LỜI CAM ĐOAN
Lần đầu tiên làm công tác nghiên cứu khoa học với một đề tài tương đối
rộng và khó, người làm khoá luận không tránh khỏi những bỡ ngỡ và thiếu sót. Với
trình độ có hạn, tác giả chưa trang bị được một cách đầy đủ và toàn diện mọi kiến
thức chuyên ngành thông tin thư viện. Do vậy, trong thời gian làm khoá luận, người
làm khoá luận phải sử dụng nhiều tài liệu tham khảo của các tác giả khác nhau.
Tuy nhiên, các tài liệu này chỉ được sử dụng ở mức độ tham khảo với mục đích làm
rõ hơn và mở rộng vấn đề có liên quan tới đề tài đang nghiên cứu. Mọi ý kiến, khái
niệm không phải của riêng tác giả đều được trích dẫn và chỉ rõ nguồn trong danh
mục tài liệu tham khảo của khoá luận.
Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy, cô giáo và các
bạn sinh viên để khoá luận được hoàn thiện hơn.
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo, PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành
Khoá luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong Khoa Thông tin – Thư viện
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình chỉ bảo, dạy dỗ em trong
suốt 4 năm học tập tại Trường.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và các cô chú, anh chị đang công
tác tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội đã giúp đỡ em rất
nhiều trong quá trình thực tập và hoàn thành Khoá luận.
Em xin cảm ơn gia đình và bạn bè - những người luôn bên em, động viên và
khuyến khích để em có thể hoàn thành Khoá luận và có được kết quả như ngày hôm
nay.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2009
Sinh viên
Lê Thị Anh Thư
Biên mục máy tính đọc được
(Machine Readable Cataloguing)
OPAC
Mục lục truy cập công cộng trực tuyến
(Online Public Acess Catalog)
Z39.50
Chuẩn tra cứu liên thư viện
MỤC LỤC
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang diễn ra quá trình hình thành “xã hội thông tin toàn cầu”. Cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, là sự bùng nổ các nguồn lực
thông tin, là kỷ nguyên của kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, tri thức và
thông tin đã trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu, quyết định sự phát triển xã hội.
Nguồn lực thông tin, nguồn lực vật chất và nguồn lực năng lượng đã tạo thành thế
chân vạc cho sự phát triển của một xã hội hiện đại. Trong đó, nguồn lực thông tin
không chỉ cung cấp cho chúng ta tri thức để nhận biết và nắm bắt quy luật phát triển
kinh tế - xã hội mà còn khơi dậy khả năng sáng tạo của con người. Ngày nay, lợi thế
so sánh sẽ thuộc về quốc gia nào có năng lực tổ chức khai thác với hiệu quả cao
Khoá luận được thực hiện với mục đích: Tìm hiểu thực trạng nguồn lực
thông tin của Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội, về phương
thức tổ chức, quản lý và khai thác nguồn lực thông tin.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận đưa ra những đánh giá, nhận xét về những ưu, nhược điểm và đưa
ra những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, đa dạng hoá nguồn lực
thông tin, nâng cao hiệu quả phục vụ người dùng tin, góp phần thúc đẩy sự phát
triển của Trung tâm Thông tin- Thư viện Trường Đại học Hà Nội.
3. Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
Có thể nói, tìm hiểu về nguồn lực thông tin của các Trung tâm thông tin –
thư viện là một vấn đề không còn mới trong các Khoá luận của các khoá trước. Đã
có các đề tài nghiên cứu về vấn đề này như “Tìm hiểu nguồn lực thông tin của
Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội” của tác giả Trần Thị
Phương, hoặc trong Niên luận cuối kỳ “Tìm hiểu nguồn lực thông tin của Thư viện
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội” của tác giả Trần Thế Mạnh.
Tìm hiểu về Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội đã có
một số Khoá luận thực hiện(Đinh Thị Phương Thuý – Tìm hiểu công tác xử lý tài
liệu tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội...). Tuy nhiên, vấn
đề “Tổ chức, quản lý và khai thác nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin –
Thư viện Trường Đại học Hà Nội” cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu
nào đề cập tới.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi về không gian
Không gian: Tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội.
