành những khoản bằng nhau. Loại tín dụng này áp dụng cho những
khoản vay lớn và có thời hạn dài
- Tín dụng hoàn trả một lần: là loại tín dụng mà khách hàng chỉ hoàn trả vốn
gốc và lãi vay một lần khi đến hạn. Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay
nhỏ và có thời hạn ngắn.
- Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn
trả nợ vay bất cứ khi nào. Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay
thấu chi, thẻ tín dụng.
Ngoài những tiêu chí phân loại trên còn có nhiều tiêu chí phân loại tín dụng
ngân hàng khác nữa như căn cứ vào chủ thể vay vốn, căn cứ vào hình thái giá trị
của tín dụng, căn cứ vào xuất xứ tín dụng…Những cách phân loại này cho thấy tính
đa dạng trong sản phẩm tín dụng của ngân hàng và cho phép ngân hàng theo dõi rủi


7

ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm,
hạn mức, chính sách quản lý phù hợp.
1.2. Rủi ro tín dụng và quy trình quản lý rủi ro tín dung
1.2.1. Rủi ro tín dụng
a. Khái niệm
Rủi ro tín dụng là các tổn thất phát sinh từ việc khách hàng không trả được
đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không
đúng hạn sau khi được cấp các khoản tín dụng (cả trong và ngoại bảng)
Rủi ro tín dụng là khả năng tiềm ẩn có thể gây tổn thất về vốn và thu nhập


Rủi ro tập
trung


8

Rủi ro tín dụng có thể phân thành rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch
- Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung:
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ yếu tố riêng biệt mỗi chủ thể đi vay hay từ ngành
kinh tế
+ Rủi ro tập trung: là rủi ro xuất phát từ việc cho vay tập trung vào một số
khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại sản phẩm tín dụng hoặc một khu
vực địa lý
- Rủi ro giao dịch bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết
định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm
bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý
các khoản vay có vấn đề.
c. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và
người đi vay. Ngân hàng và người đi vay hoạt động tuân theo sự chi phối với những
điều kiện cụ thể của môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh là đối tượng
thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh
doanh và khách hàng vay được gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan. Rủi ro

hành thay vì dựa trên các căn cứ khoa học
- Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương: việc thực thi pháp
luật để hỗ trợ hoạt động ngân hàng chưa hiệu quả, đặc biệt là trong việc cưỡng chế
thu hồi nợ. Theo quy định thì trong trường hợp khách hàng không trả được nợ,
NHTM có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay. Tuy nhiên trên thực tế,
các NHTM không thể cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho
ngân hàng để xử lý nếu khách hàng không hợp tác mà phải xử lý qua con đường tố
tụng…dẫn đến tình trạng NHTM không dễ giải quyết được nợ tồn đọng dù có tài
sản bảo đảm.
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN: Hoạt động thanh
tra ngân hàng và năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa theo kịp sự phát triển của
hệ thống Ngân hàng. Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát chậm đổi mới,
khả năng kiểm soát thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra ngân
hàng chủ yếu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn, cảnh báo phòng
ngừa rủi ro và vi phạm. Những sai phạm về cho vay, cấp tín dụng ở một số NHTM


10

có thể đã được ngăn chặn nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý kịp thời
 Yếu tố thuộc môi trường tự nhiên
Những yếu tố như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh có thể làm ngưng trệ
hoạt động sản xuất kinh doanh do thiếu hụt nguyên vật liệu sản xuất, giá cả sẽ tăng
dẫn đến rủi ro đọng vốn hoặc mất vốn
 Yếu tố thuộc về văn hóa – xã hội
Sự thay đổi văn hóa- xã hội đi cùng sự thay đổi cách suy nghĩ của cả một xã
hội về thói quen tiêu dùng, nếu doanh nghiệp không nắm bắt được sẽ gặp khó khăn
trong kinh doanh dẫn đến gián tiếp hoặc trực tiếp gây khó khăn cho hoạt động của
ngân hàng.
 Yếu tố thuộc về công nghệ

