Luận văn thạc sĩ Tổ chức công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần tập đoàn kỹ nghệ gỗ trường thành - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***

NGUYỄN NGỌC NGUYỆT

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN
KỸ NGHỆ GỖ TRƯỜNG THÀNH

Chuyên ngành : Kế toán
Mã số: 60340301

Luận văn thạc sỹ kế toán

Đồng Nai – Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***

NGUYỄN NGỌC NGUYỆT

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN
KỸ NGHỆ GỖ TRƯỜNG THÀNH

Chuyên ngành : Kế toán
Mã số: 60340301


lợi thế cạnh tranh trong điều kiện kinh tế hiện nay.
Là thành viên của Hiệp hội gỗ Việt Nam, Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ
gỗ Trường Thành góp phần rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu gỗ tại Việt Nam. Hiện
tại công ty có thực hiện phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh sau mỗi
kỳ kinh doanh nhưng vẫn chưa thực hiện tổ chức công tác kế toán quản trị một cách
đầy đủ và có hiệu quả. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “ Tổ chức công tác kế toán quản
trị tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trƣờng Thành” làm luận văn thạc
sỹ. Với hy vọng đề tài giúp Ban lãnh đạo công ty có cái nhìn đúng đắn về kế toán
quản trị và để áp dụng vào công ty, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh, hiệu quả quản lý tại công ty này.
2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI


Mục tiêu tổng quát

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán quản trị từ đó rút ra những lý thuyết cần
thiết để giải quyết chương 2, 3.


2
Khảo sát và đánh giá thực trạng để tìm ra ưu nhược điểm của bộ máy kế toán
nói chung và kế toán quản trị nói riêng tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ
Trường Thành.
Đế xuất quan điểm, giải pháp tổ chức kế toán quản trị và những kiến nghị cho
công ty triển khai thực hiện kế toán quản trị.


Mục tiêu chi tiết

Tìm hiểu tổng quan về kế toán quản trị, đề cập đến khái niệm kế toán quản trị,



Phƣơng pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng 2 phương pháp:
Phương pháp định lượng: phiếu khảo sát với mẫu khảo sát là 35 đối tượng, sau
đó dùng chương trình excel để thống kê mô tả.


3
Phương pháp định tính: tổng hợp, phân tích, quan sát, mô tả, phỏng vấn, đánh
giá.
5. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC
Hệ thống hóa lý luận về kế toán quản trị.
Đề xuất giải pháp về tổ chức kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Tập đoàn
Kỹ nghệ gỗ Trường Thành, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty trên
thị trường.
6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được bố cục theo kết cấu đề tài 3
chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về kế toán quản trị
Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần
Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành.
Chƣơng 3: Tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Tập đoàn
Kỹ nghệ gỗ Trường Thành.


4

CHƢƠNG 1

1.2.1 Trên thế gới
Theo Lyle E.Jacobsen viết trên báo London Economist tháng 6 năm 1960
thì người đầu tiên viết về Kế toán quản trị là nhà kinh doanh người Anh Thomas
SutherLand (Viết năm 1875).


5
Đến nửa cuối thế kỷ 19, Kế toán quản trị được áp dụng đầu tiên ở Anh và
Bắc Mỹ trong ngành Dệt, Đường sắt, sau đó được áp dụng vào ngành Thuốc lá,
Luyện kim, Hóa chất. Kế toán quản trị được áp dụng dưới hình thức là kế toán chi
phí tại các doanh nghiệp nhỏ để thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin cho nhà
quản lý nhằm kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh
với các doanh nghiệp khác. Đến năm 1925, Kế toán quản trị được áp dụng vào hầu
hết các ngành kinh tế.
Theo Petty viết trong tác phẩm “Từ kế toán quản trị đến quản trị chiến
lược” quá trình phát triển của Kế toán quản trị chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ năm 1950 – 1965, đây là giai đoạn sơ khởi của kế toán
quản trị, vai trò chủ yếu của kế toán quản trị là xác định và kiểm soát chi phí. Thông
qua việc lập dự toán và kế toán chi phí.
Giai đoạn 2: Từ năm 1965 – 1985, giai đoạn này kế toán quản trị đã bắt đầu
hỗ trợ nhà quản lý cấp cao trong việc lập kế hoạch và kiểm soát thông qua kỹ thuật
phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm.
Giai đoạn 3: Từ năm 1985 – 1995, kế toán quản trị không chỉ là hỗ trợ mà
là một hoạt động gắn liền với nhà quản lý. Mục tiêu chủ yếu của kế toán quản trị
trong thời gian này là giảm hao phí nguồn lực trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh. Để đạt được mục tiêu này, kế toán quản trị đã vận dụng kỹ thuật phân
tích quá trình và quản lý chi phí.
Giai đoạn 4: Từ năm 1995 – Nay, nội dung của kế toán quản trị gắn liền với
quản trị chiến lược, nhấn mạnh đến việc tạo ra giá trị gia tăng thông qua việc gia
tăng lợi ích cho khách hàng, cổ đông, sử dụng hiệu quả nguồn lực.

