Ứng dụng mô hình SVAR cấu trúc trong phân tích các nhân tố tác động đến lạm phát tại việt nam - Pdf 41

i

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG .............................................................................................. v
DANH MỤC HÌNH ............................................................................................... v
DANH MỤC PHỤ LỤC ........................................................................................ v
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .......................................................................... 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ................................................................... 1
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 2
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ................................................................... 2
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI ..................................................................... 2
6. HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI ........................................................... 3
1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ..................................................................................... 4
2. TỔNG QUAN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SVAR TRONG KHUÔN KHỔ
KINH TẾ HỌC THỰC NGHIỆM ................................................................. 6
2.1. Mô hình kinh tế học thực nghiệm Keynes ............................................. 6
2.1.1. Vấn đề xác định trong mô hình kinh tế học thực nghiệm Keynes 6
2.1.2. Phương pháp giải quyết vấn đề xác định ...................................... 8
2.2. Sự phê phán phương pháp xác định truyền thống trong các mô hình
kinh tế học thực nghiệm Keynes. ......................................................... 12
2.3. Nền tảng mới của kinh tế học thực nghiệm ......................................... 15
2.3.1. Xác định cấu trúc sâu của nền kinh tế........................................ 15
2.3.2. Tác động của các cú sốc không kỳ vọng: Phương pháp VAR .... 20


ii

2.3.2.1. Hàm phản ứng đẩy ........................................................ 21
2.3.2.2. Phân rã phương sai. ...................................................... 22

4.3.3. Phản ứng của lạm phát trước cú sốc trong chính sách tiền tệ ... 46
4.3.4. Phản ứng của lạm phát trước cú sốc từ phía cầu: ...................... 47
4.3.5. Phản ứng của lạm phát trước cú sốc từ phía cung: .................... 48
4.3.6. Một số kết quả khác từ mô hình: ................................................ 48
5. KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH.................................................................. 50
5.1. Thực hiện một chính sách “quản lý tiền tệ chặt chẽ” thay vì “thắt chặt
tiền tệ” ................................................................................................... 50
5.2. Quản lý đầu tư công hiệu quả – kiên quyết bỏ việc ưu đãi cho các doanh
nghiệp nhà nước .................................................................................... 50
5.3. Một mục tiêu rõ ràng và kế hoạch thực hiện trong dài hạn .................. 52
5.4. Nâng cao vai trò của các dự báo trong việc thực thi các chính sách .... 53
5.5. Thực hiện đo lường lạm phát kỳ vọng trong dân chúng ....................... 54
5.6. Quyết tâm chính trị ................................................................................ 54
6. KẾT LUẬN.................................................................................................... 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. a
PHỤ LỤC ...............................................................................................................d


iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHTW

Ngân hàng Trung ương

PPI

IV

Các biến công cụ (Instrumental Variables)

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

ADF

Kiểm định Augmented Dickey – Fuller

CPI

Chỉ số giá tiêu dùng

NEER

Tỷ giá danh nghĩa hiệu dụng

WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

ODA


tích chính sách cũng như các biến vĩ mô trong nền kinh tế ngày càng được nâng
cao. Tiêu biểu là giải Nobel Kinh tế 2011 được trao cho hai nhà kinh tế Thomas
Sargent và Christopher Sims vì những đóng góp cho kinh tế học thực nghiệm trong quá trình tìm lời giải cho vấn đề xác định cho mô hình cấu trúc và vấn đề biến
ngoại sinh của mô hình. Tuy phát triển theo hai con đường khác nhau, nhưng
phương pháp của Sargent và Sims không đối lập mà bổ sung tốt cho nhau. Và đây
cũng là cơ sở cho sự ra đời của phương pháp SVAR, một phương pháp hiệu quả
trong việc phân tích chính sách và hiện nay đang được sử dụng rất phổ biến ở nhiều
quốc gia. Dựa trên thành tựu này cộng với thực trạng lạm phát cao ở Việt Nam
trong thời gian vừa qua, chúng tôi tiến hành ứng dụng phương pháp SVAR trong
việc phân tích lạm phát ở Việt Nam, làm cơ sở cho việc đưa ra các khuyến nghị để
điều tiết lạm phát trong thời gian tới.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính. Thứ nhất là tìm hiểu sự phát triển
của phương pháp SVAR trong kinh tế học thực nghiệm. Phương pháp này đã khắc
phục được những vấn đề gì của các phương pháp trước đây và hạn chế vẫn còn tồn
tại của nó? Thứ hai, ứng dụng phương pháp SVAR vào việc xây dựng một mô hình
phân tích lạm phát ở Việt Nam. Dựa trên mô hình xây dựng được, bài nghiên cứu sẽ
đi sâu vào giải quyết ba câu hỏi:
(1) Các nhân tố tác động mạnh đến lạm phát ở Việt Nam?
(2) Khi có một cú sốc trong chính sách thì nó sẽ tác động như thế nào đến lạm
phát?
(3) Thời gian để lạm phát phản ứng lại một chính sách mới hay một chính sách
đưa ra để giải quyết vấn đề lạm phát thì cần thời gian bao lâu mới phát huy
tác dụng?


