LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi nền kinh tế Việt nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết
vĩ mô của Nhà nước, các ngành kinh tế có bước phát triển mạnh mẽ. Sự phát triển
cũng nhờ một phần sự đóng góp của ngành khai thác Cảng, sản xuất của Cảng
mang tính chất phục vụ sản phẩm, do đó Cảng phải có một tiềm lực dự trữ nhất
định về kỹ thuật và con người.
Trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, ngành khai thác
Cảng đã có những bước phát triển, đi đôi với việc đổi mới và hiện đại hoá cơ sở
vật chất kỹ thuật, các biện pháp tổ chức và quản lý khai thác Cảng đóng vai trò hết
sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác của Cảng.
Nhiệm vụ của Cảng là xếp dỡ hàng hoá cũng như thực hiện các dịch vụ liên
quan đến tàu, hàng hoá và các phương tiện đến Cảng. Cảng còn là đầu mối giao
thông quan trọng của nhiều địa phương.
Cảng làm nhiệm vụ xuất nhập khẩu các loại hàng hoá, thuận lợi cho việc tập
trung các nhà máy, phát triển các quan hệ thương mại, buôn bán, tạo điều kiện cho
kinh tế quốc đân phát triển.
Thực tiễn cho thấy sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp phụ thuộc rất
lớn vào vấn đề doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, đặt ra như một vấn đề cấp
bách, là mấu chốt quyết định sự tăng trưởng, quyết định khả năng cạnh tranh của
các danh nghiệp. Chỉ khi nào công tác quản lý và khai thác được thực hiện tốt thì
doanh nghiệp mới có điều kiện duy trì và phát triển, tạo nguồn tích luỹ cho bản
thân danh nghiệp và cho toàn xã hội.
1
PHẦN I: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU BAN ĐẦU
I. Điều kiện tự nhiên của cảng Hải Phòng.
1. Vị trí địa lí của Cảng Hải Phòng:
Cảng Hải Phòng là cảng biển có quy mô lớn nhất miền Bắc Việt Nam, nằm
dọc tả ngạn bờ sông Cấm, là một nhánh của sông Thái Bình cách cửa biển Nam
Cảng Hải Phòng chịu ảnh hưởng của thời tiết miền Bắc Việt Nam. Mỗi năm
có bốn mùa, lượng mưa trung bình là 1800ml. Những ngày mưa Cảng ngừng công
tác xếp dỡ. Thời gian chiếm từ 29 đến 30 ngày/năm.
Cảng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: gió Đông Nam từ tháng 5 đến
tháng 10, gió Đông Bắc từ tháng 10 - 4 năm sau. Khi có gió lớn công tác xếp dỡ
gặp nhiều khó khăn đặc biệt đối với hàng rời. Gió từ cấp 6 trở lên, sự làm việc của
các xí nghiệp xếp dỡ gặp nhiều khó khăn.
Cảng Hải phòng gặp nhiều ảnh hưởng của gió bão, khi có bão Cảng phải
ngừng làm việc. Bão thường có từ tháng 5 - tháng 8, trung bình mỗi năm có 6 đến
9 cơn bão. Hàng năm cảng có một kế hoạch chi phí cho việc phòng chống bão. Cảng
thường phải ngừng hoạt động từ 10 đến 12 ngày trong năm do ảnh hưởng của bão.
Cảng Hải Phòng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều do
đó nhiệt độ nhìn chung cao, chênh lệch từ 230 đến 270c, về mùa hè có thể lên đến
300 đến 350c. Độ ẩm của Cảng tương đối cao bình quân từ 70 đến 80%. Độ ẩm ảnh
hưởng lớn đến công tác bảo quản hàng hoá, dễ gây hiện tượng đổ mồ hôi vì vậy
phải thường xuyên theo dõi để có biện pháp kịp thời.
Sương mù thường xuất hiện vào sáng sớm mùa đông, có ngày sương mù dày
đặc, làm việc không an toàn, tốc độ làm hàng chậm, kém năng suất, đặc biệt tàu bè
ra ngoài Cảng khó khăn,dễ gây tai nạn, chậm trễ giờ tàu ra vào Cảng do đó cũng
gây ảnh hưởng lớn đến việc khai thác ở Cảng.