4.2. Phạm vi về thời gian
Thời gian: 2008-2009
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
2
Chương 3: Các giải pháp tăng cường nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Hà Nội
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
3
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NGUỒN LỰC THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
1.1 TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
1.1.1 Khái quát về Trường Đại học Hà Nội
Trường Đại học Hà Nội(tiền thân là trường Đại học Ngoại ngữ) là trường đại
học công lập, được thành lập năm 1959.
Trường Đại học Hà Nội là cơ sở đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực trình độ
đại học, sau đại học có khả năng sử dụng ngôn ngữ nước ngoài, đáp ứng nhu cầu
của thị trường lao động trong và ngoài nước. Ngoài ra, trường Đại học Hà Nội được
Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo ngoại ngữ cho lưu học sinh, nghiên
cứu sinh, thực tập sinh đi học nước ngoài; bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ
cho cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý của các Bộ, ban, ngành Trung ương và địa
phương trong cả nước.
Trường Đại học Hà Nội có khả năng giảng dạy các ngoại ngữ: Anh, Nga,
Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Hàn Quốc,
Bungari, Hung-ga-ri, Séc, Slô-văk, Ru-ma-ni, Thái lan, A Rập… Trong số các
ngoại ngữ nêu trên có 10 chuyên ngành đào tạo cử nhân ngoại ngữ, 4 chuyên tiếng
đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ.
Trường Đại học Hà Nội đã triển khai đào tạo cử nhân các chuyên ngành khác
dạy bằng ngoại ngữ từ năm 2002 như: Quản Trị kinh doanh, Du lịch, Quốc tế học,
Công nghệ - thông tin, Viện nghiên cứu xã hội và phát triển.
Nhà trường đã ký kết hợp tác đào tạo với trên 30 trường đại học nước ngoài;
có quan hệ đối ngoại với trên 60 tổ chức, cơ sở giáo dục quốc tế; có quan hệ trực
tiếp với hầu hết các đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam; Tham gia các hoạt động
văn hoá đối ngoại, giao lưu ngôn ngữ-văn hoá với nhiều tổ chức, cá nhân nước
ngoài tại Việt Nam và quốc tế. Nhiều Đại sứ quán, các tổ chức quốc tế, doanh
nghiệp nước ngoài đã hợp tác hỗ trợ Nhà trường trong lĩnh vực phát triển nguồn
nhân lực thông qua những chương trình hỗ trợ năng lực quản lý, đào tạo giáo viên
trẻ và tài trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều đoàn khách cấp cao, các tổ
chức giáo dục quốc tế các trường đại học nước ngoài đến thăm và làm việc với
Trường. Trung bình mỗi tuần có khoảng 4 đến 5 đoàn khách nước ngoài đến thăm
trường.
Một số trường đại học nổi tiếng của nước ngoài, như Đại học Westminster,
Central Lancashire(Vương Quốc Anh), Đại học Dublin City(Ireland), Đại học
AUT(New Zealand), Đại học La Trobe, Victoria, Griffith(Australia), Đại học
IMC(Australia) đã công nhận chương trình đào tạo của Trường Đại học Hà Nội…
Theo đó, sinh viên của Trường Đại học Hà Nội sau 3 năm đầu học tại Trường và
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
5
Khoá luận tốt nghiệp
học năm cuối tại các trường đối tác này đã được các trường đối tác cấp bằng cử
nhân.
Để phấn đấu thành trường đại học quốc tế trong khu vực, nhiều năm qua,
Trường Đại học Hà Nội đã liên tục tích lũy kinh nghiệm, không ngừng phấn đấu,
học hỏi các trường có đẳng cấp quốc tế trên thế giới về quy trình đào tạo, xây dựng
chương trình, hệ thống giáo trình, tăng cường cơ sở vật chất... Trường duy trì
phương châm hợp tác với các trường đại học khác trong khu vực và trên thế giới
tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội”. Trung tâm thực hiện
dự án nâng cấp hiện đại theo hướng mở, bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng thế
giới WB(World Bank) mức A vốn đầu tư 500.000 USD để đầu tư nâng cấp cơ sở
vật chất - kỹ thuật trụ sở, trang thiết bị.
