Nghiên cứu thu thập và lưu trữ nguồn gen của cây Thất diệp nhất chi hoa (Paris polyphylla Sm.) (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NÔNG LỆ THÙY

NGHIÊN CỨU THU THẬP VÀ LƢU TRỮ
NGUỒN GEN CÂY THẤT DIỆP NHẤT CHI HOA
(PARIS POLYPHYLLA SM.)

Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 60.42.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. VŨ THỊ THU THỦY

THÁI NGUYÊN - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho bất kỳ một học vị nào.
Tác giả

NÔNG LỆ THÙY

i


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Vũ Thị Thu Thủy đã tận tình

Trang bìa phụ
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ...............................................................................................................iii
Danh mục các bảng.............................................................................................. v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Đặt vấn đề ........................................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
1.1. Đặc điểm chung về cây Thất diệp nhất chi hoa ............................................ 3
1.1.1. Nguồn gốc và phân loại ............................................................................. 3
1.1.2. Đặc điểm nông sinh học ............................................................................ 4
1.1.3. Thành phần hóa học và công dụng ............................................................ 5
1.1.4. Một số bài thuốc sử dụng cây Thất diệp nhất chi hoa ............................... 7
1.2. Một số phương pháp định danh thực vật ...................................................... 8
1.3. Một số phương phương pháp lưu trữ và bảo tồn giống cây trồng ................... 10
1.3.1 Bảo tồn nội vi( in – situ) ........................................................................... 11
1.3.2 Bảo tồn ngoại vi (Ex – situ) ...................................................................... 12
1.3.3 Bảo tồn giống bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro ......................................... 13
1.3.3.1 Cơ sở lý luận của phương pháp bảo quản và nhân giống in vitro ......... 13
1.3.3.2. Ứng dụng của kỹ thuật nuôi cấy in vitro .............................................. 15
1.3.3.3. Các đường hướng trong nhân giống in vitro ........................................ 18
Chƣơng 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................... 22
2.1. Vật liệu nghiên cứu..................................................................................... 22
2.1.1. Vật liệu..................................................................................................... 22

iii




2,4 Dichlorphenoxyacetic acid

Cs

Cộng sự

CT

Công thức

ĐHST

Điều hòa sinh trưởng

IBA

Indole-3-buttyric acid

BAP

6-Benzylaminopurine

IAA

Indole - 3 - acetic - acid

MS

Murashige and Skoog

Bảng 3.9. Kết quả khử trùng củ Thất diệp nhất chi hoa .................................... 41
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của các chất ĐHST đến hệ số nảy mầm của củ ........... 44

v


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Hình thái cây Bảy lá một hoa................................................................... 3
Hình 3.1. Cây Thất diệp nhất chi hoa tại Hồng Phong - Bình Gia - Lạng Sơn ........ 28
Hình 3.2. Mẫu cây Thất diệp nhất chi hoa tại xã Hội Hoan, huyện Bình Gia .. 28
Hình 3.3. Mẫu củ thu được tại Quản Bạ - Hà Giang ......................................... 29
Hình 3.4. Quả và hạt cây Thất diệp nhất chi hoa thu tại Hà Giang ................... 30
Hình 3.5. Cây Thất diệp nhất chi hoa tại Sa Pa ................................................. 31
Hình 3.6. Cây Thất diệp nhất chi hoa trong phòng sinh trưởng của cây in vitro
tại Thái Nguyên ................................................................................................. 37
Hình 3.7. Kết quả điện di sản phẩm nhân gen rpoC1 ....................................... 32
ất diệp nhất chi hoa ..... 34

rpo

ệt Nam ............................................................................... 34
Hình 3.9. Mẫu hạt sạch cây Thất diệp nhất chi hoa cấy trên môi trường MS cơ bản.. 39
Hình 3.10. Mẫu sạch khử trùng củ Thất diệp nhất chi hoa ............................... 42
Hình 3.11. Ảnh hưởng của chất ĐHST đến sự phát sinh hình thái mô lá. ........ 43
Hình 3.12. Mẫu sạch từ củ cây Thất diệp nhất chi hoa trên môi trường MS có
bổ sung thêm các chất kích thích sinh trưởng ................................................... 44
Hình 3.13. Mẫu củ bật chồi có bổ sung BAP 0,5mg/l + Than hoạt tính ........... 45
Hình 3.14. Mẫu củ bật chồi bổ sung BAP 0.5mg/l ........................................... 45