2

Những phân tích này cũng là cơ sở để nhóm nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị
trong việc điều tiết lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới.

6. HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI
Tuy bài nghiên cứu đã hệ thống lại phương pháp luận của SVAR nhưng do hạn chế
của người thực hiện cũng như vấn đề nghiên cứu SVAR trong nước nên bài nghiên
cứu chỉ mới ở mức độ gợi mở hướng nghiên cứu, phát triển vấn đề này trong thời
gian tới. Theo đó, chúng tôi đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp cho đề tài:
Theo hướng lý luận: hoàn thiện nền tảng lý thuyết của phương pháp SVAR. Đặc
biệt là vai trò của yếu tố kỳ vọng trong các mô hình kinh tế học thực nghiệm thời
gian gần đây. Cấu trúc sâu của nền kinh tế với việc xây dựng một lý thuyết kinh tế
học vĩ mô dựa trên nền tảng vi mô với nhân tố kỳ vọng làm trọng tâm
Theo hướng thực tiễn: xây dựng được một mô hình phân tích lạm phát dựa trên
phương pháp SVAR với các biến đặc thù cho nền kinh tế Việt Nam theo thời gian.
Có thể xem xét được tác động của hiệu quả đầu tư (ICOR), thâm hụt ngân sách và
chênh lệch được giá vàng trong nước và giá vàng thế giới lên lạm phát.


4

1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Cho đến cuối thập niên 60, giới nghiên cứu và hoạch định chính sách vĩ mô sử dụng
những mô hình kinh tế học thực nghiệm (macroeconometric models) được xây
dựng trên cơ sở lý thuyết Keynes để phục vụ cho công tác phân tích và dự báo. Một
số mô hình nổi tiếng của Multimod, Fair, Wharton, Nigem, Murphy bao gồm hàng
chục, thậm chí hàng trăm phương trình biểu diễn các quan hệ kinh tế vĩ mô quan
trọng, còn được gọi là mô hình cấu trúc. Tuy nhiên, vào thập niên 70, các mô hình
kinh tế học thực nghiệm phải trải qua một cuộc kiểm tra mang tính quyết định khi
đối mặt với một sự kiện không thể lý giải được, đó là tình trạng tỷ lệ lạm phát cao đi
kèm với tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, còn được gọi là “tình trạng đình lạm –
stagflation” (Parliament, 1965). Khái niệm này rất đáng chú ý vì một yếu tố chủ đạo
trong tất cả các mô hình Keynes là sự đánh đổi giữa lạm phát và tốc độ tăng trưởng
sản lượng thực. Đây là sự thất bại của các mô hình kinh tế học thực nghiệm Keynes

lượng các tham số cấu trúc. Với một loạt nghiên cứu của mình, Sims đã đưa ra một
phương pháp mới, ước lượng toàn bộ các phương trình vĩ mô bằng VAR chỉ bao
gồm các biến nội sinh. Điểm đặc biệt trong phương pháp của Sims là khả năng phân
tách các cú sốc bất ngờ trong các biến vĩ mô ra khỏi các cú sốc đã được kỳ vọng
nhằm mục đích phân tích chính sách dưới tác động của những cú sốc bất ngờ,
không được dự tính trước. Không những thế phương pháp của Sims còn giúp các
nhà kinh tế ước lượng được mức độ và thời gian phản ứng của một nền kinh tế cụ
thể với từng loại sốc khác nhau thông qua hàm phản ứng đẩy, do đó vừa giúp cho
công tác dự báo dễ dàng hơn vừa có thể đề ra những chính sách đối phó thích hợp.
Tuy nhiên, phương pháp VAR ban đầu của Sims gặp phải sự phê bình do tính chất
“phi lý thuyết” của nó và đòi hỏi việc xác định các cú sốc cơ bản từ sai số dự báo
phải dựa trên các lập luận lý thuyết vững chắc và xem xét các cú sốc cơ bản dưới
một cấu trúc cụ thể. Lúc này phương pháp luận SVAR (Structural VAR) ra đời,
trong đó, phương pháp của Sargent trở thành một trong những phương pháp xác
định phổ biến nhất.
Ứng dụng những thành tựu trên, việc sử dụng mô hình SVAR trong các nghiên cứu
thực nghiệm gần đây ngày càng trở nên phổ biến và đóng một vai trò quan trọng
trong việc phân tích chính sách, điều gì sẽ xảy ra khi có một cú sốc trong chính sách
kinh tế hay cần thời gian bao lâu để một chính sách đưa ra có hiệu lực theo mong