Ngày 5/12/2003 Trung tâm đã đi vào hoạt động tại trụ sở mới và không
ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị. Đặc biệt, năm 2005 Trung tâm đã
ứng dụng và triển khai phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol để nâng cao hiệu
quả hoạt động thông tin thư viện. Hiện nay, Trung tâm đã đi vào hoạt động ổn định
và từng bước hiện đại, ngày càng đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của trường Đại
học Hà Nội nói riêng và của ngành giáo dục đào tạo của nước ta nói chung trong
thời đại mới.
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
Chức năng
Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Hà Nội thực hiện chức năng
là “giảng đường thứ 2 của Đại học Hà Nội”, thực hiện chức năng thông tin, thu
thập, xử lý, bảo quản, cung cấp và phổ biến thông tin tư liệu bằng nhiều hình thức
khác nhau.
Nhiệm vụ
- Tham gia đóng góp ý kiến cho Ban Giám hiệu về công tác thông tin, tư liệu
phục vụ cho quá trình đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu khoa học của trường.
- Thu thập, bổ sung, trao đổi thông tin tư liệu cần thiết, tiến hành xử lý, cập
nhật dữ liệu đưa vào hệ thống quản lý và tìm tin tự động. Tổ chức cơ sở hạ tầng
thông tin.
- Phục vụ thông tin tư liệu cho bạn đọc là cán bộ, giảng viên, sinh viên trong
công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập.
- Hướng dẫn giúp người dùng tin tiếp cận cơ sở dữ liệu và khai thác các
nguồn tin trên mạng.
- Kết hợp với các đơn vị chức năng trong trường hoàn thành tốt quản lý, sử
dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn tài liệu của Trung tâm.
Trong suốt quá trình hoạt động, Trung tâm luôn xác định rõ chức năng,
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
8
Khoá luận tốt nghiệp
BAN GIÁM ĐỐC
Bộ Phận mạng máy
tính
Bộ phận thư viện
Bộ phận
Bộ phận
Bộ phận
Bộ phận
Bộ phận
Bộ phận
nghiệp
phục vụ
điện tử
trường
Đội ngũ cán bộ
Cán bộ thư viện là cầu nối hết sức quan trọng giữa người dùng tin với thư
viện – kho tri thức của nhân loại. Tài liệu trong thư viện có được sử dụng và khai
thác một cách triệt để hay không đó là điều phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của
người cán bộ thư viện. Những cuốn sách chỉ thực sự trở nên hữu ích khi có người
đọc và nghiên cứu nó. Một thư viện phục vụ tốt là thư viện có nhiều bạn đọc đến
nhất. Bởi vậy, người ta nói cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện thật có ý nghĩa.
Hiện nay, tổng số cán bộ của Trung tâm gồm có 24 cán bộ, trong đó có 17
cán bộ tốt nghiệp đại học ngành thông tin - thư viện, 5 người tốt nghiệp ngành công
nghệ Thông tin và Điện tử viễn thông, 7 cán bộ đang học cao học. Trung tâm có đội
ngũ cán bộ thư viện trẻ, dễ dàng tiếp thu những cái mới, có trình độ chuyên môn
ngày càng được nâng cao, có khả năng nắm bắt nhanh sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, biết sử dụng thành thạo các trang thiết bị của Trung tâm, có tinh thần thái độ
phục vụ nhiệt tình, biết tư vấn, hướng dẫn thông tin cho bạn đọc.
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
9
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật của Trung tâm
Cơ sở vật chất là một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với các cơ quan thông tin
thư viện. Nó thể hiện sự vững mạnh của các cơ quan này trong tiến trình hoạt động.
Hệ thống máy tính hiện nay của Trung tâm bao gồm hơn 200 máy, trong đó
có 5 máy chủ và 200 máy trạm.
Khoá luận tốt nghiệp
1.2.1 Cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ nghiên cứu giảng dạy
Cán bộ lãnh đạo, quản lý
Là những người đưa ra chính sách, xây dựng các kế hoạch phát triển của
Trường nói chung và Trung tâm nói riêng. Nhóm người dùng tin này thường có rất
ít thời gian đến để khai thác tài liệu ở Trung tâm . Do đó, thông tin để phục vụ
nhóm đối tượng này cần được cung cấp đến tận nơi ở hoặc nơi làm việc của họ.
