VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU HƯƠNG
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI
THEO HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số
: 62.38.01.07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. TS. LÊ MAI THANH
2. TS. PHẠM THỊ THÚY NGA
HÀ NỘI - 2017
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu
trong Luận án là trung thực và chính xác. Các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả Luận án
Nguyễn Thu Hương
LUẬT NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM ................................................119
iii
4.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về các biện pháp phòng vệ
thương mại .............................................................................................................119
4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường năng lực áp dụng
các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam ...........................................121
Kết luận chương 4 ........................................................................................149
KẾT LUẬN ...................................................................................................150
CÁC BÀI BÁO LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG
BỐ ...........................................................................................................................151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................152
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Chữ viết tắt
Nguyên văn
Tiếng Việt
ADA
The Anti-dumping Agreement
Vietnam Competition Authority
Cục quản lý cạnh tranh
VCCI
Vietnam Chamber of Commerce Phòng Thương mại và Công
WTO
and Industry
nghiệp Việt Nam
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Chữ viết tắt
Nguyên văn
BPTV
Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 4 năm 2004
của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về việc chống bán phá giá hàng
hóa nhập khẩu vào Việt Nam
PLCTC
Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 8 năm 2004
của Ủy ban thường vụ Quốc hội về chống trợ cấp hàng hóa nhập
khẩu vào Việt Nam.
TDHTM
Tự do hóa thương mại
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiệp định thương mại tự do ngày càng trở nên phổ biến bởi những lợi ích kinh
tế mà nó mang lại, nhất là trong bối cảnh hạn chế của hợp tác toàn cầu. Các nước đã
phải chuyển hướng sang hợp tác song phương và liên kết khu vực nhằm tìm giải
pháp cho phát triển thương mại hàng hóa và dịch vụ theo khuôn khổ Hiệp định
thương mại tự do.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế trên. Quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam đang ngày càng đi vào chiều sâu, đặc biệt với việc đàm phán và ký
kết các Hiệp định thương mại tự do với nhiều đối tác thương mại lớn. Tính đến nay
Việt Nam đã là thành viên của 10 Hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực [106]
và đang tham gia đàm phán một số Hiệp định thương mại tự do khác.
Mục tiêu của thương mại tự do không chỉ xóa bỏ rào cản thương mại, thuế
này sẽ đảm bảo tính an toàn pháp lý, cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các biện
pháp phòng vệ thương mại nhằm bảo vệ các ngành sản xuất trong nước, chống cạnh
tranh không công bằng từ các nước khác. Do vậy việc nghiên cứu về “Các biện
pháp phòng vệ thương mại theo Hiệp định thương mại tự do” đáp ứng yêu cầu và
thực tiễn nói trên.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Cùng với các cam kết về tự do hóa thương mại (viết tắt là: TDHTM), các Hiệp
định thương mại tự do (viết tắt là FTA) cũng ghi nhận quyền của các nước thành
viên áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại (viết tắt là: CBPPVTM). Trong
quá trình thực hiện quyền của mình, các nước thành viên cần tuân thủ các thỏa
thuận của FTA về CBPPVTM. Pháp luật Việt Nam về CBPPVTM cũng như cơ chế
áp dụng pháp luật còn chưa thực sự phát huy quyền của các nước thành viên FTA
như Việt Nam áp dụng các biện pháp này trong thực tế. Căn cứ vào các thỏa thuận
về CBPPVTM trong các FTA mà Việt Nam đã/sẽ là thành viên, Luận án đề xuất
định hướng hoàn thiện pháp luật cũng như tăng cường năng lực cơ chế áp dụng
CBPPVTM của Việt Nam.
2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án được xác
định là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về CBPPVTM như: khái niệm, đặc điểm, vai
trò, bản chất pháp lý và đặc điểm của CBPPVTM theo FTA.
- Luận giải về cơ chế áp dụng pháp luật về CBPPVTM phù hợp với thỏa thuận
trong các FTA.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, cũng như thực tiễn áp dụng pháp
luật về CBPPVTM của Việt Nam hiện nay.
hóa nhập khẩu vào Việt Nam (viết tắt là: PLCTC) (tức là trước khi Việt Nam trở
thành thành viên tổ chức thương mại thế giới) cho đến nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận án
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp luận trong
nghiên cứu khoa học mang tính truyền thống như: duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Luận án được thực hiện theo cách tiếp cận liên ngành kinh tế, lịch sử và luật
học. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích,
thống kê, tổng hợp, hệ thống, luật học so sánh và dự báo để làm sáng tỏ các vấn đề
được nghiên cứu trong Luận án. Cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi luận giải lý luận theo giả
thuyết nghiên cứu đã đặt ra, đánh giá thực trạng làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp
luật về CBPPVTM tại Việt Nam đảm bảo tính khách quan và chân thực. Phương
pháp này sẽ được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện Luận án.