vi



hiện tại một số tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam như: Hà Giang, Sơn La, Lai
Châu. Tuy nhiên, kết quả tái sinh cây chưa được như mong muốn.
Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu thu thập và lƣu
trữ nguồn gen của cây Thất diệp nhất chi hoa (Paris polyphylla Sm.) nhằm
bảo tồn nguồn gen và phục vụ cho công tác phục tráng giống sau này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thu thập được một số cây Thất diệp nhất chi hoa ở một số miên núi phía
Bắc Việt Nam
Bước đầu sử dụng được kỹ thuật sinh học phân tử trong nghiên cứu định
loại mẫu cây Thất diệp nhất chi hoa .
Lưu trữ được một số mẫu cấy Thất diệp nhất chi hoa trong phòng sinh
trưởng và nuôi cấy in vitro.
3. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm và thu thập mẫu của Thất diệp nhất chi hoa ở một
số địa phương miền núi phía Bắc Việt Nam.
Phân lập và xác định trình tự nucleotit của gen rpoC1
Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng của cây Thất diệp nhất chi
hoa trong phòng sinh trưởng cây in vitro của phòng công nghệ tế bào tại trường
Đại học sư phạm Thái Nguyên.
Nghiên cứu bảo tồn cây Thất diệp nhất chi hoa bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro.

2


Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm chung về cây Thất diệp nhất chi hoa



khoảng 2cm, phiến lá hình mác dài, đầu lá và cuống lá nhọn. Cánh tràng hình
sợi. Lá đài nhỏ hơn lá thật, dài khoảng 4 - 4,5cm, rộng khoảng 8mm. Thường
thấy mọc ở độ cao khoảng 1.400m đến 1.800m, trong những rừng ẩm ở Sapa
(Lào Cai). Loài này ra hoa vào tháng 4, kết quả vào tháng 6 hoặc tháng 7 [9].
Loài thứ 2 có tên khoa học Paris hainanensis. Loài này có thân cây to,
cao chừng 0,80m. Lá tập trung thành vành, gồm 6 lá, ở vào khoảng 2/3 ở phía
trên thân. Lá dài khoảng 20cm, rộng khoảng 12cm. Đầu lá nhọn, hình ba cạnh
dài 1cm. Cuống lá dài tới 7cm, phiến lá hình trứng rộng, hơi không đối xứng.
Lá đài khoảng 5cm, rộng khoảng 2cm. Cánh tràng hình sợi, dài gấp 2 lần lá đài.
Loài Paris hainanensis ra hoa vào tháng 4, đậu quả vào tháng 6, loài này hay
gặp hơn ở những vùng rừng ẩm, thấp quanh Sapa, độ cao chừng 1500m [9].
Loài thứ 3 được gọi là Paris fargessi Franch. Thân của loài này cao
chừng 1m đến 1,3m. Vành lá cũng ở khoảng 2/3 phía trên thân, gồm 5 lá. Cuống
lá dài khoảng 5 - 5,5cm, phiến lá hình bầu dục, phía cuống hình tim, đầu lá
nhọn, lá có 5 gân. Lá đài hình mác, dài khoảng 6cm, rộng khoảng 1,2cm. Cánh
tràng hình sợi, ngắn hơn lá đài. Cây ra hoa vào tháng 4, kết quả vào tháng 6. So
với các loài trên, loài Paris fargessi Franch hiếm hơn [9].
Trong số 2 loài Paris chưa xác định được tên, có một loại cao tới 2,5m.
Petelot phát hiện thấy 2 cây nhỏ trên đường từ Sapa (Lào Cai) đến Bình lư (Tam
Đường – Lai Châu) [9]. Loại thứ 2 được phát hiện ở độ cao 400m vùng núi Ba
Vì (Hòa Bình) và trên bờ suối có nhiều bóng rợp, khoảng giữa từ Hà Nội đến
Hòa Bình [9].
1.1.2. Đặc điểm nông sinh học
Cây Thất diệp nhất chi hoa là một loại cây nhỏ, sống lâu năm. Cây
thường mọc hoang ở những khe núi ẩm ướt, có độ cao trên 600m và ưa bóng,
hoặc dọc theo các bờ khe suối, trên đất ẩm nhiều mùn. Phần thân trên mặt
đất, lụi hàng năm vào cuối thu. Thân rễ mang 1 - 2 chồi ngủ tồn tại qua mùa


