HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Bài tìm hiểu:
Đạo Hòa Hảo ở Việt Nam
Lớp: KH14-Nhân sự 1
Họ tên:
Hoàng Thị Diên (nhóm trưởng)
Hoàng Thị Tuyết Mai
Nông Kim Cúc
Nguyễn Thị Tươi
Trần Thị Lan
Hà Nội ngày
tháng
năm
Mục lục
I: Lời mở đầu
II: Tìm hiểu chung về đạo Hòa Hảo
1: hoàn cảnh ra đời đạo hòa hảo
2.Sự phát triển
2.1.Thời kỳ Nhật xâm chiếm
2.2 1947-1963 lực lượng võ trang.
2.3. Thời kì 1963-1975
2.4. Thời kì sau 1975
.III: Cấu trúc đạo Hòa Hảo
Đạo hòa hảo hay còn gọi là phật giáo hòa hảo ra đời ở miền Tây Nam Bộ
vào những năm cuối thập kỉ 30 của thế kỉ XX.Thời kì này,thực dân Pháp câu kết
với giai cấp địa chủ tư sản bóc lột các tầng lớp nhân dân vô cùng dã man cả về
vật chất cũng như tinh thần.
Cuộc sống của người dân hầu như bế tắc. Các phong trào đấu tranh chống đế
quốc Pháp và bẽ lũ phong kiến đều bị thực dân đàn áp. Nhiều tầng lớp nhân dân
cũng có tâm trạng bi quan,chán chường trong cuộc sống hiện thực,có nhu cầu
được an ủi,giải thoát về mặt tinh thần.
Trong xã hội các tôn giáo truyền thống như Nho,Phật,Lão tỏ ra bất lực
trước thời cuộc.Hệ tư tưởng tư sản không phù hợp với số đông quần chúng lao
động.Hệ tư tưởng vô sản chưa thật sự ăn sâu,bám rễ và phổ biến rộng rãi.
Người dân Tây Nam Bộ (phần lớn là nông dân) sống trong hoàn cảnh nghèo
túng,trình độ học vấn lúc đó có hạn nên ít chú ý tới những vấn đề triết lí cao siêu
rối rắm của các tôn giáo truyền thống. Họ có xu hướng đơn giản hóa các triết lí
cao siêu đó.Đặc biệt,họ đề cao tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm,ngợi ca
những gương trung liệt như Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung
Trực…
Trước khi đạo Hòa Hảo ra đời,ở miền Tây Nam Bộ đã hình thành và tồn tại
nhiều phong trào quần chúng mang màu sắc tôn giáo như đạo Bửu sơn kì
hương,đạo Tứ ân hiếu nghĩa.
Đạo bửu sơn kì hương là một môn phái thiền của phật giáo do Đoàn Minh
Huyên(1807) quê ở Sa Đéc, một sĩ phu yêu nước thời Gia Long sáng lập ở vùng
núi Thất Sơn-Châu Đốc. Thông qua tổ chức tôn giáo này ông có ý định tập hợp
các lực lượng chống pháp.Đạo Hòa Hảo chịu ảnh hưởng tư tưởng rất lớn của
phái thiền Bửu sơn kì hương.
Đạo Tứ ân hiếu nghĩa được sáng lập bởi Đức Bổn sư Ngô Lợi ( 1831-1890).
Đạo này đề cao vai trò nghĩa vụ và trách nhiệm của con người,khơi gợi truyền
thống yêu nước,kêu gọi mọi người đứng dậy chống ngoại xâm,giải quyết mối
Tháng 8/1945 ông có tham gia tổng khởi nghĩa.sau đó được mời tham gia ủy
ban kháng chiến Nam Bộ,với tư cách là đại biểu cho đồng bào theo đạo Hòa
Hảo.
Năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng với những người lãnh đạo Hòa Hảo
thành lập tổ chức việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng gọi tắt là "Đảng Dân xã"
vào Tháng Chính năm 1946 bao gồm lực lượng nòng cốt trong Hòa Hảo và tổ
chức Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng. Đảng Dân xã có điều lệ và chương
trình hành động, cơ cấu tổ chức riêng, có vai trò như một tổ chức chính trị. Từ đó
Hòa Hảo vừa có đạo vừa có đảng mang hình thức gần với một tổ chức chính trị.