- Phương pháp lịch sử nhằm xác định những vấn đề liên quan đến sự hình
thành, phát triển của CBPPVTM theo các thỏa thuận trong FTA, tùy bối cảnh mà
Việt Nam cam kết. Phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại chương 2.
- Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng nhằm hệ thống những vấn đề liên
quan đến đề tài Luận án mà các công trình trước đã nghiên cứu để xác định những
vấn đề còn bỏ ngỏ mà Luận án cần tiếp tục làm rõ. Phương pháp này chủ yếu được
sử dụng tại chương 1 và chương 2 và chương 3.
- Phương pháp thống kê được sử dụng để đánh giá thực trạng pháp luật, thực
tiễn áp dụng CBPPVTM tại Việt Nam, làm cơ sở để phân tích, cũng như đưa ra các
4
kết luận và kiến nghị. Phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại chương 3 và
chương 4.
- Phương pháp so sánh luật học sẽ thực hiện nhằm đánh giá tính tương thích
của pháp luật về CBPPVTM của Việt Nam theo FTA. Phương pháp này cũng sẽ
thực hiện dựa trên kinh nghiệm sử dụng CBPPVTM của các nước và rút ra bài học
việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về
CBPPVTM tại Việt Nam.
7. Kết cấu Luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
Luận án được kết cấu gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp phòng vệ thương mại
theo Hiệp định thương mại tự do
Chương 3: Thực trạng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại tại
Việt Nam
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm tăng
cường năng lực áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam
6
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội
dung đề tài Luận án
CBPPVTM và FTA là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình trong và
ngoài nước. Vấn đề này đã được nghiên cứu ở những góc độ, cách tiếp cận, mục
đích nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, phần tổng quan nghiên cứu chỉ đề cập tới
các công trình khoa học liên quan đến nội dung nghiên cứu của Luận án. Các công
trình nghiên cứu được sắp xếp theo các nhóm sau: nghiên cứu chung về FTA và
CBPPVTM và nghiên cứu riêng từng biện pháp phòng vệ thương mại. Cụ thể:
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về Hiệp định thương mại tự do và các
biện pháp phòng vệ thương mại
• Nội dung về Hiệp định thương mại tự do và các biện pháp phòng vẹ
thương mại trong Hiệp định thương mại tự do
Nam thực thi các FTA và Cộng đồng kinh tế ASEAN [67] của VCCI (2015) đưa ra
khái niệm “CBPPVTM là các biện pháp được sử dụng nhằm bảo vệ các ngành công
nghiệp nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài”.
Quan điểm thể hiện trong cuốn sách chuyên khảo “Pháp luật về chống bán
phá giá trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam) [32]
của tác giả Vũ Thị Phương Lan (2012); trong Luận án tiến sỹ Pháp luật về tự vệ
trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực
tiễn) [66] của TS. Nguyễn Quý Trọng (2014); và trong bài tạp chí Khả năng sử
dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế dưới khuôn khổ Hiệp định đối
tác xuyên Thái Bình Dương [76] của Võ Khắc Thường và Võ Thành Vinh (2014)
đều thống nhất về đặc điểm của CBPPVTM là: trong khi biện pháp CBPG và CTC
được sử dụng để chống lại các hành vi cạnh tranh không công bằng, thì BPTV được
áp dụng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước sự gia tăng bất thường của hàng
hóa nhập khẩu. Khác với biện pháp CBPG và CTC, BPTV không phải công cụ
miễn phí bởi nước áp dụng phải bồi thường cho nước bị áp dụng biện pháp này.
8
Bài tham luận Dự kiến những tác động FTA đến các vụ việc phòng vệ thương
mại của Việt Nam của tác giả Nguyễn Chi Mai (2015) trong Hội thảo Điều gì cản
trở Doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để tự bảo vệ
trước hàng hóa nước ngoài [36] chỉ ra nội dung về CBPPVTM tại FTA cho thấy,
trên 80% các FTA cho phép sử dụng cơ chế tự vệ song phương.
• Cơ chế áp dụng pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại ở một
số nước trên thế giới
Cơ chế áp dụng pháp luật về CBPPVTM tại Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU)
được nhiều công trình nghiên cứu, bởi đây là 2 trong số các nước phát triển sử dụng
hiệu quả CBPPVTM. Cuốn sách Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
tại Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn [55], tác giả Nguyễn Ngọc Sơn
giá [9], Cẩm nang kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp tại Liên Minh Châu Âu
[46], Cẩm nang kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp tại Hoa Kỳ [48] do VCCI
biên soạn năm 2010 đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về các quy định pháp luật,
thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật về CBPPVTM tại một số nước phát triển
như Mỹ và EU.