6

muốn của người làm chính sách. Nếu dự liệu được những vấn đề này thì có thể dự
phòng được những tình huống có thể xảy ra cho nền kinh tế, từ đó đưa ra được
những biện pháp phù hợp. Dựa trên ý tưởng này cùng với thành công của các mô
hình nghiên cứu thực nghiệm SVAR ở các quốc gia, bài nghiên cứu tập trung sử
dụng phương pháp SVAR trong việc phân tích lạm phát ở Việt Nam. Dựa trên mô
hình xây dựng được, bài nghiên cứu đi sâu vào giải quyết ba câu hỏi (1) các nhân tố
tác động mạnh đến lạm phát ở Việt Nam; (2) khi có một cú sốc trong chính sách thì

(2.1)
Trong đó,

là vector

của các biến nội sinh.

sinh và trễ của các biến nội sinh. Phần dư

là vector các biến ngoại

đại diện cho các biến động cấu trúc

(structural innovations) của nền kinh tế.

là ma trận phương sai – hiệp

phương sai của các biến động cấu trúc này1. Ma trận hệ số



là các tham số

cần ước lượng. Vấn đề cơ bản khi ước lượng các mô hình cấu trúc là không thể ước
lượng trực tiếp (2.1) và nhận được giá trị đúng của

và . Thông tin từ mẫu dữ liệu

không đủ để thực hiện điều này nếu không có thêm các giới hạn xác định
(identifying restrictions). Có một tập hợp vô hạn các giá trị khác nhau cho


không suy biến :
(2.3)

1

Tất cả các biến đều được viết dưới dạng logarit.

2

Xem Hamilton (1994), trang 245.


8



R ràng, hai mô hình (2.3) và (2.1) có cấu trúc khác nhau nhưng lại có chung một
dạng rút gọn, hàm ý cả hai mô hình này là tương đương nhau về mặt quan sát. Đây
chính là vấn đề xác định mô hình: nếu không có thêm những giả định bổ sung, còn
gọi là các hạn chế xác định, thì không thể suy ra các tham số cấu trúc của mô hình
“đúng” từ tập hợp dữ liệu quan sát bởi vì các mô hình cấu trúc khác nhau lại cho ra
cùng một dạng rút gọn.
2.1.2. Phương pháp giải quyết vấn đề xác định
Trong các mô hình kinh tế thực nghiệm Keynes, vấn đề xác định được giải quyết
bằng cách áp đặt một tập hợp các hạn chế tiên nghiệm lên các thành phần của ma
trận





thường không được áp

đặt các ràng buộc hạn chế: cụ thể là phương pháp này không giả định các biến động
cấu trúc phải trực giao.
Minh họa sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu r hơn về cách giải quyết vấn đề xác định
trong các mô hình kinh tế học thực nghiệm Keynes. Một mô hình đơn giản gồm một
biến sản lượng

– đại diện cho các biến phi chính sách và một biến cú sốc tiền tệ

3

Xem Faust (1999), trang 5.

4

Ngoài ra, các giới hạn xác định cần phải thực hiện đầy đủ các điều kiện xếp hạng và trật tự

xác định. Xem Greene (1997), trang 724.


