luận văn thạc sĩ tổ chức công tác kế toán tại cục hải quan hà nội - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LÊ PHƯƠNG THẢO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

LÊ PHƯƠNG THẢO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI
CỤC HẢI QUAN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

LỚP: CH 21A - KT

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LÊ PHƯƠNG THẢO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

LÊ PHƯƠNG THẢO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Lê Phương Thảo


ii

MỤC LỤC


iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt
1
BCĐTK
2
BCTC
3
BHXH
4
CBCCVC
5
CCHQ
6
CĐKT
7
CHXHCN
8
CMKT
9
CNTT

25
TK
26
TP
27
TSCĐ
28
TSDH
29
TSNH
30
TW
31
UBND
32
XDCB
33
XHCN
34
XNK

Chữ viết đầy đu
Bảng cân đối tài khoản
Báo cáo tài chính
Bảo hiểm xã hội
Cán bộ công chức viên chức
Chi cục Hải quan
Chế độ kế toán
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Chuẩn mực kế toán

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Cơ cấu nguồn kinh phí tại Cục Hải quan TP Hà Nội.........................66


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết cua đề tài
Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế
giới. Từ những bước đi ban đầu đầy gian nan, thử thách, giờ đây nền kinh tế đã phát
triển mạnh mẽ sánh vai cùng với các nước trong khu vực và trên trường quốc tế.
Theo đó, các đơn vị hành chính sự nghiệp cũng đang từng bước chuyển đổi, ổn định
và phát triển vững mạnh, tạo nền tảng cho nền kinh tế nước nhà trong giai đoạn
kinh tế mới.
Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (sửa đổi), đồng thời xem xét, thông qua 100 luật, bộ luật và 10 pháp lệnh
cùng nhiều nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật. Và năm 2015 là năm bắt bầu thi
hành các văn bản đó. Điều này tạo ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam
nói chung và các đơn vị hành chính sự nghiệp nói riêng. Quá trình hoạt động của
các đơn vị hành chính sự nghiệp buộc phải gương mẫu, chấp hành nghiêm chỉnh
Luật Ngân sách Nhà nước, các tiêu chuẩn định mức, các quy định về chế độ kế toán
hành chính sự nghiệp do Nhà nước ban hành. Công tác kế toán trong các đơn vị
hành chính sự nghiệp phải cung cấp thông tin phục vụ quản lý và kiểm soát nguồn
kinh phí, tình hình sử dụng quyết toán kinh phí, tình hình chấp hành dự toán thu, chi
và thực hiện các tiêu chuẩn định mức của Nhà nước ở đơn vị.
Cục Hải quan Thành phố Hà Nội là cơ quan hành chính Nhà nước, có chức
năng tổ chức thực hiện pháp luật của Nhà nước về hải quan và các quy định khác
của pháp luật có liên quan trên địa bàn hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi về hải
quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh

vào đơn vị; tổ chức các nhân sự để thực hiện công việc kế toán nhằm đảm bảo cho
công tác kế toán phát huy hết vai trò, nhiệm vụ của mình, giúp công tác quản lý và
điều hành hoạt động của đơn vị có hiệu quả.
Trong những năm qua, đã có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về tổ chức
công tác kế toán, bao gồm cả trong doanh nghiệp cũng như các đơn vị hành chính
sự nghiệp với các khía cạnh, lĩnh vực khác nhau. Chẳng hạn như luận án tiến sĩ của
tác giả Bùi Thị Yến Linh (năm 2014) với đề tài “Tổ chức công tác kế toán tại các
cơ sở y tế công lập tỉnh Quảng Ngãi”, tác giả đã làm rõ một số vấn đề về cơ sở
khoa học của tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập cũng như
phân tích các nhân tố chi phối đến tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp
công lập.
Tác giả Đặng Thị Lệ Hoa (năm 2014) với đề tài “Tổ chức thông tin kế toán tại
cục Hải quan thành phố Đà Nẵng”, tác giả đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản về
thông tin kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp và thực tiễn tổ chức công tác
này tại Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng.
Tác giả Trần Thị Thanh Tâm (năm 2015) với đề tài “Hoàn thiện tổ chức kế
toán ấn chỉ tại Tổng cục Hải quan”, tác giả đã đi sâu khảo sát thực trạng tổ chức