quản trị
Bảng 1.1: So sánh kế toán tài chính và kế toán quản trị
KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Đối tượng sử dụng thông Những thành phần có Các nhà quản trị ở bên
tin

quan tâm, ở bên ngoài tổ trong tổ chức.
chức.

Cơ sở pháp lý

Luật

Chính sách của nhà quản

Các chuẩn mực kế toán

trị
Nhu cầu kiểm soát của
nhà quản trị

Nguồn thông tin

Hầu

như


Chi phí của thông tin

Phải phát sinh, nhằm mục Lợi ich của thông tin phải
đích thõa mãn các qui cao hơn chi phí bỏ ra
định pháp lý
(Nguồn: Phạm Văn Dược, 2007)

1.4

NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.4.1 Tổ chức hệ thống kế toán chi phí
1.4.1.1 Khái niệm về chi phí:

Theo Phạm Văn Dược (2007): “Chi phí có thể được hiểu là giá trị của một
nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt được
một mục đích nào đó. Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy một kết quả.
Kết quả có thể dưới dạng vật chất như sản phẩm, tiền, nhà xưởng,… hoặc không có
dạng vật chất như kiến thức, dịch vụ được phục vụ,…”.
Do vậy, trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến
việc quản lý chi phí, vì mỗi đồng chi phí bỏ ra đều có ảnh hưởng đến lợi nhuận. Vấn
đề quan trọng đặt ra cho nhà quản trị doanh nghiệp là phải kiểm soát chi phí. Việc
nhận diện để phân loại chi phí là vấn đề quan trọng để nhà quản lý đưa ra những
quyết định trong hoạt động kinh doanh.
1.4.1.2 Phân loại chi phí
 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí được phân loại thành:
- Chi phí sản xuất: Gồm 3 yếu tố cơ bản


8

phẩm...
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí khi phát sinh không thể tính trực tiếp
cho một đối tượng nào đó mà cần phải tiến hành phân bổ theo một tiêu thức phù
hợp.
- Chi phí chênh lệch: Là chi phí có trong phương án này nhưng lại không
có hoặc chỉ có một phần trong phương án khác. Tất cả những sự thay đổi đó hình
thành các chi phí chênh lệch và chính chúng sẽ là căn cứ để người quản lý lựa chọn
phương án.


9
- Chi phí kiểm soát đƣợc và không kiểm soát đƣợc: Chi phí kiểm soát
được đối với một cấp là những chi phí mà nhà quản lý cấp đó được quyền ra quyết
định, những chi phí mà người quản lý cấp đó không được quyền ra quyết định thì
gọi là chi phí không kiểm soát được.
- Chi phí cơ hội: Là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi chọn phương
án này thay vì chọn phương án khác.
- Chi phí lặn: Là những chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và nó không thể
tránh được dù lựa chọn bất kỳ phương án nào. Dễ thấy rằng đó là những khoản chi
phí đã được đầu tư để mua sắm tài sản cố định …
 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Dựa trên cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động
người ta chia toàn bộ chi phí thành ba loại :
- Biến phí: Là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo sự tăng
giảm về mức độ hoạt động. Tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt
động thì Biến phí lại không đổi trong phạm vi phù hợp.
+ Biến phí tuyến tính: Là những biến phí có sự biến động cùng tỷ lệ với
mức độ hoạt động.
+ Biến phí cấp bậc: Là những loại chi phí thay đổi khi có sự thay đổi đủ
lớn và rõ ràng của mức độ hoạt động.