Khối Hòa Hảo còn tổ chức lại lực lượng vũ trang vào Tháng 6 năm 1946 mang
tên "Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc liên đội nguyễn Trung Trực"
2.2 1947-1963 lực lượng võ trang.
Năm 1947 ông qua đời trong một biến cố ở Đốc Vàng-Châu Đốc.Nhân đó
bọn phản động lôi kéo các tín đồ phản đối,chống Việt Minh.Pháp ào ạt vũ trang
cho Hòa Hảo,lập các vùng căn cứ chống lại kháng chiến tiêu biểu là:
-Lê Quang Vinh(Ba Cụt) vùng Long Xuyên
-Trần Văn Soái( Năm Lửa) vùng Cần Thơ.
-Lâm Thành Nguyên( Hai Ngoán) vùng Châu Đốc.
- Nguyễn Giác Ngộ vùng Chợ Mới-Long Xuyên.
Những năm 1946,1947,1948 lực lượng vũ trang Hòa Hảo phát triền mạnh với
khẩu hiệu:” cứu nước,chống cộng,giữ đạo,thờ thầy”tổ chức nhiều cuộc tấn công
vào cơ sở kháng chiến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, gây thiệt hại cho cách
mạng.
Đến năm 1954 tổng số tín đồ đạo Hòa Hảo khoảng trên 1 triệu người.
Năm 1955 Chính phủ Đệ nhất cộng hòa được thành lập và mở những
cuộc hành quân như "Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng" rồi "Chiến dịch Nguyễn
Huệ" để bình định các giáo phái thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo
như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp.Quang
tổ chức hành hương về Tổ đình (nơi sinh sống của gia tộc ông Huỳnh Phú Sổ).
Ngày 26-5-1999, Đại hội đại biểu đạo Hòa Hảo lần thứ I được tổ chức tại An
Giang, thông qua chương trình đạo sự, quy chế tổ chức, hoạt động của Ban đại
diện, đồng thời đã bầu ra Ban Đại diện nhiệm kỳ I và ngày 11-6-1999, Ban Tôn
giáo của Chính phủ đã chấp thuận quy chế đạo Hòa Hảo, tổ chức hoạt động và
nhân sự của Ban đại diện và cho đến nay, hoạt động của đạo Hòa Hảo đã trở nên
bình thường.Các tín đồ Hòa Hảo làm tốt việc đời,việc đạo,mong xây dựng đời
sống ấm no hạnh phúc.
Tuy nhiên có không ít kẻ phản động mượn danh đạo để chống phá cách
mạng,hò la “hiệp tác liên tôn” để “chấn hưng Tổ Quốc. Tháng 4/2001 Lê Quang
Liêm,tự xưng là người đứng đầu hệ phái phật giáo Hòa Hảo tuyên truyền xuyên
tạc về các chủ trương chính sách của đảng,âm mưu của Lê Quang Liêm là gây
biểu tình,chống phá nhà nước
III: Cấu trúc đạo Hòa Hảo
1: Cấu trúc đạo hòa hảo
1.1: giáo lý hòa hảo
Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ
biên soạn, bao gồm 6 tập:
1. Sấm khuyên người đi tu niệm
2. Kệ của người Khùng
3. Sấm giảng
4. Giác mê tâm kệ
5. Khuyến thiện
6. Những điều sơ học cần thiết của kẻ tu hiền
Giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương,
gồm phần “Học Phật” và phần “Tu Nhân”.
Nội dung giáo lý có hai phần : Học Phật và Tu Nhân
* Bát nhẫn là 8 điều nhẫn nhịn để vượt qua được những thử thách trong xử thế
và tu tập:
+Nhẫn năng:giữ cách xử thế với đời.