3

công tác kế toán ấn chỉ (hàng tồn kho) tại Tổng cục Hải quan – đơn vị dự toán cấp 2
trên cả hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị. Từ đó, đề xuất các giải pháp
nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán ấn chỉ tại Tổng cục Hải quan.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đã góp phần rất lớn trong việc tổ chức
công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp; đã đánh giá, phân tích thực trạng
các nội dung tổ chức công tác kế toán trên cơ sở vận dụng các chế độ và chuẩn mực kế
toán hành chính sự nghiệp hiện hành, từ đó đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Song, trong bối cảnh nên kinh tế nước nhà bước sang giai đoạn mới 2016 – 2020,

- Phương pháp tiếp cận:
Luận văn sẽ vận dụng Khung kiến thức (Sơ đồ 1.1) để phân tích thực trạng của
tổ chức công tác kế toán tại Cục Hải quan TP Hà Nội, trên cơ sở tiến hành điều tra
thực tế bằng cách phát phiếu điều tra khảo sát, thông qua sự đánh giá của cán bộ,
công chức tại các Cục, Chi cục Hải quan và Lãnh đạo đơn vị để tìm ra những điểm
chưa hợp lý của tổ chức công tác kế toán tại Cục Hải quan TP Hà Nội hiện nay. Từ
đó tìm nguyên nhân của những hạn chế, bất cập và sự cản trở của nó trong việc hoàn
thiện tổ chức công tác kế tại đơn vị

KẾ TOÁN HCSN

Quy trình
thực hiện kế
toán HCSN

Quy định, nguyên
tắc kế toán HCSN
đang áp dụng

Tổ chức công tác kế
toán HCSN dưới góc
độ kế toán tài chính

Vấn đề bất cập nảy sinh

Xây dựng các giải pháp hoàn thiện
tổ chức kế toán công tác kế toán
Sự cản trở

Mục

Bộ Tài chính…
+ Nguồn cung cấp dữ liệu từ internet.
+ Các quy trình làm việc, các quy định, nguyên tắc trong công tác kế toán tại
Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan TP Hà Nội.
+ Tài liệu giới thiệu về Cục Hải quan TP Hà Nội, các báo cáo quyết toán của
Tổng cục Hải quan.
+ Số liệu kế toán từ năm 2015.
* Thu thập dữ liệu sơ cấp
+ Nội dung nghiên cứu: Sự đánh giá của cán bộ công chức, lãnh đạo Cục về tổ
chức công tác kế toán tại Cục Hải quan TP Hà Nội hiện nay.
+ Đối tượng khảo sát: Đội ngũ lãnh đạo, cán bộ công chức làm việc tại Phòng
Tài vụ quản trị; Các chi cục Hải quan và tương đương.
+ Địa bàn nghiên cứu: 09 Phòng tham mưu giúp việc Cục trưởng, 11 Chi cục
và 02 Đội thực hiện nghiệp vụ chuyên môn đặc thù nằm tại các tỉnh, thành phố : Hà
Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình.
+ Phương pháp thực hiện: Nghiên cứu định tính dưới dạng đối thoại trực tiếp
một số cán bộ chủ chốt và lãnh đạo Cục; trực tiếp tham gia khảo sát tại Phòng Tài
vụ quản trị và đưa ra các đánh giá, nhận định khách quan về tổ chức công tác kế
toán tại đơn vị.
Phân tích dữ liệu bằng phương pháp tường thuât, tổng hợp, và sử dụng số liệu
để mô tả thực tế tại Cục.