Cảng Hải phòng nhìn chung không có lũ lớn nhưng về mùa mưa trong sông
Cấm lũ tràn về gây ảnh hưởng đến công trình, tàu thuyền qua lại khu vực Cảng rất
3
khó khăn nhất là những máng làm hàng trong mạn rất khó cập mạn xà Lan vào tàu.
Có khi lũ lớn gây ảnh hưởng đến công tác xếp dỡ hàng hoá. Do ảnh hưởng của lũ
lụt, hàng năm Cảng phải ngừng sản xuất từ 3 đến 5 ngày.
5. Điều kiện địa chât
Khu đất: Diện tích khu đất ảnh hưởng trực tiếp đến việc bố trí số lượng
hoạt động .
Bến thuộc dạng thiết kế theo tiêu chuẩn , cảng biển cấp 1 mặt bến có tải
trọng 4T/ m2 .Cảng chùa vẽ chủ yếu xếp dỡ hàng container.
c) Cảng Vật Cách
Bắt đầu xây dựng 1965 , ban đầu là những bến dạng mở cầu có diện tích bến
8 x 8 , cảng có 5 mố cầu trên bố trí cần trục ôtô để bốc than và một số loại hàng
khác từ sà lan có tải trọng từ 100 – 200 T .
d) Hệ thống đường giao thông đến Cảng
Cảng là đầu mối giao thông của các tuyến vận tải theo các phương thức khác
nhau. Cảng Hải Phòng là giao thông của bốn phương thức vận tải : đường biển,
đường sông, đường bộ và đường sắt. do đặc điểm của Cảng nằm sâu trông đất liền
nên việc vận chuyển của các tàu biển phải qua luồng hàng hải xác định lên miền
tiền phương của Cảng. Sau đây ta xét lại cụ thể từng phương thức
+ Đường sông :
Từ Cảng Hải phòng theo đường sông đến các tỉnh phía bắc như Hà Nội, Hà
Bắc, Thái Bình, Việt Trì... Đường sông nối liền với Cảng Hải Phòng có đặc điểm
không sâu lắm, sông nhỏ chỉ thích hợp với tàu nhỏ có trọng tải nhỏ và mớn nước
thấp qua lại. Vận tải đường sông còn chịu ảnh hưởng của các cầu cống nên kém
năng xuất và nguy hiểm.
Vận tải đường sông chủ yếu vận tải hàng hoá có giá trị thấp như phân bón,
than, quặng, gạo, thóc..
+ Đường sắt :
Hệ thống đường sắt đến Cảng Hải Phòng theo đường duy nhất là Hà Nội –
Hải Phòng, do đó việc vận tải hàng hoá đến các tỉnh gặp nhiều khó khăn. Mặt khác
5
tuyến đường sắt này lại ưu tiên cho việc vận chuyển hành khách vì vậy việc vận
chuyển hàng hoá từ Cảng đi và ngược lại bằng đường sắt chiếm tỷ lệ nhỏ, kém
hiệu qủa. Khẩu hộ đường sắt của ta mới là 1,2m, do đó không đảm bảo an toàn kỹ
trọng, Cảng Hải phòng là cửa ngõ của miền Bắc thông thương với các nước trên
thế giới. Trong tương lai nó đòi hỏi tiếp tục phát triển và hoàn thiện, luôn luôn
khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
7
II. Hàng đến cảng
1. Hàng gỗ kiện
Gỗ xẻ thanh có kích thước dài x rộng x cao khoảng 3,0mx 0,3mx0,25m
được đóng thành từng kiện.
2. Tính chất lí hóa của gỗ:
- Dễ hút ẩm, dễ hút hơi nước do chênh lệch áp suất của không khí và áp suất
của gỗ. Vì vậy trong quá trình bảo quản gỗ độ ẩm thay đổi lớn do đó người ta
thường dùng m3, m2 để giao nhận.
- Dễ bị nứt nẻ, cong vênh
+ Gỗ bị nứt nẻ do khi hơi nước ở lớp ngoài bay hơi và lớp trong thấm ra, nếu
như ở lớp ngoài bốc hơi nhanh và phía trong thấm không kịp làm cho thể tích gỗ
co lại gây ra hiện tượng nứt.