Nên căn cứ vào chu kỳ sản xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất từ đó
xác định đối tượng tính giá thành để cung cấp số liệu tính giá thành sản phẩm một
cách kịp thời. Vì khi lựa chọn đối tượng tính giá thành thích hợp sẽ là cơ sở tính giá
thành một cách chính xác.
 Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian cần thiết phải tiến hành tổng hợp chi
phí sản xuất để tính giá thành, thường là hàng tháng, quý, năm hoặc theo đơn đặt
hàng. Việc xác định kỳ tính giá thành tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật và
nhu cầu thông tin của mỗi doanh nghiệp.
 Phƣơng pháp tập hợp chi phí
Phương pháp tập hợp chi phí là một hoặc một hệ thống các phương pháp
dùng để phân tích và ghi nhận chi phí theo từng đối tượng kế toán chi phí. Có hai
phương pháp đó là:
Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Áp dụng cho trường hợp chi phí phát
sinh liên quan tới từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt, chi phí sản xuất được
tính trực tiếp cho từng đối tượng trực tiếp chịu chi phí nên độ chính xác cao.
Phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp: Áp dụng cho trường hợp chi phí phát
sinh liên quan tới nhiều đối tượng tập hợp chi phí nhưng thể ghi chép riêng lẽ cho


11
từng đối tượng được nên phải tập hợp chung và tiến hành phân bổ dựa trên các tiêu
thức thích hợp
 Phƣơng pháp tính giá thành
- Phƣơng pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn)
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản
xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất
ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác
Tổng GT SP = CPSX DD đầu kỳ + CPSX phát sinh - CPSX DD cuối kỳ
- Phƣơng pháp tổng cộng chi phí

Đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh
các sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những sản phẩm phụ, để tính giá
trị sản phẩm chính kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí sản
xuất sản phẩm.
Tổng giá thành SP chính = Giá trị sản phẩm chính dở dang đầu kỳ + Tổng
chi phí phát sinh trong kỳ- Giá trị sản phẩm phụ thu hồi ươc tính - Giá trị sản phẩm
chính dở dang cuối kỳ
- Phƣơng pháp liên hợp
Là phương pháp áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính
chất qui trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành
phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp hoá chất, dệt kim,
đóng giầy, may mặc… Trên thực tế , kế toán có thể kết hợp các phương pháp trực
tiếp với tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ, hệ số với loại trừ sản phẩm
phụ …
1.4.2 Dự toán ngân sách
1.4.2.1 Khái niệm
Dự toán là những tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu mà tổ chức
cần phải đạt được, đồng thời chỉ rõ cách thức huy động các nguồn lực để thực hiện
các mục tiêu mà tổ chức đặt ra. Dự toán được xác định bằng một hệ thống các chỉ
tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai.
Dự toán ngân sách là những tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu
kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ
rõ cách thức, biện pháp huy động các nguồn lực để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ
đó. Dự toán ngân sách là một hệ thống bao gồm nhiều dự toán như: dự toán tiêu thụ,
dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu, dự toán chi phí nhân công, dự
toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh


13
nghiệp, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán vốn đầu tư, dự toán tiền, dự toán báo cáo


14
 Phân loại theo phƣơng pháp lập
Dự toán được chia thành dự toán linh hoạt và dự toán cố định
Dự toán ngân sách linh hoạt là dự toán ước tính chi phí, doanh thu, lợi nhuận
tại nhiều mức độ hoạt động khác nhau, thông thường dự toán linh hoạt được lập ở 3
mức độ hoạt động cơ bản là: Mức độ hoạt động bình thường, mức độ hoạt động
khả quan nhất; mức độ bất lợi nhất.
Là dự toán ước tính chi phí, doanh thu, lợi nhuận tại một mức độ hoạt động,
thông thường dự toán cố định được lập tại mức độ hoạt động tối ưu.
1.4.2.3 Mô hình lập dự toán ngân sách


Mô hình ấn định thông tin từ trên xuống

Theo mô hình này các chỉ tiêu dự toán được định ra từ ban quản lý cấp cao
của tổ chức và truyền xuống cho quản lý cấp trung gian . Sau đó quản lý cấp trung
gian xem xét sẽ chuyển xuống cho quản lý cấp cơ sở .
Lập dự toán theo mô hình này mang nặng tính áp đặt từ nhà quản lý cấp cao
xuống các bộ phận, không gắn với năng lực thực tế của bộ phận trong DN. Khi lập
dự toán ngân sách theo mô hình này đòi hỏi nhà quản lý cấp cao phải có tầm nhìn
tổng quát, toàn diện về mọi mặt của doanh nghiệp và nhà quản lý cấp cao phải nắm
vững chặt chẽ chi tiết hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp cả về mặt
định tính và định lượng, điều này chỉ phù hợp với doanh nghiệp có qui mô nhỏ, có ít
sự phân cấp về quản lý .