Đặc điểm nhu cầu tin:
+ Cần thông tin chung về các vấn đề như nguồn nhân lực, nguồn tài chính,
mối quan hợp tác với bên ngoài, các thành tựu đạt được trong nghiên cứu khoa học,
thông tin về cơ cấu tổ chức…
+ Thông tin cung cấp cần đảm bảo tính chính xác, logic.
+ Đảm bảo tính kịp thời của thông tin phụcvụ cho quá trình ra quyết định của
họ.
Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy
Đây là nhóm người dùng tin có nhu cầu cao và bền vững vì thông tin là tiềm
năng hoạt động khoa học và giảng dạy của họ. Trường Đại học Hà Nội là trường
đào tạo đa ngành, nhưng phần lớn vẫn là đào tạo ngoại ngữ, vì vậy nhu cầu tin của
nhóm này tập trung vào tài liệu về chuyên ngữ, khoa học tự nhiên, văn hóa du lịch,
hợp tác quốc tế… Đối tượng này ít sử dụng thư viện Trung tâm , mà thường sử
dụng tủ sách hạt nhân trên các thư viện Khoa(Thư viện Khoa vẫn do Trung tâm
Thông tin - Thư viện quản lý).
Đặc điểm nhu cầu tin của nhóm này:
+ Nhu cầu tin mang tính tổng hợp và chuyên sâu
+ Nhu cầu tin mang tính logic: Thông tin họ cần là thông tin đầy đủ, ngắn
gọn, chính xác và có tính hệ thống, logic.
+ Thông tin cung cấp cho họ phải đảm bảo tính giá trị khoa học.
+ Hình thức thông tin: Sử dụng nhiều loại hình tài liệu nhưng chủ yếu là tài
học tập. Lúc này thư viện được xem là “giảng đường thứ hai”, là kênh thông tin
quan trọng giúp người học nắm bắt và làm chủ tri thức. Nhu cầu tự học, tự nghiên
cứu đã và đang thu hút được sự quan tâm của sinh viên. Từ đây cũng đặt ra cho
Trung tâm nhiệm vụ và yêu cầu mới.
- Nhóm sinh viên tại chức:
Sinh viên tại chức của trường có nhu cầu tin chưa cao và không thường
xuyên sử dụng thư viện trường. Họ chủ yếu lên thư viện nhiều vào mùa thi. Đôi khi
họ đến thư viện không phải chỉ khai thác thông tin phục vụ học tập mà còn để thỏa
màn nhu cầu giải trí của mình.
- Nhóm sinh viên dự án
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
12
Khoá luận tốt nghiệp
Đây là nhóm người dùng tin không thường xuyên của Trung tâm, tuỳ theo
các khoá đào tạo ngắn hạn của Nhà trường. Nhóm người dùng tin này chiếm 7,37%
trong tổng số người dùng tin của Trung tâm. Với nhóm đối tượng sinh viên thuộc
các dự án ngắn hạn(đào tạo trong 3 tháng, 6 tháng hoặc 9 tháng), người dùng tin
không được mượn tài liệu về nhà, chỉ có thể đọc, sử dụng tài liệu tại chỗ.
Đặc điểm nhu cầu tin của nhóm này:
- Nhu cầu tin tập trung chủ yếu vào các loại tài liệu phục vụ cho việc học
tiếng để du học: Sách luyện thi TOEFL, IELTS, các loại băng đĩa…
Học viên cao học
Học viên cao học là những người đã tốt nghiệp đại học, vì vậy ít nhiều có
kinh nghiệm trong việc sử dụng thư viện, hiểu biết về phương pháp và cách thức
khai thác sử dụng thư viện một cách có hiệu quả nhất để phục vụ cho việc nghiên
cứu, học tập của mình. Thông tin dành cho họ có tính chất chuyên sâu, phù hợp với
cơ bản sau:
* Tính vật lý
Nguồn lực thông tin phải được ghi lại, cố định lại trên một nền tảng vật chất
nhờ một hệ thống dấu hiệu để vật hoá như giấy, đĩa, băng từ, vi tính. Những nguồn
thông tin này là những vật thể sống xung quanh chúng ta. Trong bối cảnh của xã hội
hiện đại, việc vật hoá các nguồn thông tin vô cùng khó khăn, đặc biệt là trong thời
đại bùng nổ thông tin nên việc xử lý, ghi lại và quản trị thông tin trước một khối
lượng thông tin khổng lồ như hiện nay cần phải đầu tư nhiều nhân lực, vật chất và
tiền của.