+ Cong vênh thường xảy ra đối với gỗ xẻ do lượng nước trong gỗ mất dần
và không đều ở các vị trí vì vậy nếu gỗ càng dài, càng mỏng và không để bằng
phằng thì càng bị cong vênh.
- Dễ bị mục nát: do vi khuẩn nấm gây nên vì vậy khi bảo quản gỗ ở nhiệt độ
250 đến 300 và độ thủy phần từ 30 đến 50% là điều kiện cho nấm phát triển.
- Dễ bị mối phá hoại làm giảm cơ tính của gỗ và gây mất mỹ quan
- Dễ bị hà ăn khi bảo quản dưới nước.
- Gỗ khô và có nhiều nhựa thường dễ cháy
- Gỗ có tính cồng kềnh do dung trọng nhỏ nhưng hệ số chất xếp lớn
3. Các đại lượng đặc trưng cho hàng đến cảng:
- Hệ số không điều hòa lượng hàng đến cảng trong tháng của năm:
Qngmax = Qng
∑E
K2 =
Qmax
ng
.Kđh
= Qngmax .tbq .α
: Lượng hàng đến cảng bình quân trong các ngày của tháng (Tấn/ngày).
Trong đó:
Qng =
Qmax
Q
th
= n
30,5 TKT
- Hệ số không điều hòa lượng hàng đến cảng trong ngày của năm:
K đh = K 1 .K 2 = 1,1
Trong đó có tính đến 4% ảnh hưởng của thời tiết.
- Thời gian kinh doanh của Cảng:
1
Thời gian công lịch
TCL
Ngày
365
2
Thời gian khai thác
TKT
Ngày
350
3
Số ca làm việc trong mỗi ngày
nca
Ca
3
7
Thời gian làm việc trong mỗi ngày
T
giờ
19,5
8
Lưu lượng hàng hóa đến cảng trong năm
Qn
T/năm
405.000
Qng
T/ngày 1.157,14
T
9
10
11
14
Tổng khối lượng hàng hoá chuyển thẳng
Q1
T/năm
141.750
15
Tổng khối lượng hàng hoá lưu kho
Q2
T/năm
263.250
10
0,65
16
Dung lượng kho để bảo quản hàng hóa
Theo sơ đồ này thì nhược điểm của hai sơ đồ trên đã được khắc phục, thiết
bị tuyến tiền là cần trục chân đế giúp cho khả năng thông qua của tuyến tiền đạt
năng suất cao, có thể thực hiện phương án chuyển thẳng gỗ lên ôtô chủ hàng cũng
có thể lưu gỗ ở bãi tiền phương. Thiết bị tuyến hậu là cần trục chân đế thực hiện
phương án cẩu chuyền tăng khả năng cơ động trong việc di chuyển hàng trong bãi
và đây là phương án tối ưu trong sơ đồ xếp dỡ gỗ kiện. Nhược điểm là không thể
xếp dỡ hàng với những phương án có kho kín.
12
IV. Lựa chọn phương tiện vận tải biển đến cảng:
Do độ dao động mớn nước từ 7m đến 9m nên ta phải chọn tàu có mớn nước
6,5 m
7,5 m/phút
50 m/phút
Tốc độ quay
1,5
Thiết bị xếp dỡ tuyến tiền là cần trục
chân đế với các thông số kĩ thuật cho ở
bảng dưới đây
với
Tốc độ di chuyển
Tổng trọng lượng
Cơ cấu nâng
Thay đổi tầm với
Di động
vòng/phút
27 m/phút
130 - 250 T
80 kW
16 kW
7,5 kW
VI. Lựa chọn công cụ mang hàng:
Bộ xích cẩu 2 nhánh
Cáp thép đường kính từ ɸ18 đến ɸ21 hoặc dây nilon dẹt 1 inch đến 2 inch,
15
Dây cáp dÑt
cáp ɸ 8,3- 65mm
Hình vẽ cáp:
+ Khi lắp ma ní vào sợi cáp có một dây chuyển động, thì dây chuyển động này
phải trên phía vai của ma ní cấm không được trượt qua bulông, chốt vặn của ma
ní.