9

– đại diện cho công cụ chính sách tiền tệ. Mô hình cấu trúc được giả định có
dạng:
(2.4)
Trong đó,

biểu thị các đa thức của toán tử trễ


hệ số. Do đó, mỗi phương trình cần có thêm một hạn chế xác định để có thể ước
lượng các tham số cấu trúc từ dữ liệu quan sát.
Như trình bày ở trên, việc xác định trong các mô hình kinh tế học thực nghiệm
Keynes được thực hiện bằng cách áp đặt các hạn chế loại trừ lên các phần tử của ma
trận



. Những hạn chế này được áp đặt vào mô hình trên cơ sở tiên nghiệm

không thể kiểm định. Do đó, chúng cần dựa trên một nền tảng lý thuyết vững chắc.
Hạn chế đối với , có thể lập luận do sự chậm trễ trong việc thu thập số liệu thống
kê hoạt động kinh tế nên các nhà hoạch định chính sách tiền tệ không thể quan sát
sản lượng trong cùng thời kỳ. Do đó, không thể phản ứng tức thời với các biến động
sản lượng, ngụ ý hạn chế tham số

. Cũng có thể lập luận, chính sách tiền tệ

chỉ ảnh hưởng đến sản lượng sau một độ trễ nhất định do độ trễ trong cơ chế dẫn


10

truyền. Theo lập luận này, tham số
ma trận

có thể thiết lập bằng 0. Với hai hạn chế này,

trở thành ma trận đơn vị và dạng rút gọn (2.5) thực sự đại diện cho một



11

lượng các thông số cấu trúc trong phương trình này. Nguyên tắc xác định được
minh họa trong hình 2.1.
Hình 2.1: Xác định hàm cung tiền

Nguồn: Jan Gottschalk (2011), An introduction into the SVAR methodology:
identification, interpretation and limitations of SVAR models, Fig 1.
Hình 2.1 mô tả đường cung tiền MS và tổng cầu AD. Ban đầu, hệ thống này ở điểm
A. Giả định khi chính sách tài khóa mở rộng, biểu thị bằng dG1. Theo hạn chế xác
định, sự mở rộng này chỉ ảnh hưởng đến tổng cầu mà không ảnh hưởng trực tiếp
đến cung tiền. Khi đó, đường AD dịch chuyển và MS không đổi tạo thành trạng thái
cân bằng mới tại điểm B. Tương tự trong trường hợp chính sách tài khóa thu hẹp,
điểm cân bằng dịch chuyển đến điểm C. Nối ba điểm C, A, B ta được một mô tả tốt
cho đường cung tiền MS. Nói cách khác, thay đổi trong lập trường chính sách tài
khóa là một nguyên nhân ngoại sinh của sự thay đổi tổng cầu và giúp xác định
đường MS – đang bị ghì chặt bởi các giới hạn xác định.
 Xác định hàm tổng cầu
Tương tự, công cụ cần thiết để xác định hàm tổng cầu là một biến ngoại sinh tương
quan với cung tiền nhưng không phải là một yếu tố xác định tổng cầu. Rất khó để


12

tìm được một biến công cụ như vậy. Một ứng cử tương đối thích hợp là term
spread5. Biến này tương quan với cung tiền nếu các nhà hoạch định chính sách tiền
tệ điều chỉnh thay đổi cung tiền do tái phân bổ danh mục đầu tư – yếu tố phụ thuộc
vào sự thay đổi ngoại sinh trong term spread. Trường hợp giả định term spread độc

ông nhấn mạnh: bất kỳ phiên bản nào của học thuyết cho rằng các chủ thể kinh tế
hành xử trên cơ sở lợi ích riêng của họ thì sẽ trở nên mâu thuẫn với những hạn chế
xác định được áp đặt trong sự hình thành kỳ vọng. Hơn nữa, các hạn chế về kỳ vọng
– được sử dụng giải quyết vấn đề xác định – là hoàn toàn tùy tiện và không được
bắt nguồn từ bất kỳ giả định nào phản ánh những nguyên lý cơ bản về hành vi kinh
tế. Bởi vì không có bất kỳ lý thuyết nào được thiết lập với hàm ý rằng tỷ lệ lạm phát
dự kiến nên được mô hình hóa như một hàm tuyến tính của các giá trị lạm phát trễ,
nhưng giả thuyết này lại được sử dụng như một hạn chế xác định trong hầu hết các
mô hình thực nghiệm Keynes. Trong khi đó, vai trò của kỳ vọng ngày càng trở nên

5Chênh

lệch giữa lãi suất ngắn hạn và dài dạn.