6

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn cua đề tài
- Đề tài đã góp phần hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức
công tác kế toán trong Cục Hải quan Thành phố Hà Nội.
- Phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Cục Hải quan
Thành phố Hà Nội và đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán

sách nhà nước cấp kinh phí cho đơn vị, vì vậy đơn vị HCSN còn được gọi là đơn vị
dự toán.
Hoạt động của các đơn vị HCSN rất phong phú, đa dạng, phức tạp và mang
tính phục vụ. Vì vậy hoạt động của các đơn vị HCSN thường không có thu hoặc có
thu nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu, các khoản chi cho các hoạt động chủ
yếu được trang trải bằng nguồn kinh phí của nhà nước cấp. Do chi tiêu chủ yếu bằng
nguồn kinh phí nhà nước cấp nên đơn vị phải lập dự toán thu-chi và việc chi tiêu phải
đúng dự toán được duyệt theo các tiêu chuẩn, định mức nhà nước quy định.
Như vậy, đơn vị HCSN được hiểu là đơn vị dự toán hoạt động bằng nguồn
kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, cấp trên cấp phát hoặc bằng nguồn kinh phí
khác (hội phí, học phí, viện phí, kinh phí được tài trợ,…) để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của Đảng và nhà nước giao trong từng giai đoạn nhất định.
1.1.1.2 Phân loại đơn vị hành chính sự nghiệp
a. Căn cứ theo chức năng hoạt động, đơn vị HCSN có thể chia thành các
nhóm sau:
- Đơn vị hành chính (cơ quan Nhà nước): Là các cơ quan công quyền, là một
bộ phận của bộ máy Nhà nước với chức năng quản lý Nhà nước. Nguồn kinh phí


8

hoạt động chủ yếu do NSNN cấp. Cơ cấu tổ chức chiều dọc từ Trung ương đến địa
phương, chiều ngang theo ngành, lãnh vực. Cụ thể:

Sơ đồ 1.2 Bộ máy tổ chức cua Nhà nước
- Đơn vị sự nghiệp: là đơn vị trực thuộc cơ quan Nhà nước và do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thành lập với chức năng cung cấp dịch vụ công cho xã hội như văn
hóa, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học.... Nguồn kinh phí hoạt động bao gồm nguồn
kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp và nguồn thu sự nghiệp. Đơn vị sự nghiệp có thể
thực hiện một số hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận.

+ Phê chuẩn dự toán quý, năm của các đơn vị cấp dưới.
+ Tổ chức việc hạch toán kinh tế, việc quản lý vốn trong toàn ngành.
+ Tổng hợp các báo biểu kế toán trong toàn ngành, tổ chức kiểm tra kế toán và
kiểm tra tài chính đối với đơn vị cấp dưới.
- Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I, chịu sự lãnh
đạo trực tiếp về tài chính và quan hệ cấp phát vốn của đơn vị dự toán cấp I. Đơn vị
dự toán cấp II có nhiệm vụ nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân
bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III, có trách nhiệm tổ chức, điều hành,
quản lý kinh phí của cấp mình và đơn vị dự toán cấp dưới. Định kỳ đơn vị phải tổng
hợp chi tiêu kinh phí ở đơn vị và của đơn vị dự toán cấp III báo cáo lên đơn vị dự
toán cấp I và cơ quan tài chính cùng cấp.
- Đơn vị dự toán cấp III: Trực thuộc đơn vị dự toán cấp II. Chịu sự lãnh đạo
trực tiếp về tài chính và quan hệ cấp phát vốn của đơn vị dự toán cấp II, là đơn vị
cuối cùng thực hiện dự toán. Đơn vị dự toán cấp III trực tiếp sử dụng kinh phí của
ngân sách, chấp hành các chính sách về chi tiêu, về hạch toán, tổng hợp chi tiêu
kinh phí báo cáo lên đơn vị cấp II và cơ quan tài chính cùng cấp theo định kỳ.