Móc câu
16
Là loại thiết bị mang hàng thông dụng nhất của máy trục, nó có thể dùng nâng
hàng trực tiếp, dùng để kết hợp với thiết bị mang hàng khác để nâng.
VII. Lựa chọn thiết bị xếp dỡ tuyến hậu:
Thiết bị xếp dỡ tuyến hậu là cần trục chân đế có thông số kĩ thuật như
cần trục hoạt động ở tuyến tiền phương.
VIII. Lựa chọn phương tiện đường sắt:
Là loại toa xe không thành, không mui. Với các kích thước sau:
Chiều dài: 14m
Chiều rộng: 2,48m
Chiều cao (ở đây dùng thành giả để chèn gỗ) :1,25m
Tải trọng: 35 T
Tự trọng: 17T
Đường kính bánh xe: 1,28m
- Kiện gỗ không có vật kê
Công nhân dùng xà beng để bẩy một đầu kiện gỗ tạo khe hở để quàng cáp, sau
đó dùng cáp quàng vào đầu kiện rồi mắc hai đầu khuyết cáp vào móc câu cần trục.
Tín hiệu ra lệnh cho cần trục từ từ căng cáp cho đến khi đầu kiện gỗ được nâng lên
khoảng 0,3m thì dừng lại. Công nhân dùng gỗ kê vào khe hở mới tạo thành dưới
đầu kiện gỗ rồi cho cần trục hạ đầu kiện gỗ xuống vật kê. Tiếp tục làm đầu gỗ còn
lại với thao tác tương tự.
Sau khi đã kê được hai đầu kiện gỗ, công nhân tháo sợi cáp ra dùng hai sợi
cáp dài 6-8m thành lập mã hàng.
Chú ý: trước khi kéo căng cáp nâng, công nhân phải lui vào vị trí an toàn.
- Kiện gỗ có vật kê
Công nhân mắc cáp cẩu vào hai đầu kiện gỗ, mã hàng được thành lập.
18
- Lấy các kiện gỗ ở trong góc hầm tàu
Sử dung xe nâng chuyển các kiện gỗ ra khoảng sáng tàu để cần trục dỡ hàng.
Để xe nâng di chuyển được, phải dỡ hàng tạo mặt bằng cho xe nâng hàng di
chuyển và có đủ diện tích cho xe và hàng di chuyển. Tùy theo trọng lượng kiện
hàng mà chọn xe nâng hàng có sức nâng thích hợp.
b) Thao tác ở ô tô
Khi mã hàng hạ cách vị trí đặt hàng trên sàn ô tô khoảng 0,3m thì dừng lại ,
hai công nhân từ vị trí an toàn tiến lại dùng móc đáp hoặc dây lèo điều chỉnh cho
mã hàng được hạ đúng vị trí trên sàn ô tô. Trên sàn ô tô được kê lót sẵn gỗ để khi
hạ hàng xuống, việc rút cáp được thuận lợi. Khi mã hàng đã hạ xuống sàn ô tô ổn
định, thả chùng cáp cẩu, công nhân lên tháo cáp rồi rời khỏi phương tiện về vị trí
an toàn cho cần trục rút cáp trở lại hầm tàu, xà lan lấy mã hàng tiếp theo.
c) Thao tác ở bãi
Ở bãi, bố trí công nhân đón mã hàng, khi mã hàng đã hạ cách mặt vị trí đặt
hàng khoảng 0,3m thì dừng lại để công nhân dùng tay hoặc móc đáp điều chỉnh
tín hiệu, cần trục nhấc mã hàng lên khoảng 0,3m thì dừng lại, kiểm tra mã hàng,
nếu an toàn, cần trục tiếp tục nâng hàng đến vị trí hạ hàng.
Một số chú ý khi vận chuyển gỗ:
- Không nên đi lại trên gỗ.
- Khi xếp gỗ trên boong với điều kiện không khí ẩm ướt sẽ làm tăng trọng
lượng gỗ, đồng thời khi tàu chạy khối lượng cung ứng phẩm giảm làm cho trọng
tâm tàu lên cao, do đó phải có những biện pháp thích hợp hạ thấp trọng tâm tàu.