13

phổ biến và tạo nên một ảnh hưởng lớn về mối quan hệ động giữa các biến trong
mô hình.
Ngoài ra, Lucas và Sargent còn cho rằng một sự thay đổi trong chính sách nhất thiết
phải dẫn đến sự thay đổi trong một vài tham số cấu trúc (ví dụ như mô tả hành vi
quá khứ của các biến số chính sách) và do đó ảnh hưởng đến các tham số của mô
hình rút gọn một cách rất phức tạp. Như vậy, Lucas và Sargent đã chỉ trích rằng nếu
không biết được tham số cấu trúc nào sẽ bất biến trước sự thay đổi của chính sách
và tham số cấu trúc nào sẽ thay đổi (và thay đổi như thế nào) thì một mô hình kinh
tế thực nghiệm sẽ không có giá trị trong việc đánh giá những chính sách thay thế.
Điều này r ràng là đúng bất kể các mô hình rút gọn có phù hợp với dữ liệu lịch sử
như thế nào hay có những dự báo vô điều kiện (unconditional forecasting) tốt như
thế nào.
Một phê phán khác đến đến từ Sims (1980), ông cho rằng các biến công cụ ngoại

như một yếu tố dự báo của hoạt động kinh tế tương lai, biến này sẽ tác động trực
tiếp đến tổng cầu hiện tại, do đó, hạn chế xác định sụp đổ.
Như vậy, luôn có rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các biến ngoại sinh thực
sự có thể sử dụng như các công cụ xác định. Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực
kinh tế tiền tệ, bởi thực tế, tất cả các biến trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ đều có
một mức độ nội sinh nhất định dựa trên thị trường tài chính được thiết lập tốt và kỳ
vọng hợp lý. Cũng với lý do đó, rất khó để biện minh trên cơ sở tiên nghiệm rằng
một biến nhất định không ảnh hưởng đến biến khác. Do đó, hầu như không có một
hạn chế giới hạn nào thuyết phục.
Theo sau những phê phán của Lucas – Sargent – Sims, kinh tế học thực nghiệm đã
phát triển hai phương pháp tiếp cận chủ yếu: tìm kiếm mô hình cấu trúc sâu của nền
kinh tế dựa trên nền tảng kinh tế học vi mô (được Sargent phát triển) và các tiếp cận
quan tâm đến tác động của các cú sốc không kỳ vọng – phương pháp vector tự hồi
quy VAR (do Sims đề xuất và phát triển). Hai phương pháp này sẽ được phân tích
cụ thể trong phần tiếp theo.


15

2.3.

Nền tảng mới của kinh tế học thực nghiệm

2.3.1. Xác định cấu trúc sâu của nền kinh tế
Đối mặt với phê phán của Lucas (1976), Sargent và một số các nhà kinh tế khác như
Hansen (Sargent và Hansen; 1980, 1981), Kydland và Prescott (1982) tiến hành các
nghiên cứu tìm kiếm cấu trúc sâu của nền kinh tế – cấu trúc bất biến trước sự thay
đổi chính sách. Điều này đỏi hỏi phải tìm kiếm các tham số sâu điều chỉnh hành vi
cá nhân liên quan đến thị hiếu, công nghệ, giới hạn nguồn lực và kỳ vọng,… Các
tham số sâu này phản ánh hành vi cá nhân đã bao hàm kỳ vọng chính sách và do đó


(2.6)

Số hạng đầu tiên của vế phải phương trình nắm bắt khía cạnh hướng về tương lai
(forward-looking) của sự hình thành giá cả –
nhân tại thời điểm

biểu thị kỳ vọng của khu vực tư

nào6. Lạm phát kỳ vọng được đưa vào

của bất kỳ biến

trong phương trình nhằm phản ánh việc thiết lập giá cả hướng về tương lai của các
doanh nghiệp tư nhân, vì họ không thể thay đổi giá cả thường xuyên (ví dụ), do đó
cần quan tâm đến điều kiện nhu cầu trong tương lai và giá cả của các doanh nghiệp
khác. Số hạng thứ hai nắm bắt thành phần quá khứ của lạm phát, ví dụ do chỉ số hóa
trong các hợp đồng. (Lỗ hổng) sản lượng –

cũng ảnh hưởng đến giá cả đặc trưng

bởi sản lượng cao thường kết hợp với chi phí biên sản suất cao hơn. Cuối cùng,
là cú sốc ngoại sinh (thường được gọi là chi phí đẩy), đây là một biến ngẫu nghiên.
Sản lượng:

(2.7)

Số hạng đầu tiên là (lỗ hổng) sản lượng kỳ vọng, tương tự như giá, một phần sản
lượng được quyết định theo cách hướng về tương lai. Thứ đến là thành phần quá
khứ

được hiểu là NHTW sẽ gia tăng lãi suất khi lạm phát tăng

có nghĩa là NHTW sẽ nâng lãi suất trong trường hợp sản lượng gia tăng
hàm ý về một sự thay đổi dễ dàng trong lãi suất.