Ngoài các nước phát triển như EU và Mỹ, các nước đang phát triển cũng tích
cực sử dụng công cụ phòng vệ thương là kết quả của các nghiên cứu: The use of
Antidumping in Brazil, China, Indian and South African - Rules, Trends and Causes
(Việc sử dụng công cụ chống bán phá giá ở Brazil, Trung quốc, Ấn độ và Nam Phi
– Các qui tắc, Xu hướng, nguyên nhân [95] của National Broad of Trade of Sweden
(2007); Báo cáo Xu hướng sử dụng công cụ phòng vệ thương mại trên thế giới - Bài
học cho Việt Nam [35] trong Hội thảo Kiện chống bán phá giá ở Việt Nam - Đánh
thức công cụ bị bỏ quên của tác giả Đinh Thị Mỹ Loan (2013), cuốn sách Một số vụ
kiện chống bán phá giá tại EU – Trung Quốc [47].
Các bài nghiên cứu trong tài liệu Hội nghị Tổng kết thực thi pháp luật phòng
vệ thương mại và đề xuất giải pháp (2016) do BCT tổ chức, các tác giả như Phạm
Châu Giang trong Báo cáo tổng kết thực thi pháp luật phòng vệ thương mại của
Việt Nam [11], Nguyễn Thu Trang (2016) trong báo cáo Thực thi pháp luật về
phòng vệ thương mại - Góc nhìn của Doanh nghiệp [64], Báo cáo tổng kết việc xây
dựng, hoàn thiện pháp luật và quản lý nhà nước về ngoại thương (2016) [74], Báo
10
cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Bộ Tư pháp thẩm định Dự thảo Luật quản lý
ngoại thương (2016) đều chung quan điểm rằng, sự hiểu biết của DN Việt Nam về
CBPPVTM còn hạn chế, pháp luật về CBPPVTM của Việt Nam còn nhiều bất cập,
dẫn đến việc sử dụng công cụ này chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế. Vì
vậy, cần hoàn thiện pháp luật về CBPPVTM cho phù hợp với tình hình thực tế hiện
nay cũng như nâng cao khả năng sử dụng công cụ này.
Ngoài các nội dung trên, thì vấn đề lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại là hiện
thương mại thế giới và bài học cho Việt Nam [41] tác giả Tô Thái Ninh (2016).
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về biện pháp chống bán phá giá
• Biện pháp chống bán phá giá theo thỏa thuận trong Hiệp định thương
mại tự do
Do các nội dung thỏa thuận về biện pháp CBPG trong FTA không khác so với
WTO, nên cho đến nay các công trình hầu như không nghiên cứu chuyên biệt về
biện pháp này theo FTA mà chỉ dừng lại theo khuôn khổ WTO. Cụ thể:
Đây là vấn đề đã được nghiên cứu tương đối chi tiết và đầy đủ trong các công
trình: Anti-dumping Agreement and Developing Coutries: An Introduction (Hiệp
định chống bán phá giá và các nước đang phát triển) [81], AD - Who get it (Bảo hộ
chống bán phá giá: Ai được lợi) [80] tác giả Aradhna Aggarwal đã chỉ ra bản chất
của bán phá giá và cho rằng, việc các nước phát triển sử dụng biện pháp CBPG đã
bóp méo thương mại và ảnh hưởng tới cạnh tranh không chỉ bằng việc tạo hàng rào
bảo hộ và ngăn cản cạnh tranh từ hàng nhập khẩu mà còn bởi vì việc áp dụng nó
liên quan đến mức độ tập trung theo nhiều hướng khác nhau. Do đó, thay vì chống
độc quyền, CBPG thực chất thúc đẩy chống cạnh tranh, và thay vì bảo đảm cho sự
cạnh tranh bình đẳng trong thương mại quốc tế thì nó lại bóp méo thương mại
không những ở mức độ quốc gia mà còn ở mức độ toàn cầu. Sách chuyên khảo
Pháp luật về chống bán phá giá trong Thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra
đối với Việt Nam [32] tác giả Vũ Thị Phương Lan (2012) phân tích pháp luật về
CBPG theo quy định WTO, EU, Mỹ và đưa ra kết luận: CBPG là một biện pháp
mang nặng tính chính trị và bảo hộ, chứ không hoàn toàn dựa trên những tính toán
về lợi ích tổng thể của nền kinh tế hay của người tiêu dùng. Do vậy, biện pháp
CBPG đang ngày càng mâu thuẫn với xu hướng TDHTM.