+Nhẫn giới: giữ nghiêm giới luật
+Nhẫn hương lân: giữ tình làng xóm
+Nhẫn phụ mẫu: giữ tình hiếu thảo với cha mẹ
+Nhẫn tâm: giữ lòng an định
+Nhẫn đức: giữ cho tính điềm đạm
+Nhẫn thành: giữ thành tâm thành tín.
Phần học phật của đạo Hòa Hảo cho rằng con người ta do tam nghiệp, lục
dục, ngũ uẩn, ngũ trược…nên phạm các điều các, chịu đau khổ trong vòng luân
hồi sinh tử. chỉ khi có chân pháp, hiểu được tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên thì
mới diệt được ác pháp và đồng thời phải tu theo bát chính đạo, chịu “ bát nhẫn”
thì mới có thiện pháp để thoát khỏi luân hồi sinh tử trở thành bậc hiền nhân
Phần Tu Nhân: Tu Nhân là tu “tứ ân hiếu nghĩa”, bao gồm: ân tổ tiên cha mẹ,
ân đất nước, ân đồng bào nhân loại, ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).
- Ân tổ tiên cha mẹ: phải hiếu nghĩa, nghe lời răn dạy, không làm điều xấu,
chăm sóc cha mẹ lúc già yếu ốm đau.
- Ân đất nước: yêu quê hương, góp phần làm cho quê hương giàu mạnh, bảo
vệ đất nước khi có ngoại xâm, không được phản bội làm tay sai cho ngoại bang.
- Ân đồng bào nhân loại: Đồng-bào ta và ta cùng chung một chủng-tộc, cùng
một nòi-giống rồng tiên, cùng có những trang lịch-sử vẻ-vang oanh-liệt, cùng
tương trợ lẫn nhau trong cơn nguy- biến, cùng chung phận-sự đào-tạo
một tương-lai rực rỡ trong bước tiền đồ của giang-sơn đất nước. Đồng-bào ta và
ta có một liênquan mật-thiết không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và
chẳng khi nào có ta mà không có đồng-bào, hay có đồng-bào mà không có ta.
Thế nên ta phải ráng giúp đỡ họ hầu đền đáp cái ơn mà ta đã thọ trong muôn
một.
năm Kỷ Mão (tức 4/7/1939) được ông chọn làm ngày khai đạo, khi ông chưa
tròn 20 tuổi.Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi
làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa
Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo. Ông đã được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ
Hòa Hảo.
Huỳnh Phú Sổ được xưng tụng là Phật thầy mượn thân xác mình để cứu độ
chúng sinh. Ông làm nhiều bài ca dao, thơ ca, nói thiên cơ, sau được tập hợp lại
thành bài giảng "Giác mê tâm kệ" có phần gần gũi tư tưởng thần bí, tín ngưỡng
dân gian nên trong hoàn cảnh đời sống nhân dân Nam Bộ đầu những năm 40
thế kỷ 20 dễ đi vào lòng người, được quần chúng tin theo. Người tính dồ Phật
Giáo Hòa Hảo có một câu răn lòng mình là: "Một đời, một đạo đến ngày
chung thân".
1.3:Nghi lễ và tổ chức
Đạo Hoà Hảo chủ trương tu tại gia hơn là đi lễ chùa. Họ chủ trương giúp đỡ
người nghèo hơn là cúng tiền xây chùa hay tổ chức lễ hội tốn kém. Những buổi
lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè. Lễ lộc,
cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác. Họ
cho đó là những sự phung phí thay vì dùng tiền đó dể giúp đỡ những người thực
sự cần đến.
Đạo Hòa Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số
chức sắc lo việc đạo và cả việc đời. Không có nơi thờ công cộng, trung tâm của
đạo ở làng Hòa Hảo gọi là tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc. Đạo này không
xây dựng chùa chiền, không có tượng ảnh thờ. Vật thờ của đạo Hòa Hảo là
miếng vải đỏ (trần điều) trên bàn thờ (còn gọi là trang thờ) đặt ở gian chính giữa
và xây một bàn thông thiên ở sân trước của nhà. Việc thờ phụng này thể hiện tư
tưởng của Phật giáo: "Phật tại tâm, tâm tức Phật". Đạo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà
tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với đất nước, không thờ các thần thánh
nếu không rõ nguyên nhân.
lại trị đâu hết đó, nhất là những bệnh đau tà hay điên cuồng thì càng làm cho
người đời phải đặt ra câu hỏi: Đây có lẽ có phải là một vị Tiên, Phật, Thánh,
Thần chi chi mượn xác phàm để ra đời cứu thế chăng?