Mô hình thông tin phản hồi

Các chỉ tiêu dự toán đầu tiên được ước tính từ ban quản lý cấp cao nhất, dự

khích các cá nhân , bộ phận trong tổ chức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch
đề ra. Dự toán theo mô hình này rất phù hợp với công ty lớn, hoặc các tập đoàn vì
thể hiện sự phân quyền trong quản lý.
Tuy nhiên nhược điểm của mô hình này là: Khi để cho các bô phận tự định
dự toán của mình có thể xảy ra tình trạng lập dự toán thấp hơn năng lực thật sự của
các bộ phận. Vì vậy nhà quản lý cấp cao cần kiểm tra, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi
chấp nhận ngân sách tự định của cấp dưới.
1.4.2.4 Quy trình lập dự toán ngân sách
Quy trình lập dự toán ngân sách chia làm ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị,
giai đoạn soạn thảo, giao đoạn theo dõi


16


Giai đoạn chuẩn bị

Trong giai đoạn này những công việc phải thực hiên là làm sáng rõ mục tiêu
của doanh nghiệp, xây dựng một mẫu dự toán ngân sách chuẩn, xác định nhiệm vụ
những cá nhân, bộ phận tham gia soạn thảo dự toán và xem xét lại hệ thống cung
cấp thông tin cho việc lập dự toán ngân sách


Giai đoạn soạn thảo

Trong giai đoạn này những cá nhân, bộ phận có liên quan trong việc lập dự
toán ngân sách phải tập hợp toàn bộ thông tin về các nguồn lực sẳn có trong doanh
nghiệp và thông tin về các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động
doanh nghiệp trên cơ sở đó soạn thảo các báo cáo dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất,
dự toán nguyên vật liệu, dự toán tiền, dự toán bảng cân đối kế toán, dự toán báo cáo

và quản lý

Dự toán sản xuất

Dự toán
chi phí lao
động trực
tiếp

Dự toán
chi phí NL
trực tiếp

Dự toán
chi phí
SXC

Dự toán giá vốn
hàng bán

Dự toán tiền
mặt

Dự toán báo cáo
kết quả hoạt
động kinh
doanh

Dự toán bảng
cân đối kế toán

tâm, có thể chia thành 4 loại trung tâm trách nhiệm chính: trung tâm chi phí, trung
tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư.


Trung tâm chi phí

Trung tâm chi phí là trung tâm có quyền kiểm soát chi phí nhưng không
kiểm soát được lợi nhuận và vốn đầu tư. Trong hệ thống tổ chức quản lý , trung tâm
chi phí thường là các phân xưởng sản xuất. Cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động của
trung tâm chi phí là dựa vào tình hình thực hiện các định mức về chi phí.
Mục tiêu của trung tâm chi phí là quản lý chặt chẽ, giảm thiểu chi phí. Trách
nhiệm của nhà quản lý trung tâm chi phí là phải xây dựng được kế hoạch chi phí
trong ngắn hạn và dài hạn; nắm được số lượng sản phẩm sản xuất, chi phí sản xuất
thực tế, mức chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch, nguyên nhân dẫn đến sai lệch .
Ben cạnh đó, trung tâm chi phí có vai trò và tác dụng to lớn bởi vì đây chính là cấp
quản lý mang tính chất tác nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm. Một khi trung tâm chi
phí được quản lý tốt sẽ góp phần kiểm soát được các chi phí phát sinh và làm gia
tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp.


19


Trung tâm doanh thu

Trung tâm doanh thu là trung tâm có quyền kiểm soát doanh thu nhưng
không kiểm soát được lợi nhuận và vốn đầu tư. Trong hệ thống tổ chức quản lý,
trung tâm doanh thu thường là các cửa hàng hoặc bộ phận bán hàng. Cơ sở để đánh
giá kết quả hoạt động trung tâm về doanh thu là dựa vào tốc độ tăng doanh thu ngày
càng cao qua các kỳ hoạt động, dựa vào sự biến động của doanh thu thực tế so với



Trung tâm doanh thu

Hiệu quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm doanh thu thường được
đánh giá bằng việc so sánh doanh thu có thể kiểm soát giữa thực tế so với dự toán


20
và phân tích các chênh lệch phát sinh. Khi đánh giá hiệu quả của trung tâm doanh
thu, cần quan tâm đến chi phí của từng sản phẩm nhằm thúc đẩy các nhà quản trị ở
trung tâm doanh thu lưu ý tối đa hóa lợi nhuận gộp chứ không phải chỉ doanh thu.
Vì nếu chỉ dựa vào doanh thu để đánh giá, các nhà quản trị có thể tìm cách giảm giá
để tăng doanh thu, hoặc thúc đẩy tiêu thụ những mặt hàng có doanh thu lớn nhưng
lợi nhuận thấp. Những hành vi như thế có thể làm gia tăng doanh thu nhưng giảm
lợi nhuận trên tổng thể công ty.