12
Theo
M.V.
bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam [77] của Nguyễn
Ngọc Sơn (2010); sách chuyên khảo Pháp luật về chống bán phá giá trong Thương
mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam [32] của Vũ Thị Phương Lan
(2012).
Pháp luật Việt Nam quy định, biện pháp CBPG chỉ được áp dụng sau khi cơ
quan chức năng của Chính phủ đã hoàn thành điều tra theo đúng trình tự, thủ tục
quy định trong PLCBPG phù hợp với các yêu cầu của ADA là kết luận nghiên cứu
của các tác giả Đoàn Trung Kiên (2010) trong Luận án Pháp luật chống bán phá
giá hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam [31].
Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn (2010) trong Luận án Pháp luật chống bán phá giá
hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam có đặt ra một số vấn đề sau:
13
WTO chủ yếu khuyến khích việc sử dụng biện pháp điều chỉnh giá bán bằng các
quy định về cam kết giá. Tuy nhiên, hiện nay “chưa có sự thống nhất về khái
niệm…của biện pháp cam kết”.
Các nghiên cứu như cuốn Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
tại Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn [55] của Nguyễn Ngọc Sơn
(2005); Luận án Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam [31]
của Đoàn Trung Kiên (2010) đều phân tích về bộ máy thực hiện pháp luật về CBPG
gồm: cơ quan điều tra, Hội đồng xử lý, Bộ trưởng BCT và đánh giá một cách có hệ
thống quy định về thẩm quyền và thủ tục điều tra CBPG. Qua đó, chỉ ra những bất
cập của bộ máy thực hiện pháp luật CBPG (bao gồm cả trong mối tương quan với
các hệ thống thực thi các chế định pháp luật khác có liên quan như pháp luật về
BPTV, về CTC) có thể ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành pháp luật.
Do tính đến nay, Việt Nam mới áp dụng biện pháp CBPG với 1 vụ việc điều
tra, nên các nghiên cứu về thực tiễn áp dụng tại Việt Nam chưa nhiều. Các tài liệu
được công bố trong Hội thảo Vụ điều tra chống bán phá giá đầu tiên của Việt Nam Kết quả và bài học kinh nghiệm như: Diễn biến và kết quả chi tiết vụ điều tra chống
bán phá giá đối với thép không gỉ cán nguội nhập khẩu [10] của Phạm Châu Giang
cần phải quy định rõ ràng về điều kiện áp dụng biện pháp CBPG “có mối quan hệ
nhân quả giữa việc BPG hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam với thiệt hại/đe dọa gây
thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước” và các quy định liên quan đến bộ
máy CBPG cần sửa đổi bổ sung như: hợp nhất cơ quan điều tra CBPG và Hội đồng
xử lý thành 1 cơ quan và tách cơ quan thực hiện pháp luật về CBPPVTM ra khỏi
VCA.
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về biện pháp chống trợ cấp
• Biện pháp chống trợ cấp theo WTO
Cuốn sách AD and Countervailing Action limits Imposed by Economic and
legal Theory (Chống bán phá giá và chống trợ cấp hạn chế áp dụng các lý thuyết
kinh tế và pháp luật) [92] của hai tác giả Philip Bentley QC & Aubrey Silberston
(2007) đã phân tích tổng quát các quy định của WTO về biện pháp CBPG và CTC.
Theo đó, nhằm chống lại tác động của thương mại không công bằng từ hành động
trợ cấp sản phẩm tương tự của các nước khác, biện pháp CTC được sử dụng là để
15
bảo vệ các nhà sản xuất nội địa. Các tác giả cho rằng, trong bối cảnh và xu hướng
toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ thì việc các nước ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn
nhau dường như là không tránh khỏi, do vậy hậu quả là việc người sản xuất và
người tiêu dùng mới là đối tượng chịu thiệt hại lớn nhất từ các vụ bán phá giá và trợ
cấp.
Sách chuyên khảo Pháp luật về chống bán phá giá trong Thương mại quốc tế
và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam [32] tác giả Vũ Thị Phương Lan (2012)
Luận văn thạc sỹ Các biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới và các giải pháp
pháp lý ngăn ngừa sự tác động đến việc xuất khẩu của Việt Nam [40] của Nguyễn
Thị Thu Nguyệt (2013) đều nhận định: theo SCM, khi các chương trình trợ cấp của
một nước gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất hàng
hóa tương tự của nước nhập khẩu, nước nước đó có thể áp dụng các biện pháp đối
kháng để chống lại ảnh hưởng bóp méo thương mại của trợ cấp.