Từ chỗ nghi ngờ phát sanh lòng tin tưởng Nghi sanh Tín). Ðức tin đó càng ngày
càng tăng trưởng do hành động hay phương pháp chữa trị của Ðức Huỳnh Giáo
Chủ.
- Chữa căn ( giải đáp nguồn gốc phát sinh bệnh tật, bệnh do yếu tố gì gây nên,
do đó bệnh căn học là một vấn đề cơ bản của y học)chứ không chữa quả, nghĩa là
bệnh nào đau căn thì Ngài nhận chữa, còn bệnh nào đau về nghiệp quả(gieo nhân
nào thì gặp quả nấy)thì Ngài từ chối. Như có lần (ở Nhơn Nghĩa) có một bệnh
điên chở đến; Ngài cũng cho uống thuốc và làm cho con bệnh bớt điên, nhưng
Ngài bảo thân nhân chở về nhà, rán cầu nguyện và làm phước may ra mới bớt.
Điều này chứng tỏ Ngài soi rõ căn quả của con bệnh, bệnh nào thuộc về căn,
bệnh nào thuộc về quả. Đó cũng là bằng chứng Ngài là bực siêu phàm mới có
năng khiếu ấy.
- Trong lúc chữa trị, với những bệnh hung tợn, Ngài thường kêu gọi chư Thần,
chư vị sai khiến, như bảo trói hay khảo tra thì liền sau đó con bệnh tự trói lấy, tự
lấy roi đánh vào người rồi lăn lộn than khóc van xin Ngài không cho khảo tra
nữa, nó cũng công khai. Ngài sai khiến luôn cả chư thần như thế, hẳn Ngài là
bực phi phàm: Phật Tiên Thần Thánh mới có uy lực sai thần tróc quỉ như vậy.
- Có nhiều chứng bệnh Ngài không chữa bằng phương pháp huyền diệu như
cho uống lá cây hay các thứ bông mà lại bằng phương pháp thường của một vị
lương y như bao nhiêu lương y trong làng, nghĩa là Ngài ra toa, rồi cầm toa ấy lại
tiệm thuốc Bắc, hốt thuốc về sắc uống. Ngài có học thuốc Bắc hồi nào đâu?Thế
mà Ngài viết các tên thuốc rất đúng, đến các thầy thuốc Bắc cũng phải kinh
ngạc.Điều này chứng tỏ Ngài không phải là hạng thường nhơn.
- Mỗi khi Ngài chữa bệnh, thường bắt con bệnh uống nước cúng Phật và khi
lành mạnh, bắt phải lạy bàn thờ Phật. Ngoài ra Ngài còn dạy khi về nhà rán niệm
-tạo động lực về tinh thần để phát huy hoạt động.
-tăng cường tinh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ lần nhau trong khó khăn
-. Phật Giáo Hòa Hảo cũng đã chứng tỏ được sự cố gắng đóng góp công lao vào
nỗ lực bảo vệ và phát triển quốc gia nối tiếp truyền thống của lực lượng.
2.2:nhược điểm:
-Phật Giáo Hòa Hảo thiếu hẳn các cán bộ thuần túy, hoạt động đôi khi còn thiếu
tổ chức và phương pháp. Nhân sự đông đảo mà thành quả chưa tương xứng.
-Phật Giáo Hòa Hảo không có một “Qũy Tương Trợ” nào dành cung ứng cho
hoạt động xã hội. Mọi trợ giúp đến nay vẫn chỉ trông chờ vào sự đóng góp của
tín đồ. Hẳn nhiên sự tin tưởng đó không mang lại kết quả mong muốn.
-thực lực chia rẽ gây nhiều khó khăn trong hoạt động quản lý,dễ gây ra rối loạn
và bị các thế lực xấu lôi kéo.