đông y, Tảo hưu có vị ngọt, hơi cay, tính bình, không độc. Tác dụng chủ yếu
của Tảo hưu là thanh nhiệt, giải độc, điều trị rắn độc cắn, trị viêm tuyến vú,
5


trị sốt rét, trị ho lao, trị ho lâu ngày, trị hen xuyễn... Nếu dùng ngoài da thì
đắp lên những nơi sưng đau [9].
Các công trình nghiên cứu y học hiện đại đã tìm thấy trong cây Thất diệp
nhất chi hoa có chất glicozit. Đặc biệt loại glucozit có lợi cho sức khỏe được kể
đến như tinh chất saponin (gọi là paridin C16H28O7) và tinh chất paristaphin
(C38H64O18) [9], [32].
Ở Nepal, Devkota (2005) đã cô lập được 6 hợp chất từ Paris polyphylla.
Các hợp chất là: przewalskinone B, polyphyllin C, polyphyllin D, saponin-1,
stigmasterol và stigmasterol-3-O-P-D-glucoside [33]. Theo đó, nghiên cứu của
Lee và cộng sự (2005), hợp chất polyphylin D của cây Thất diệp nhất chi hoa có
thể được sử dụng trong điều trị ung thư vú [40]. Một số nghiên cứu khác cũng
cho thấy, các hợp chất saponin của cây Thất diệp nhất chi hoa gây ức chế sự
tăng trưởng của khối u của bệnh ung thư phổi trên chuột thử nghiệm và gây độc
đối với các dòng tế bào ung thư của người như dòng tế bào ung thư dạ dày [41],
hay các dòng tế bào ung thư phổi A549 [42]. Dòng tế bào ung thư đại tràng
(LoVo và W-116), dòng tế bào ung thư thực quản (ECA 109) hay các bệnh ung
thư đường tiêu hóa nói chung [50].
Năm 2008, Deng và cộng sự đã đánh giá hoạt tính kháng nấm của
saponin từ cây Thất diệp nhất chi hoa với Cladosporium cladosporioides và loài
Candida. Kết quả cho thấy, saponin có hoạt tính kháng nấm. Hoạt tính này được
đem so sánh với một số thuốc thương mại, từ đó đưa ra một giải pháp thay thế
hữu hiệu cho các loại thuốc tổng hợp [32].
Năm 2005, Wang đã nghiên cứu thấy 2 hợp chất steroid là dioscin và
polyphyllin D có tiềm năng là tác nhân chống lại ký sinh trùng Dactylogyrus [50].
Năm 2012, Li và cộng sự đã phân lập được bốn hợp chất saponin steroid

trực tiếp nước thuốc vào hậu môn, sau đó dùng gạc băng lại. Ngày làm 2 - 3 lần
sẽ khỏi bệnh lòi dom [59].