Trung tâm lợi nhuận

Hiệu quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận được đánh giá
thông qua báo cáo hiệu quả được lập cho từng trung tâm lợi nhuận riêng biệt.
Thông tin đưa vào báo cáo để đánh giá hiệu quả của các nhà quản trị ở trung
tâm lợi nhuận chỉ là lợi nhuận có thể kiểm soát bởi nhà quản trị ở từng trung tâm lợi
nhuận. Do lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, nên chỉ doanh thu có
thể kiểm soát và chi phí có thể kiểm soát mới được đưa vào báo cáo hiệu quả. Chi
phí có thể kiểm soát được phân loại theo biến phí và định phí khi đưa vào báo cáo
hiệu quả. Bằng việc so sánh thông tin thực tế với thông tin dự toán, các nhà quản trị
có thể biết được chênh lệch nào là có lợi, chênh lệch nào là không có lợi, chênh lệch
nào do biến động của khối lượng hoạt động, chênh lệch nào do thành quả kiểm soát

Một trong những chức năng cơ bản của nhà quản trị là ra quyết định, bao gồm
quyết định ngắn hạn và quyết định dài hạn. Để lựa chọn thông tin thích hợp cho
việc ra quyết định kế toán quản trị cần phải thu thập thông tin, loại bỏ các thông tin
không thích hợp, xác định thông tin thích hợp từ đó nhà quản trị đưa ra các quyết
định. Cụ thể bao gồm nội dung phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi
nhuận và phân tích điểm hòa vốn để ra quyết định về sản xuất và tiêu thụ, phân tích
thông tin kế toán quản trị để ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn.
1.5

VAI TRÕ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Kế toán quản trị có vai trò quan trọng trong việc điều hành sản xuất kinh
doanh tại doanh nghiệp. Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu để cung cấp thông tin
cần thiết cho nhà quản lý ra các quyết định trong kinh doanh ở tất cả các khâu: lập
kế hoạch, dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá. Kế toán quản trị tư vấn
cho nhà quản lý trong quá trình xử lý, phân tích thông tin, lựa chọn phương án, ra
quyết định kinh doanh phù hợp nhất. Kế toán quản trị giúp nhà quản lý kiểm tra,
giám sát điều hành các hoạt động kinh tế tài chính và sản xuất kinh doanh tại doanh
nghiệp, đánh giá những vấn đề tồn tại cần khắc phục nhằm mang lại hiệu quả kinh
tế nhất cho doanh nghiệp.
1.6 TÁC ĐỘNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN



22
Kế toán quản trị có tác động tích cực đến công tác quản lý, thông tin của kế
toán quản trị là nền tảng giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông tin của kế toán quản trị thể hiện
trong các quá trình sau:
Quá trình lập kế hoạch: Để lập kế hoạch đòi hỏi phải nắm được những thông

TÓM TẮT CHƢƠNG 1

Trong giai đoạn hiện nay thông tin được xem như là một yếu tố trực tiếp của
quá trình sản xuất kinh doanh nên để thích ứng với hoàn cảnh mới, các nhà quản lý
đã có các phương pháp tiếp cận đối với các chức năng khác nhau của kế toán trong
kinh doanh, tiếp thị, sản xuất, tài chính, ứng xử về mặt tổ chức điều hành doanh
nghiệp. Vì vậy, ứng dụng kế toán quản trị là việc làm tích cực và thiết thực cho
công tác quản lý.
Trong chương này, tác giả đã nêu những nội dung cơ bản của kế toán quản
trị, sự cần thiết phải tổ chức kế toán quản trị và sự tác động của kế toán quản trị vào
công tác quản lý doanh nghiệp. Qua việc phân tích các nội dung về kế toán quản trị
để từ đó ứng dụng vào việc tổ chức công tác kế toán quản trị tại doanh nghiệp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status