Để đơn giản hóa, phương trình này và các phương trình về sau sẽ được lược bỏ các hằng số.


17

Để mô tả được những biến động vĩ mô thì tất cả các tham số của mô hình – các


vector hệ số

– phải được biết trước. Những cú sốc ngẫu nhiên

đều được

nhận biết qua thời gian, theo đó gây ra những biến động trong sản lượng và lạm
phát cũng như trong chính sách tiền tệ. Ví dụ như
khi hệ số



là những hệ số chính sách trong

phản ánh những tham số cấu trúc sâu – bất biến trước những thay

đổi của chính sách. Những hệ số này có thể phụ thuộc vào một số ít các tham số

thành dựa trên những thông tin và hiểu biết đầy đủ về hệ phương trình – bao gồm
các phương trình từ (2.6) – (2.8). Do đó, những sự kiện tại thời điểm sẽ phụ thuộc
vào những sự kiện tại thời điểm

, đến lượt nó những sự kiện tại thời điểm

lại phụ thuộc vào những sự kiện tại thời điểm

, và cứ tiếp diễn như thế.

Trước khi hình thành lý thuyết về kỳ vọng hợp lý, biến kỳ vọng được xem như là
một biến ngoại sinh trong mô hình hoặc được mô hình hóa thông qua những giá trị
quá khứ. Chẳng hạn như lạm phát dự kiến có thể được giả định là không đổi hoặc
bằng với lạm phát hiện tại. Điều này có nghĩa rằng việc tìm ra hướng giải quyết cho
hệ phương trình (2.6) – (2.8) sẽ trở thành một nhiệm vụ dễ dàng và mang tính rập
khuôn (máy móc). Tuy nhiên, giả định cơ bản cho rằng một sự thay đổi trong chế
độ chính sách sẽ không kích thích bất kỳ phản ứng nào trong kỳ vọng của khu vực


18

tư nhân. R ràng đây là một giả định không tưởng, đặc biệt là trong trường hợp của
chính sách tiền tệ.
Để giải quyết vấn đề này, Sargent (1977, 1978a, 1978b) sử dụng thực tế là các
phương trình cấu trúc như (2.6) – (2.8) cho phép một giải pháp “hướng về tương
lai”. Do đó, Sargent biểu diễn các biến hiện tại như tổng có trọng số của các cú sốc
hiện tại và tương lai được kỳ vọng (ε), cùng với các biến định trước
với tỷ trọng tất cả phụ thuộc vào các vector tham số cơ bản

. Tiếp đến, để thiết


và đặc tính

có thể dễ dàng được ước lượng các bằng phương pháp

hồi quy cơ bản.
Tuy nhiên, nhiệm vụ hiện tại không phải là ước lượng ma trận
tham số cơ bản
thành

. Đặt





, và hệ cấu trúc (2.6) – (2.8) có thể viết

mà là các
, (2.9) trở


19

7.

Tương ứng với giải pháp phỏng đoán, bắt buộc

, vì vector các cú sốc
. Giả sử ma trận –

, với

là phần dư hồi quy,

cần thiết phải chấp nhận các hạn chế với lý thuyết áp đặt trên các hệ số ma trận .
Trong mô hình ví dụ, hạn chế bao gồm chín phương trình và tám tham số chưa xác
định (trong

). Hơn nữa, phần dư

có ma trận phương sai – hiệp phương sai

với sáu phần tử riêng biệt, bổ sung thêm sáu phương trình thông qua








. Ma trận phương sai – hiệp phương sai của



ba phần tử riêng biệt – do ba cú sốc độc lập ngẫu nhiên – bổ sung thêm ba tham số
cơ bản cần ước ượng. Như vậy, mô hình ví dụ có 15 phương trình và 11 tham số –
hoàn toàn có thể xác định miễn là các điều kiện nhất định được đáp ứng. Hệ có thể
ước lượng bằng cách sử dụng phương pháp maximum-likelihood, và hạn chế đồng
thời áp đặt bởi mô hình có thể được kiểm định một cách r ràng bằng một kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status