* Tính cấu trúc
Tính cấu trúc thể hiện trong nguồn lực thông tin là những thông tin được ghi
lại theo những thể thức và tiêu chuẩn nhất quán. Thông tin phải được trình bày, sắp
xếp trật tự hoá theo những cấu trúc phù hợp nhằm giúp con người bảo quản an toàn
và truy nhập thông tin được an toàn. Thông tin phải được sắp xếp theo chuyên đề,
theo môn loại, theo số đăng ký cá biệt tuỳ theo cách lưu giữ và bảo quản của từng
cơ quan thông tin thư viện.
* Tính truy cập
Nguồn lực thông tin phải được tổ chức lại sao đó để có thê truy cập được
theo các dấu hiệu khác nhau. Thông tin được truy cập là những thông tin cung cấp
giá trị cho con người trong hoạt động thực tiễn. thông tin chỉ có giá trị khi nó được
truyền đi, phổ biến và được sử dụng. Để truy cập thông tin phải thông qua các điểm
truy cập của nó được xây dựng trên bộ máy tra cứu truyền thống như mục lục chữ
cái, tên sách, tên tác giả, mục lục phân loại, ấn phẩm thư mục hay trên các CSDL
như thuật ngữ tìm kiếm, từ khoá từ chuẩn và các điểm truy cập trên các CSDL này
phải kết nối với nhau bằng các toán tử logic.
* Tính chia sẻ
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
14
Môi trường vận động thông tin là môi trường truyền tin, nó bao gồm các
kênh liên lạc tự nhiên hoặc nhân tạo như sóng âm, tia sáng, dây dẫn, sóng âm thanh,
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
15
Khoá luận tốt nghiệp
sóng hình... Kênh liên lạc thường nối các thiết bị của máy móc với nhau hay nối với
con người. Con người có hình thức liên lạc tự nhiên và cao cấp là tiếng nói, từ đó
nghĩ ra chữ viết. Ngày nay nhiều công cụ phổ biến thông tin đã xuất hiện: bút viết,
máy in, điện tín, điện thoại, phát thanh, truyền hình, phim ảnh v.v.
Trong đời sống xã hội, thông tin có vai trò là định hướng cho các hoạt động
thực tiễn, phản ánh các mối quan hệ trong cấu trúc xã hội, là điều kiện quan trọng
để nâng cao hiệu quả của sản xuất xã hội tạo nên những ưu thế về kinh tế, xã hội,
chính trị. Thông tin có đặc điểm là một nguồn lực không giới hạn, bởi thông tin là
sản phẩm của hoạt động trí óc và tinh thần mà trí tuệ của con người ngày càng
phong phú đa dạng, nó liên tục biến đổi và phát triển trong mọi điều kiện. Do bản
chất không thể xác định được của thông tin, giá trị của thông tin thay đổi rất rộng,
đặc biệt là theo thời gian đã gây nhiều khó khăn cho vấn đề tổ chức các nguồn lực
thông tin.
Sử dụng thông tin trong đời sống xã hội ngày càng tăng với số đông quần
chúng. Mọi người sử dụng thông tin để lựa chọn các loại sản phẩm thông tin khác
nhau, phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình để kiểm soát tốt hơn, đồng thời sử
dụng thông tin với vai trò thực hiện những quyền hạn và trách nhiệm công dân của
mình. Và sự ứng dụng những kết quả nghiên cứu của khoa học để phục vụ đời sống,
phát triển kinh tế- xã hội phụ thuộc trực tiếp vào khả năng tiếp cận nghiên cứu
thông tin khoa học kỹ thuật mới nhất. Trong điều kiện hiện nay, khoa học kỹ thuật
và sản xuất là những bộ phận quan hệ khăng khít với nhau tạo thành chu trình “khoa
học - kỹ thuật - sản xuất” mà thực chất của mối quan hệ này là trao đổi thông tin
phát huy tính tích cực, năng động của sinh viên, bên cạnh nghe giảng cần phải tham
khảo số lượng lớn tài liệu. Nguồn lực thông tin tương hợp với nhu cầu tin và mục
tiêu đào tạo của nhà trường, được tổ chức khoa học và hợp lý vì vậy có vai trò ngày
càng quan trọng hơn.