hoạt động của doanh nghiệp không đồng bộ, hiệu quả sản xuất không cao, giảm số
lượng sản xuất ra hoặc lượng sản phẩm giảm sút. Doanh nghiệp sẽ không đạt được
lợi nhuận dự kiến xấu hơn là thua lỗ.
+ Tình trạng gian lận, tham nhũng trong nội bộ doanh nghiệp
 Nguyên nhân chủ quan
 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Do các quy trình, quy định thiếu chặt chẽ, chưa đầy đủ; bộ máy quản trị và
kiểm soát rủi ro hoạt động chưa hiệu quả
- Cho vay và đầu tư vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành
kinh tế hoặc một địa bàn nào đó
- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không
đầy đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý
- Do không phát hiện khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý, năng lực tài
chính,…
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh
chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do
việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh.
- Cán bộ nhân viên thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề
kiểm soát rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm,
nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy
hiểm khi được bố trí trong tác tín dụng
- Công tác quản lý, kiểm tra giám sát sau cho vay còn lỏng lẻo
- Sự hợp tác giữa các NHTM còn chưa chặt chẽ, vai trò của CIC chưa thực sự
hiệu quả
Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ
thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều
ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì
rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào

nợ khi phát mại tài sản là rất khó xảy ra.
Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn
trên tổng dư nợ cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn làm
giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Khi đó
ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao, bởi huy


13

động từ tiền gửi dân cư thường mất rất nhiều thời gian. Nếu tình trạng này kéo dài
với việc hàng loạt người gửi tiền rút tiền, ngân hàng sẽ buộc phải đóng cửa và tuyên
bố phá sản.
Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Khi
ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn khác nhau, uy tín
của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm đi nghiêm trọng. Hơn nữa tỷ lệ
nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá không
tốt về tình hình hoạt động của ngân hàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác
của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở
ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác.
Đối với cán bộ nhân viên, do ngân hàng gặp khó khăn trong kinh doanh nên
chế độ phúc lợi, thu nhập sẽ bị hạn chế vì thế những người có năng lực sẽ thuyên
chuyển công tác, khiến ngân hàng sẽ ngày càng khó khăn.
 Đối với nền kinh tế xã hội
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp và các cá
nhân. Ngân hàng gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp thiếu vốn sẽ gặp khó khăn để
sản xuất kinh doanh dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn. Sự khủng hoảng từ hệ
thống ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị
suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.
Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên

xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự minh bạch, thuyết phục.
- Không có báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Sự giảm sút bất thường số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng mở tại Ngân
hàng; xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được
nguyên nhân có sự thay đổi đó.
- Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong
quan hệ với Ngân hàng
- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn
- Thanh toán nợ gốc không đầy đủ, không đúng hạn
- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng
mà không giải thích được một cách minh bạch và thuyết phục
- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh các kỳ hạn nợ nhiều lần không có lý do hoặc
thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc xin gia hạn hoặc điều
chỉnh kỳ hạn nợ
- Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc không
muốn trả hoặc việc tiêu thụ hàng hóa gặp khó khăn hoặc việc thu hồi công nợ chậm
hơn dự tính


15

- Có nhiều dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ khoản thu nhập khác
không phải từ hoạt động mà khách hàng đề xuất vay vốn để thực hiện nghĩa vụ
thanh toán khoản vay
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu
vay dự kiến
- Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác,
đặc biệt là từ đối thủ cạnh tranh của Ngân hàng
- Có dấu hiệu sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư
dài hạn