10

Sơ đồ 1.3 Các cấp dự toán trong quản lý – sử dụng NSNN
Cần chú ý rằng, đơn vị dự toán (HCSN) có thể chỉ có một cấp hoặc hai cấp. Ở
các đơn vị chỉ có một cấp thì cấp này phải làm nhiệm vụ của cấp I và cấp III. Ở các
đơn vị được tổ chức thành hai cấp thì đơn vị dự toán cấp trên làm nhiệm vụ của đơn
vị dự toán cấp I, đơn vị dự toán cấp dưới làm nhiệm vụ của đơn vị cấp III.
Ngoài ra còn có đơn vị dự toán cấp dưới của cấp III: Được nhận kinh phí để
thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện việc quản lý kinh phí
theo sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp III.
Việc phân chia các đơn vị dự toán trong một ngành chỉ có tính chất tương đối
nghĩa là thứ bậc của các đơn vị dự toán không cố định mà tùy thuộc vào cơ chế

Tài chính đơn vị HCSN phản ánh các luồng chuyển dịch giá trị, sự vận động
của các nguồn tài chính nảy sinh và gắn liền với các hoạt động thu, hoạt động chi
của các đơn vị dự toán nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Sự
vận động chuyển hóa các nguồn tài chính được điều chỉnh bằng hệ thống các quan
hệ phân phối dưới hình thức giá trị thông qua việc cấp phát, chấp hành và sử dụng
quỹ tiền tệ. Khác với tài chính doanh nghiệp, tài chính HC, SN động lực của sự vận
động và chuyển hóa các nguồn tài chính là nhằm mục đích đáp ứng ngày càng tốt
hơn đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Trên cơ sở chức năng của tài chính nói chung, tài chính đơn vị HCSN là công
cụ phân phối và kiểm tra việc chấp hành sử dụng các quỹ tiền tệ.
Đây là vai trò chủ yếu và cơ bản nhất, trên cơ sở phân phối của tài chính mà
các quỹ tiền tệ của các đơn vị HCSN được hình thành và sử dụng cho các mục đích
đã được định trước. Thông qua vai trò này để ngăn ngừa mọi hành vi vi phạm các
chế độ quy định về tài chính, các chính sách chế độ nhà nước ban hành, các luật lệ
về tài chính.
Tài chính đơn vị HCSN điều tiết các hoạt động của các đơn vị HCSN. Vai trò
này được phát huy trên cơ sở vai trò thứ nhất trong việc phân phối nguồn tài chính
để điều tiết các hoạt động của các đơn vị HCSN.


12

Nguồn tài chính (kinh phí) của đơn vị HCSN được hình thành từ các nguồn:
- Ngân sách nhà nước hoặc cơ quan quản lý cấp trên cấp theo dự toán được duyệt;
- Các khoản đóng góp;
- Các khoản thu sự nghiệp;
- Các khoản tài trợ, viện trợ, biếu tặng của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước;
- Các khoản thu khác theo chế độ.
Theo mục đích sử dụng nguồn kinh phí trong các đơn vị HCSN được chia
thành các nguồn sau:

để nâng cao chất lượng hoạt động của đơn vị.
- Thực hiện lập dự toán, quyết toán của Nhà nước, việc chi tiêu phải có đầy đủ
chứng từ hợp lệ, hợp pháp để làm căn cứ cho cơ quan tài chính giám sát, kiểm tra.
- Thực hiện đúng chế độ quản lý tài chính đối với các khoản thu sự nghiệp, thu
đúng, thu đủ, kịp thời và hạch toán đầy đủ vào sổ sách kế toán, đảm bảo chi tiêu từ
các khoản trên phải đúng quy định được duyệt.
- Quản lý các khoản chi tiêu HCSN phải luôn gắn liền với chức năng nhiệm vụ
của các cơ quan đơn vị, đảm bảo cho các cơ quan đơn vị vừa hoàn thành nhiệm vụ
chính trị được giao vừa đảm bảo nguyên tắc quản lý tài chính.
- Lựa chọn hình thức kế toán
+ Hình thức nhật ký – sổ cái
+ Hình thức chứng từ ghi sổ
+ Hình thức nhật ký chung
Tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm hoạt động, yêu cầu và trình độ quản lý, điều
kiện trang bị kỹ thuật tính toán, mỗi đơn vị kế toán được phép lựa chọn một hình
thức kế toán phù hợp với đơn vị mình nhằm đảm bảo cho kế toán có thể thực hiện
tốt việc thu nhận, xử lý và cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, tài liệu
(kế toán) kinh tế phục vụ cho công tác lãnh đạo.
1.1.2.3 Phương pháp quản lý tài chính trong đơn vị HCSN
a. Các hình thức quản lý
Quản lý tài chính của các đơn vị HCSN bao gồm các hình thức sau:
* Quản lý theo hình thức thu đủ - chi đủ: Nghĩa là trong quá trình hoạt động
đơn vị thu được bao nhiêu nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước và nhu cầu chi tiêu
bao nhiêu ngân sách nhà nước cấp phát đủ theo dự toán được duyệt.
Hình thức này áp dụng cho các đơn vị có số thu ít không đáng kể, không
thường xuyên so với các khoản ngân sách nhà nước chi ra cho đơn vị.
Quản lý theo hình thức này có nhược điểm: không gắn số thu với số chi, hạn
chế quyền tự chủ của các đơn vị. Vì vậy, không thúc đẩy các đơn vị quan tâm đến
việc khai thác nguồn thu.


Quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp đòi hỏi phải căn cứ
vào tính chất đặc điểm hoạt động của từng ngành từng đơn vị cơ quan để áp dụng
các biện pháp quản lý cho phù hợp. Trong quản lý tài chính đơn vị HCSN có 3 biện
pháp sau đây:
- Quản lý theo dự toán kinh phí: Quản lý theo biện pháp này nghĩa là trong
quá trình hoạt động chỉ căn cứ vào nhu cầu thực tế để tính toán lập dự toán và cấp


15

phát kinh phí. Quản lý theo biện pháp này có nhược điểm làm cho các đơn vị thiếu
chủ động trong việc chi tiêu nặng về công tác hành chính sự vụ.
- Quản lý theo tiêu chuẩn định mức chi tiêu. Định mức chi tiêu là mức chi quy
định cho một công việc nhất định trong một thời gian nhất định. Đây là biện pháp
quản lý tiêu biểu nhất bởi vì: Tiêu chuẩn định mức chi tiêu là cơ sở thực hành tiết
kiệm (tiết kiệm cả về thời gian lao động và tiền bạc).
Quản lý theo tiêu chuẩn, định mức chi tiêu sẽ nâng cao được tinh thần trách
nhiệm, tính chủ động của các cơ quan đơn vị trong công tác quản lý tài chính. Đồng
thời là cơ sở để cải tiến công tác lề lối làm việc và cải thiện mối quan hệ giữa các
cấp, các ngành và các đơn vị.
- Quản lý theo hợp đồng kinh tế đấu thầu, khoán chi. Quản lý theo biện pháp
này giúp cho các đơn vị chủ động trong quản lý thu chi tài chính, thúc đẩy các đơn
vị phấn đấu phát triển sự nghiệp tăng thu tiết kiệm chi để có doanh lợi, hoàn thành
vượt mức kế hoạch được giao, cải thiện nâng cao phúc lợi cho người lao động.
Tóm lại, trong ba biện pháp trên, việc áp dụng biện pháp nào là tùy thuộc vào
tính chất đặc điểm hoạt động của các cơ quan, đơn vị cho phù hợp.
1.1.2.4 Quy trình quản lý tài chính
Quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị được tiến hành theo chi trình bao
gồm ba bước: bắt đầu từ việc quản lý việc lập dự toán thu chi tài chính, sau đó là
quản lý việc chấp hành dự toán và cuối cùng là việc quyết toán thu chi tài chính.