7


* Chữa ho, hen suyễn lâu ngày: Sắc 15g Thất diệp nhất chi hoa lấy
nước uống; hoặc hầm với thịt gà hay phổi lợn để ăn [59].
* Chữa các loại mụn độc sƣng thũng: Thất diệp nhất chi hoa trộn với
dấm, giã nát, đắp lên chỗ sưng đau. Làm đến khi khỏi bệnh [59].
1.2. Một số phƣơng pháp định danh thực vật
Việt Nam là đất nước có hệ sinh thái đa dạng, ở đó số loài thực vật cũng
vô cùng phong phú. Để mô tả, xếp loại hay định tên cho thực vật người ta phải
dùng nhiều phương pháp phân loại khác nhau. Có 2 nhóm phương pháp chủ yếu
đó là phương pháp truyền thống và phương pháp phân loại phân tử. Các phương
pháp truyền thống cần phải kể đến như: hình thái so sánh, giải phẫu so sánh, cổ
thực vật học, hóa sinh học...
Sử dụng phương pháp hình thái so sánh, người nghiên cứu sẽ dựa vào đặc
điểm hình thái, nhất là hình thái cơ quan sinh sản. Những thực vật càng gần
nhau thì càng có nhiều đặc điểm hình thái giống nhau. Hiện nay, ngoài những
đặc điểm hình thái bên ngoài, người ta còn dùng cả những đặc điểm vi hình thái
(micromorphologie), tức là hình thái cấu trúc của tế bào, của mô, kể cả cấu trúc
siêu hiển vi, để phân loại [61].
Với phương pháp giải phẫu so sánh, đây là phương pháp chính xác và
khách quan cho phép xác lập mối quan hệ thân cận không những của các nhóm
lớn (như lớp, bộ, họ) mà còn cả các nhóm nhỏ (giống, loài...) và quan hệ chủng
loại. Ví dụ: cây 2 lá mầm phân biệt với cây 1 lá mầm bởi cấu tạo và sự sắp xếp
của mô dẫn truyền trong thân. Phương pháp này bổ sung thêm cho phương pháp
hình thái so sánh [61].
Phân loại theo phương pháp cổ thực vật học, người nghiên cứu dựa vào

nhau, chúng mã hóa cho 4 loại RNA ribosom, 30 - 31 tRNA, 21 loại protein
ribosom và 4 tiểu đơn vị của RNA polymerase [49].
Hệ gen lục lạp có một phần nhỏ chứa những đoạn trình tự bảo thủ, khó
bị đột biến, và gần như không biến đổi trong quá trình tiến hóa. Do vậy,
nhiều nhà khoa học đã sử dụng các đoạn gen này ở các loại thực vật khác
nhau để làm chỉ thị định danh thực vật. Các vùng gen trong hệ gen lục lạp
9


được sử dụng trong công nghệ mã vạch DNA hiện nay như atpF-atpH,
gen matK, gen rbcL, gen rpoC1, vùng xen psbK-psbI, vùng xen trnH-psbA
và vùng gen nhân ITSAB [49].
rpoC1 là một gen mã hóa cho tiểu phần của
Gen rpoC1 rất bảo thủ mức độ đột biến trong trình tự nucleotit của gen có
thể phân biệt được loài này với loài kia, hay xác định được quan hệ họ hàng với
các loại nghiên cứu. Theo Kwon - Lee KH và cs (2010) cho rằng gen rpoC1 có
thể là một marker quan trọng để phân biệt nhân sâm trồng và nhân sâm hoang
dại [39]. Phân tích trình tự gen rpoC1 cho phép xác định sự khác biệt giữa các
chủng C. Raciborskii [37]. Trên GenBank hiện nay đã có 10 trình tự gen rpoC1
của lúa [56].
Ở cây Thất diệp nhất chi hoa các công trình nghiên cứu về gen rpoC1
công bố còn khá hạn chế. Theo Do và cs (2014) phân lập gen rpoC1 từ DNA
của chi Paris polyphylla thu được gen có kích thước 2784bp trong đó gồm 2
exon và 1 intron [30]. Theo Zhu và cs phân lập gen rpoC1 của chi Paris công
bố trên ngân hàng gen Bank có mã số GU178917 đến GU178922. Đều thu được
gen có kích thước giống nhau dài 487bp trong đó chứa 1 intron từ DNA nhằm
xác định loài của 10 loại paris đã lấy mẫu nghiên cứu [64].
Theo tổ chức Hệ thống dữ liệu mã vạch của sự sống (The Barcode of
Life Data - viết tắt là BOLD) để tăng hiệu quả giám định loài cần kết hợp kết
quả của nhiều vùng gen trong đó có gen rpoC1. Ví dụ, như tổ hợp gen rpoC1

phổ biến được áp dụng ở Việt Nam là: Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu
conservation) và bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation).
1.3.1 Bảo tồn nội vi( in – situ)
Bảo tồn nội vi bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo
vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự
nhiên. Tuỳ theo đối tượng bảo tồn để áp dụng các hình thức quản lý thích hợp.
Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu
bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp.
11


Bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn nội vi (Insitu conservation) là hình thức bảo
tồn nguồn gen tại vùng chúng được trồng, được tồn tại trong điều kiện sinh thái
tự nhiên, có thể bảo tồn trong trang trại, bảo tồn trong vườn gia đình hoặc xây
dựng các vườn quốc gia [12].
Bảo tồn nội vi là hình thức chủ yếu ở Việt Nam, phương pháp này thể
hiện rõ rệt nhất là đã xây dựng và đưa vào hoạt động hệ thống một hệ thống
rừng đặc dụng. Theo số liệu thống kê đến 10/2006 – Cục kiểm lâm và viện điều
tra quy hoạch rừng có 128 khu bảo tồn rừng. Trong đó, có 30 Vườn quốc gia
(VQG), 48 Khu dữ trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 38 khu bảo
vệ cảnh quan, với tổng diện tích 2.400.092 ha, chiếm gần 7,24% diện tích tự
nhiên trên đất liền của cả nước. Như Khu bảo tồn vườn quốc gia Cúc Phương là
khu bảo tồn được thành lập đầu tiên ở miền bắc, vườn quốc gia Ba Bể (Bắc
Cạn), vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai)... Tuy nhiên, sự đa dạng di truyền
vẫn bị đe dọa [12]
1.3.2 Bảo tồn ngoại vi (Ex – situ)
Bảo tồn ngoại vi hay bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ consertion) là một trong
những biện pháp quan trọng và có hiệu quả trong bảo tồn và phát triển đa dạng
sinh học.
Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi

chỉnh từ một tế bào riêng rẽ. Hàng trăm loài cây trồng đã được nhân giống trên
quy mô thương mại bằng cách nuôi cấy trong môi trường nhân tạo vô trùng và
tái sinh chúng thành cây với hệ số nhân giống vô cùng lớn [1]. Morel là người
đầu tiên đã thành công trong việc tái sinh và nhân nhanh giống lan quý
Cymbidium bằng phương pháp này [47]. Trong một thời gian ngắn người ta có
thể thu được hàng triệu cá thể. Nhờ vậy, mà hoa Cymbidium vốn đắt tiền đã có
giá thành hạ hơn và đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhiều người. Ở Thái
Lan, 90% hoa lan thương mại được nhân bằng phương pháp nuôi cấy in vitro.
Thành công đối với họ Orchidaceae không những chỉ là bằng chứng mà còn mở
đường cho việc ứng dụng kỹ thuật này đối với các loài cây khác như cây ăn quả,
cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây thuốc, cây cảnh... Ở nhiều nước trên thế

13


giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, đặc biệt ở Hà Lan đã sử dụng phương
pháp này để nhân giống cúc cho hệ số nhân giống cao từ 410-1010/năm [8]. Các
lĩnh vực ứng dụng khác trong kỹ thuật in vitro cũng mang lại nhiều kết quả
trong việc cải tạo và phục tráng giống cây trồng.
Quá trình phát sinh hình thái trong nuôi cấy in vitro thực vật thực chất là
kết quả của các quá trình phân hoá và phản phân hoá. Tất cả các tế bào trong các
cơ quan khác nhau của cơ thể thực vật trưởng thành đều bắt nguồn từ tế bào phôi
sinh. Sự chuyển tế bào phôi sinh thành các tế bào chuyên hoá để đảm nhiệm các
chức năng khác nhau được gọi là sự phân hoá tế bào. Còn quá trình phản phân
hoá thì ngược lại với qúa trình phân hoá, có nghĩa là tế bào đã phân hoá thành mô
chức năng không hoàn toàn mất đi khả năng phân chia mà ở điều kiện thích hợp,
chúng có thể trở về dạng phôi sinh và tái phân chia [1].
Trong nuôi cấy mô tế bào thực vật để thành công cần đảm bảo 3 yếu tố chính:
Thứ nhất, bảo đảm điều kiện vô trùng. Môi trường để nuôi cấy mô và tế
bào thực vật có chứa đường, vitamin, muối khoáng... rất thích hợp cho các loại