dấu hiệu để nhận biết rủi ro do chính Ngân hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng, đó là:
- Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro khách hàng ví dụ
như đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực tế, đánh giá khách
hàng chỉ thông qua một phía như thông tin mà khách hàng cung cấp mà thiếu những
thông tin từ những nguồn khác...Bỏ qua các nghi ngờ được phản ánh qua cấu trúc và cơ
cấu của số liệu khi phân tích các dữ liệu tài chính, có dấu hiệu che dấu việc đảo nợ
bằng việc thường xuyên cấp các khoản vay mới, hoặc che dấu nợ quá hạn thông qua
việc điều chỉnh kỳ hạn nợ và gia hạn nợ tràn lan, thiếu căn cứ xác thực
- Cấp tín dụng dựa trên những cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo
của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hoặc các lợi ích do khách
hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp.
- Soạn thảo các điều kiện trong hợp đồng tín dụng không được rõ ràng, không
xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay, cố ý thỏa thuận các nguyên tắc tín
dụng với khách hàng mặc dù biết là tiềm ẩn rủi ro
- Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc quá lỏng lẻo để kẽ hở cho khách
hàng lợi dụng
- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ các quy định hiện hành về
phê duyệt tín dụng
- Các khuynh hướng cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch
vụ hoặc thực hiện chiến lược giữ chân khách hàng bằng khoản tín dụng mới để họ
không quan hệ với các tổ chức tín dụng khác, mặc dù biết rõ các khoản tín dụng
định cấp có nguy cơ rủi ro cao.
Các Ngân hàng luôn mong muốn duy trì mức dư nợ cho vay ở tình trạng tốt,
có thể giảm bớt kể cả những rủi ro không thể kiểm soát được bằng cách không tập
trung quá nhiều vốn vào một người vay, tức là áp dụng phương pháp phân tán rủi
ro. Vì vậy, vai trò của người cán bộ tín dụng ở chỗ cần phải thực hiện những công
việc nhất định để trành những rủi ro trong tương lai.
b. Phân tích rủi ro tín dụng
Ngân hàng trong suốt thời gian cho vay phải liên tục giám sát danh mục tín
dụng nhằm có các hành động kịp thời khi có bất kỳ vấn đề nào nảy sinh đối với

+ Chất lượng của các chiến lược kinh doanh trung và dài hạn
- Sau khi xác định được cấp độ rủi ro của từng khách hàng như trên (theo thiện
chí và khả năng trả nợ), ngân hàng đánh giá chất lượng tài sản đảm bảo khoản vay
để có nhận định hoàn chỉnh về hướng vay và hướng xử lý sau này.
Bước 2: Giám sát việc xếp hạng rủi ro
- Các rủi ro đã được đánh giá, về nguyên tắc phải phản ánh chính xác tình
trạng rủi ro ở mọi thời gian. Do vậy mọi biến động ảnh hưởng đến quá trình xếp
hạng này phải được đánh giá lại ngay. Việc giám sát được thực hiện bằng nhiều
phương pháp khác nhau, tùy vào từng ngân hàng hoặc dùng đồng thời các phương
pháp đó là:
+ Phương pháp dùng bảng so sánh
+ Phương pháp dùng đồ thị
+ Phương pháp kiểm tra tại chỗ
c. Đo lường rủi ro tín dụng


18

Bốn chỉ tiêu sau được sử dụng rộng rãi nhất trong việc đo lường rủi ro tín
dụng của NHTM bao gồm:
- Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ cho vay:
Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm nợ 3, 4, 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
cũng là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD
- Tỷ lệ giữa các khoản xóa nợ so với tổng dư nợ cho vay:
Tỷ lệ các khoản xóa nợ = x 100%
Các khoản xóa nợ là các khoản vay được ngân hàng đánh giá là không có khả
năng thu hồi vốn và được phân vào nhóm 5 theo QĐ 493/2005/QĐ – NHNN ngày
22/04/2005 và QĐ 18/2007/QĐ – NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi quyết
định 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN. Các khoản