Trình tự lập và xét duyệt dự toán NSNN theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.5 Trình tự lập và xét duyệt dự toán NSNN


17

Có hai phương pháp lập dự toán thường được sử dụng là phương pháp lập dự
toán trên cơ sở quá khứ và phương pháp lập dự toán cấp không
Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các chỉ
tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của kỳ liền trước và điều chỉnh
theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lam phát dự kiến. Như vậy phương pháp này rất rõ ràng,
dễ hiêu và dễ sử dụng, được xây dựng tương đối ổn định, tạo điều kiện, cơ sở bền vững
cho nhà quản lý trong đơn vị trong việc điều hành mọi hoạt động. Mô hình phương
pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ được khái quát trong sơ đồ tại Phụ lục 1.1
Phương pháp lập dự toán cấp không là phương pháp xác định các chỉ tiêu
trong dự toán dựa vào nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch, phù hợp
với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị chứ không dự trên kết quả hoạt động thực tế
của năm trước. Như vậy, đây là phương pháp lập dự toán phức tạp hơn do không dự
trên số liệu, kinh nghiệm có sẵn. Mô hình phương pháp lập dự toán cấp không được
khái quát trong sơ đồ tại Phụ lục 1.2
b. Tổ chức chấp hành dự toán
Chấp hành dự toán là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài
chính, hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu chi ghi trong dự toán tài chính của đơn
vị thành hiện thực.
Trên cơ sở dự toán được giao, đơn vị HCSN tổ chức triển khai thực hiện, đưa
ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu chi được giao đồng
thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có
hiệu quả.
Trong quá trình thực hiện dự toán, đơn vị HCSN tuyệt đối chấp hành dự toán

các cấp chính quyền địa phương. Quy trình quyết toán bao gồm các hoạt động:
Khóa sổ thu chi ngân sách cuối năm; Lập báo cáo quyết toán; Xét duyệt, thẩm định
báo cáo quyết toán.
Cuối quý, cuối năm các đơn vị HCSN phải tiến hành lập báo cáo kế toán, báo
cáo quyết toán thu chi tài chính về tình hình sử dụng nguồn tài chính để gửi đến các
cơ quan chức năng theo quy định. Báo cáo quyết toán của đơn vị HCSN phản ánh
tổng hợp tình hình tài sản, thu chi và kết quả sử dụng nguồn lực tài chính tại cơ
quan, đơn vị nhằm cung cấp thông tin tài chính, giúp cho việc đánh giá tình hình và
thực trạng của đơn vị.
Trong cơ chế tự chủ tài chính, thước đo các khoản chi của đơn vị có chấp hành
đúng dự toán hay không chính là quy chế chi tiêu nội bộ. Quy chế chi tiêu nội bộ
bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất
trong đơn vị, đảm bảo đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao, thực hiện các hoạt
động thường xuyên phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí có
hiệu quả và tăng cường công tác quản lý. Như vậy, quy chế chi tiêu nội bộ là căn cứ
để thủ trưởng đơn vị điều hành việc sử dụng và quyết toán kinh phí từ nguồn NSNN
cấp cho hoạt động thường xuyên và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị, là cơ sở pháp
lý để kho bạc nhà nước kiểm soát chi.


19

Công tác quyết toán thực hiện tốt sẽ cung cấp các thông tin cần thiết để đánh
giá lại việc thực hiện kế hoạch tài chính năm. Từ đó rút ra những kinh nghiệm thiết
thực cho công tác lập và chấp hành dự toán năm sau. Kết quả quyết toán cho phép
tổ chức kiểm điểm, đánh giá lại hoạt động của đơn vị, từ đó có những điều chỉnh
kịp thời theo xu hướng thích hợp.
1.1.3 Đặc điểm kế toán của đơn vị hành chính sự nghiệp
1.1.3.1 Khái niệm, đặc điểm, phạm vi và đối tượng áp dụng
a. Khái niệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status