- Nếu chở gỗ ướt trong hầm phải thường xuyên kiểm tra và bơm nước la
canh ra ngoài
- Hàng bị rơi hay bị vứt xuống biển có thể làm hỏng vỏ tàu hoặc chân vịt do
đặc tính nổi của chúng
An toàn lao động:
20
- Không được cẩu gỗ cây bằng một nhánh cáp.
- Không đứng trên đống gỗ để đón mã hàng.
- Phải dùng móc đáp, dây lèo để điểu chỉnh mã hàng
- Cẩu hàng phải nhẹ nhàng, không giật đột ngột nhất là khi "tiu" hàng, vì dây
cáp rất dễ bị tuột khỏi mã hàng khi cáp chưa căng hẳn.
- Khi cẩu mã hàng bằng bộ cẩu 2 nhánh mà chỉ một nhánh cáp căng còn
nhánh kia chùng thì phải hạ mã hàng xuống ngay mà sửa lại việc mắc cáp.
- Thao tác quay mã hàng thật đều, tránh xoay lắc nhất là đối với loại gỗ cây
có chiều dài lớn hơn 4m.
- Không được rút dây khi không có đệm kê lót để tránh làm gỗ bị xước gây
nguy hiểm.
Bảo quản gỗ:
- Bằng hóa chất: dùng các loại hóa chất để ngâm tẩm gỗ, các cơ quan chuyên
môn, chuyên ngành thường sử dụng phương pháp này.
- Bảo quản bằng kĩ thuật:
chỉ cần dồn gỗ vào sát mạn, do đó giảm thời gian xếp dỡ một cách đáng kể.
2. Tính toán trọng lượng 1 mã hàng:
Mỗi mã hàng gồm 6 kiện, trọng lượng mỗi kiện là 500kg.
- Trọng lượng 1 mã hàng là:
Gh= 6*0,5= 3T
- Kiểm tra độ an toàn của cần trục:
Gn> Gh+ Gccmh
Trong đó:
+ Gn: Sức nâng của cần trục (Gn= 5T).
+ Gccmh: Trọng lượng của công cụ mang hàng ( dây cáp thép, Gccmh=0,03T)
Ta có: 5T> 3+0,03
Vậy sức nâng cần trục thỏa mãn.
X. Lựa chọn loại công trình bến:
22
Việc lựa chọn công trình bến khi xây dựng phụ thuộc vào nhiều điều kiện
( địa chất, thuỷ văn, …)
Từ điều kiện tự nhiên của cảng Hải Phòng ta lựa chon loại công trình bến là
công trình bến tường cọc 1 tầng neo
Cầu tàu thẳng đứng: loại này yêu cầu mức độ ổn định cao hơn, tốn nhiều vật
liệu song rất thuận tiện cho các quá trình xếp dỡ hàng hóa.
Một số đặc trưng kĩ thuật:
- Chiều dài cọc: 22 (m)
- Diện tích cọc: 42x42 (mm)
- Chiều cao phần tự do của cọc: 13,2 (m)
- Vật liệu đóng cọc: Bê tông cốt thép.
- Cao trình bến là: 10 (m).
+ Lct: chiều dài của cầu tàu (m) L ct = L t + ∆L
+ Lt: chiều dài lớn nhất của tàu (m)
+ ∆L : khoảng cách dự trữ giữa hai đầu tàu so với cầu tàu (m) (ΔL=10m)
* Chiều rộng của bãi:
BK =
Áp lực thực tế lên kho:
FXD
L K (m)
Ptt =
G.t bq
Fh
≤ [p]
(T/m2).
Trong đó:
+ Ptt: áp lực thực tế xuống 1 m2 diện tích của bãi (T/m2)
+ tbq: thời gian bảo quản hàng trong bãi (ngày)
G = α.Q )
+ G: lượng hàng bảo quản trong ngày căng thẳng nhất. (
max
ng
Điều kiện kiểm tra là
đống hàng
Tỷ trọng của gỗ
Dung lượng kho
Diện tích hữu ích
Diện tích xây dựng
Khoảng cách an toàn
Chiều dài tàu
Chiều dài cầu tàu
Chiều dài kho
Chiều rộng kho
Áp lực cho phép xuống
2
1m kho
Áp lực thực tế xuống 1m2
kho
25
γ
∑E
Fh
FXD
∆L
Lt
Lct
LK
BK
2,8
h