khách hàng cũng như các thông tin về tình hình tài chính và các thông tin cần thiết
có liên quan khác của khách hàng để có thể giám sát khoản vay một cách chặt chẽ
tình hình người vay có dấu hiệu tiến triển tốt hơn không.
Nếu thấy xu thế bất lợi của khách hàng, ngân hàng phải yêu cầu khách hàng
cung cấp các báo cáo tài chính thường kỳ hơn nữa và phải kiểm tra chi tiết các báo
cáo đó để giám sát chặt tình hình; ngay cả khi dấu hiệu bất lợi chưa rõ ràng thì vẫn
phải cần nghiên cứu và phân tích.
Khi xác định rõ xu thế bất lợi trong hoạt động kinh doanh của khách hàng,
ngân hàng cần phải khẩn cấp xác định tính nghiêm ngặt của nó, phải xem xét đánh
giá nguyên nhân của sự bất ổn này là tạm thời hay do tài chính yếu kém; do thị
trường hay do sự yếu kém của công tác quản lý.
+ Rà soát và xem xét lại tài sản đảm bảo nợ vay của khách hàng
Trong trường hợp khoản vay bị đánh giá xuống hạng, ngân hàng phải rà soát
và đánh giá lại tài sản đảm bảo của khách hàng; việc đánh giá lại tài sản đảm bảo
của khách hàng phải đảm bảo tính thực tế và thận trọng. Ngân hàng cần xem xét,
đánh giá: liệu tài sản này trong điều kiện kinh doanh bình thường thì bán như thế
nào và bán trong điều kiện kinh doanh không bình thường thì như thế nào?
+ Hoàn thiện hồ sơ pháp lý:
Ngân hàng cần rà soát lại ngay hồ sơ pháp lý khoản vay, trong trường hợp hồ sơ


20

pháp lý chưa chặt chẽ hoặc cần phải bổ sung, ngân hàng cần phải bổ sung đầy đủ nhất.
- Biện pháp khắc phục:
Khi các khoản vay bị xuống hạng 4, hạng 5 thì các biện pháp khắc phục sau
đây có thể được áp dụng:
+ Yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo nợ vay
Ngay khi khoản vay có nguy cơ có vấn đề, ngân hàng phải tìm mọi cách để
tăng thêm tài sản đảm bảo; các báo cáo tài chính và các thông tin khác của doanh


Các khoản nợ được cơ cấu lại này vẫn phải được lưu trong danh mục nợ xấu cho
đến khi các khoản này được trả theo lịch định. Nếu mức thanh toán tối thiểu được thực
hiện thì các khoản nợ này mới được rà soát lại và được tăng hạng tương ứng.
+ Thu hồi nợ
Khi đã rà soát và kết luận khoản vay không thể phục hồi được thì ngân hàng
phải quyết định chiến lược thu hồi nợ nhằm đạt được những mục tiêu sau:
Tận thu hồi vốn;
Giảm thiểu chi phí phát sinh trong thu hồi nợ;
Giảm thiểu sự phản ứng của khách hàng;
- Biện pháp xử lý nợ
Khi khoản vay bị xếp xuống nhóm nợ rủi ro cao thì ngân hàng có thể áp dụng
các biện pháp xử lý sau:
+ Phát mại tài sản: Ngân hàng nên cố gắng thuyết phục khách hàng tự nguyện
bán tài sản của mình. Nếu khách hàng không có thiện chí thì ngân hàng sẽ tiến hành
bán tài sản cầm cố, thế chấp theo sự giám sát và phán quyết của cơ quan pháp luật
+ Trả nợ thay: Yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay cho khách hàng vay vốn.
+ Khởi kiện: Trong trường hợp cần khởi kiện, ngân hàng phải khẩn trương
hoàn thiện ngay các thủ tục pháp lý cần thiết để khởi kiện khách hàng.
+ Bán nợ: Bán toàn bộ doanh nghiệp hoặc một phần doanh nghiệp: một trong
những quyết định quan trọng là liệu có thể có những chủ sở hữu mới có thể chuyển
đổi doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc bổ sung thêm vốn vào hoạt động kinh doanh để
doanh nghiệp có thể tồn tại trong tương lai. Tùy vào từng trường hợp cụ thể, có thể
áp dụng bán toàn bộ doanh nghiệp hay một phần doanh nghiệp.
+ Các biện pháp khuyến khích trả nợ: Miễn, giảm một phần lãi suất, tính lại
lãi, không tính lãi phạt…Biện pháp này áp dụng cho các khách hàng có thiện chí trả
nợ gốc.
e. Tài trợ rủi ro tín dụng
Về nguyên tắc, tài trợ rủi ro chỉ được áp dụng đối với các khoản nợ xấu: sau khi
ngân hàng đã áp dụng hết các biện pháp áp dụng và xử lý mà vẫn không thu hồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status