Muốn đạt được mục tiêu trên, Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Hà
Nội cần tổ chức quản lý tiềm lực khoa học và công nghệ trong nhà trường, đồng
thời khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực thông tin khoa học đó, nhằm đáp
ứng tốt nhu cầu tin cho các đối tượng người dùng tin của Trung tâm. Điều này góp
phần nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong nhà trường, đáp
ứng nhu cầu của xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và công nghiệp hoá - hiện
đại hoá ở nước ta hiện nay.
1.3.3. Yêu cầu đối với nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin –
Thư viện Trường Đại học Hà Nội
Nguồn lực thông tin là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự xuất hiện thư viện.
Muốn xây dựng thư viện, công việc đầu tiên phải có được là một khối lượng tài liệu
nhất định, đó là cơ sở quan trọng đảm bảo cho thư viện có thể mở cửa phục vụ độc
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
17
Khoá luận tốt nghiệp
giả. Vì thế, vai trò của nguồn lực thông tin trong thư viện được thể hiện là cơ sở để
vận hành thư viện, không có vốn tài liệu thì thư viện không thể hoạt động được hay
mọi hoạt động của thư viện đều liên quan đến vốn tài liệu. Do đó, để có thể phát
triển trong giai đoạn mới, đáp ứng đầy đủ và hiệu quả nhu cầu đa dạng của người
dùng tin, nguồn lực thông tin của Trung tâm phải đạt được những yêu cầu sau:
* Tính khoa học
Vốn tài liệu của Trung tâm phải có khả năng cung cấp những thông tin có giá
trị về các lĩnh vực, phù hợp với sự thay đổi của dòng tài liệu cũng như nhu cầu
Có thể nói, nguồn lực thông tin là tài sản của thư viện. Trung tâm Thông tin
– Thư viện Trường Đại học Hà Nội cần phải chú trọng tới các yêu cầu đối với
nguồn lực thông tin để nâng cao hiệu quả phục vụ người dùng tin.
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
19
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN
TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
2.1 CƠ CẤU NGUỒN LỰC THÔNG TIN
2.1.1 Cơ cấu nội dung nguồn lực thông tin
Trung tâm Thông tin – thư viện Trường Đại học Hà Nội là cơ quan trực
thuộc Trường Đại học Hà Nội có nhiệm vụ thực hiện chức năng cung cấp thông tin
phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng và quản lý của
Đại học Hà Nội. Bên cạnh nhiệm vụ thu thập, lưu trữ, bảo quản và truyền bá các di
sản văn hoá của nhân loại, Thư viện Trường Đại học Hà Nội còn có nhiệm vụ bổ
sung và chọn lọc các tài liệu ngoại văn có liên quan đến các lĩnh vực đào tạo của
nhà trường.
Nội dung nguồn lực thông tin thể hiện ở 10 lĩnh vực chính:
Bảng 1. Thống kê cơ cấu nội dung nguồn lực thông tin
Nội
dung
375
1,34
1014
3,63
100
0,35
phẩm tổng quát
Triết học và tâm lý học
Tôn giáo
Khoa học xã hội
Công nghệ
Nghệ thuật và vui chơi
giải trí
Văn học
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
20
Khoá luận tốt nghiệp
Lịch sử & địa lý
Ngôn ngữ
Tổng số: 21458 tên; 28727 bản
* Luận án, luận văn: Tổng số: 486 tên; 998 bản
* Báo, tạp chí: Tổng số: 166 tên tạp chí khác nhau; 32946 Số; 49593 tổng số bản.
- Tài liệu điện tử:
+Cơ sở dữ liệu do Trung tâm xây dựng:
CSDL sách: 20924 Biểu ghi
CSDL báo, tạp chí: 1024 Biểu ghi
CSDL luận án, luận văn: 286 Biểu ghi
Lê Thị Anh Thư K50 Thông tin – Thư viện
21