CTC thì phải dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử nhưng PLCTC lại không
có quy định về vấn đề này.
Pháp luật Việt Nam quy định về bộ máy áp dụng pháp luật về CTC tương tự
như biện pháp CBPG. Do đó, các công trình nghiên cứu về cơ bản cũng có những
đánh giá tương tự.
Biện pháp CTC chưa từng được áp dụng tại Việt Nam. Do đó, các nghiên cứu
hầu hết chỉ đánh giá pháp luật và nêu quan điểm về việc vì sao biện pháp này chưa
được áp dụng trên thực tế. Các tác giả trong cuốn Xây dựng mô hình cơ quan quản
lý Nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thương
mại quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam [34] do TS. Đinh Thị
Mỹ Loan (2007) làm chủ biên cho rằng nên hoàn thiện mô hình một cơ quan thống
nhất ra quyết định về thiệt hại và tính toán phá giá, trợ cấp sẽ đem lại hiệu quả, tiết
kiệm nguồn nhân lực, thời gian cho cơ quan quản lý trong quá trình thu thập và
phân tích thông tin. Bởi, điều tra CBPG, CTC có sự trùng lặp đáng kể giữa các dữ
liệu phục vụ cho việc xác định biên độ phá giá, trợ cấp và xác định thiệt hại, mức độ
gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước cũng như phương thức điều tra, đánh
giá những nội dung này.
17
1.1.4. Các công trình nghiên cứu về biện pháp tự vệ
• Biện pháp tự vệ theo WTO
Cuốn sách Hỏi đáp về pháp luật tự vệ của Việt Nam và WTO [53], do TS Đinh
Thị Mỹ Loan (2008) chủ biên đã đề cập quy định của WTO, GATT, SG bằng việc
đưa ra các câu hỏi và luận giải. Tài liệu này cung cấp kiến thức tổng quát về BPTV.
Tác giả Lê Thành Trung (2010) trong bài viết Nhận diện về tự vệ thương mại trong
nhập khẩu hàng hóa [68] đã luận giải về các đặc điểm cơ bản của BPTV để đưa ra
sự khác biệt về bản chất, mục đích, điều kiện, nguyên tắc áp dụng của BPTV so với
hai biện pháp phòng vệ thương mại còn lại.
này và những ưu tiên cho quá trình TDHTM một cách độc lập.
Điều kiện áp dụng BPTV theo Hiệp định SG là khá chặt chẽ (so với biện pháp
CTC và CBPG) là quan điểm của các tác giả Võ Khắc Thường và Võ Thành Vinh
(2014) trong bài tạp chí Khả năng sử dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại
quốc tế dưới khuôn khổ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương [76]. Cuốn Cẩm
nang hội nhập TPP [49] do VCCI chi nhánh Vũng Tàu (2016) xuất bản đã tóm tắt
nội dung cốt lõi của TPP trong đó có nêu cách thức áp dụng các BPVT theo thỏa
thuận trong TPP.
Luận án tiến sỹ Khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại ở Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập [2] của Hà Thị Thanh Bình (2010) tiếp cận nghiên cứu khía
cạnh pháp lý của hạn chế thương mại và đưa ra kết luận rằng mặc dù xu thế
TDHTM ngày càng phát triển, nhưng các biện pháp hạn chế thương mại trong đó có
BPTV vẫn được sử dụng. Nhưng để khuyến khích các nước thành viên sử dụng
BPTV một cách hợp pháp hơn là việc tìm kiếm biện pháp khác ngoài cơ chế tự vệ,
SG đã đưa ra quy định về việc trả đũa thương mại chỉ được diễn ra sau 3 năm kể từ
năm đầu tiên BPTV có hiệu lực.
• Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về biện pháp tự vệ của Việt Nam
Bài tạp chí Bàn về biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu [1] tác giả Hà
Thị Thanh Bình (2008) cho rằng pháp luật Việt Nam không nên đặt ra yêu cầu cá
nhân, DN, ngành sản xuất trong nước muốn yêu cầu điều tra áp dụng BPTV phải
chiếm ít nhất 25% sản lượng hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng
hóa nhập khẩu bởi WTO và một số nước như Mỹ cũng không yêu cầu như vậy.
Tương tự như điều tra CBPG và CTC, cơ quan chịu trách nhiệm điều tra hàng
hoá nhập khẩu ồ ạt, bất thường vào Việt Nam là VCA. Nên các tài liệu về nội dung
này có kết luận tương tự như đã trình bày ở trên.
19