1.3.3.2. Ứng dụng của kỹ thuật nuôi cấy in vitro
Nuôi cấy mô tế bào thực vật, thực chất là một phương pháp nhân giống
vô tính Đối với nhiều loài thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế và ý nghĩa sinh
học khi gặp khó khăn trong vấn đề nhân giống hữu tính thì nhân giống vô tính
in vitro là công cụ vô cùng hữu ích. Trên thực tế, có nhiều loài thực vật nhân
giống hữu tính bằng hạt có hệ số nhân cao nhưng vẫn tiến hành nhân giống vô
tính in vitro là do các phương pháp nhân giống hữu tính bằng hạt mặc dù cho hệ
số nhân giống cao, dễ bảo quản và vận chuyển nhưng với một số cây trồng, khi
nhân giống bằng hạt sẽ cho ra các cây con không hoàn toàn giống bố mẹ cả về
hình thái và thành phần hoá học [8]. Sự không đồng nhất này gây ra khó khăn
trong việc đưa cây vào sản xuất theo dây truyền công nghiệp vì các cây có chất
lượng sản phẩm không đồng đều, làm giảm giá trị thương phẩm. Đặc biệt, đối
với nhiều cây dược liệu, việc nhân giống hữu tính gặp khó khăn như Ô dầu,
Bạch truật có hạt nảy mầm chậm, hay với đan sâm hạt chín không đều và thời
gian nảy mầm kéo dài, gây khó khăn cho việc sản xuất đại trà. Một số cây gỗ
khác có thời gian sinh trưởng kéo dài như Sơn thù và Đỗ trọng khi di thực về
15


trồng ở SaPa phải mất mười năm cây mới ra hoa, bộ phận làm thuốc của cây
sơn thù là quả nhưng khi cây còn trẻ chỉ cho hoa đực vì vậy không có quả. Các
cây Tam thất, Nhân sâm, hoàng liên phải sử dụng hạt tươi mới nảy mầm nên thu
hoạch đến đâu cần gieo ngay đến đó gây nhiều khó khăn cho sản xuất…[2]. Mặt
khác, phương pháp nhân giống truyền thống (chiết, giâm, ghép) vẫn còn nhiều
nhược điểm như sự lây nhiễm bệnh qua nguyên liệu thường phổ biến và phức
tạp, hệ số nhân thấp, việc sử dụng chính các bộ phận làm thuốc để nhân giống
rất lãng phí, tốn kém.
Việc không đồng nhất về chất lượng (hàm lượng các chất hoạt tính)
trong nhân giống truyền thống sẽ dẫn đến hậu quả là nguyên liệu không ổn
định, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất. Ví dụ: đối với các cây lấy tinh

Trong công tác giống cây trồng, vấn đề được quan tâm hàng đầu là chất
lượng và số lượng giống. Bằng phương pháp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, người ta
đã tạo ra được những giống cây hoàn toàn sạch virus. Limasset và Cornel (1949)
đã chứng minh được rằng nồng độ virus trong thực vật giảm dần ở bộ phận gần
đỉnh sinh trưởng. Riêng đỉnh sinh trưởng thì hoàn toàn sạch virus. Nguyên nhân
của hiện tượng này là đỉnh sinh trưởng không có hệ thống mô dẫn làm cho virus
và vi sinh vật không có khả năng xâm nhập. Đỉnh sinh trưởng là nơi sinh tổng
hợp của auxin và auxin có tác dụng ức chế sinh sản của virus. Qúa trình phân
chia tế bào đỉnh sinh trưởng không kéo theo sự phân chia của virus [43].
Nuôi cấy mô tế bào chủ yếu được dùng để phục tráng và nhân nhanh theo
các hướng vi nhân giống, sản xuất hạt giống nhân tạo và làm sạch bệnh. Qua
nuôi cấy in vitro, tế bào được trẻ hoá thông qua quá trình phản phân hoá để trở
về trạng thái phôi sinh. Từ đó cho ra đời những cây con có tuổi sinh lý trẻ hơn,
làm sức sống của cây trồng tăng lên, dẫn đến tăng năng suất và chất lượng sản
phẩm [12]. Những kỹ thuật này, ở nước ngoài đã được áp dụng trên phần lớn
cây trồng. Đối với cây thuốc, giống địa hoàng, ở Trung Quốc, Hàn Quốc, bạch
truật ở Nhật Bản…. cũng đã thành công theo phương pháp này.
Sở dĩ nuôi cấy in vitro có thể chủ động trong sản xuất do có những điểm
khác biệt so với các phương pháp nhân giống truyền thống đó là, nhân giống in

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status