-lập trường không đồng nhất.các đại diện không phản ánh đúng trung thực
khuynh hướng mà mình đại diện
IV:Các chính sách và hoạt động quản lí nhà nước về tôn giáo:
1:các chính sách của nhà nước đối với tôn giáo:
Trước tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, với chính sách tự do tín
ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đông
đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó,
đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết đồng bào tôn giáo với đồng bào không theo
tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tham gia
xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên
những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới quê hương, đất nước. Nhà nước
Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được in ấn kinh sách, sửa sang,
làm mới cơ sở thờ tự, tổ chức sinh hoạt bình thường. Hoạt động xã hội, nhân
đạo, từ thiện của các tôn giáo ngày càng được mở rộng. Các tổ chức giáo hội
thực hiện tốt cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu
dân cư”. Các đoàn thể đẩy mạng công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương,
đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong đồng bào tôn
giáo, tích cực phát triển đoàn viên, hội viên, tăng cường xây dựng lực lượng
nòng cốt cho phong trào quần chúng ở địa phương.
Công tác quản lý Nhà nước có chuyển biến, đã từng bước xây dựng và hoàn
thiện khung pháp lý về tôn giáo. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp
lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ có Nghị định số 22/NĐ-CP ngày 01/3/2005
Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo…
Chính phủ và các địa phương đã giải quyết kịp thời, đúng quy định pháp luật
về nhu cầu hoạt động tôn giáo và một số nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá
nhân tôn giáo, như phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc
các tôn giáo; cho xây mới và cải tạo nhiều cơ sở thờ tự. Nhiều tỉnh, thành đã tích
cực giải quyết việc lập hồ sơ, xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
các tôn giáo; tạo điều kiện thuận lợi để các tôn giáo sinh hoạt bình thường, đúng
theo tinh thần Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7
(khóa IX) về Công tác tôn giáo đã nêu: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân, đã, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện
nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận
động quần chúng. Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp
theo quy định của pháp luật.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục
hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng
trong giai đoạn mới của đất nước; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ
sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Bốn là, thực hiện tốt hơn công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, tạo điều
kiện giúp đỡ Đại hội, Hội nghị thường niên của các tổ chức tôn giáo, xem xét
cho đăng ký hoạt động một số tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Xử
lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để kích động, chia rẽ tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an
ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ trương, các kết luận
của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ đối với công tác tôn giáo hiện nay. Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
vững mạnh, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng đông tôn giáo.
Sáu là, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội phối
hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tuyên truyền sâu rộng các chủ trương,
chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo. Vận
động chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo” thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ
công dân, tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng và thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa ở khu dân cư”. Hướng dẫn các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, phát huy
những giá trị văn hóa đạo đức lành mạnh, hướng thiện của các tôn giáo phù hợp
với văn hóa truyền thống dân tộc.
Bảy là, công tác đối ngoại tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo
trong tình hình hiện nay, cần chủ động và tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa
các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành trong việc đối thoại và xử lý những vấn đề
tôn giáo nhạy cảm đang được các thế lực thù địch lợi dụng chiến lược “diễn biến
hòa bình” để xuyên tạc tình hình tôn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam, gây sức ép với Nhà nước về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân
quyền. Tích cực triển khai công tác đấu tranh ngăn chặn chống đối trong các tôn
giáo. Thực hiện tốt công tác tranh thủ, động viên và với những phần tử lợi dụng
Bên cạnh đó, Nhà Nước còn có những quy định về phạm vi hoạt động của
Hội đoàn tôn giáo, hay các dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác
của tôn giáo muốn hoạt động phải đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tuy nhiên để đảm bảo an ninh trật tự và bảo đảm sự bình đẳng giữa người
theo đạo và không theo đạo, Nhà nước có những quy định cấm không cho nhập
tu đối với người trốn tránh pháp luật và nghĩa vụ công dân. Việc quy định như
vậy đảm bảo cho việc nhập tu được thực hiện minh bạch, trong sáng, tránh
không cho những trường hợp nhập cư với mục đích hay động cơ nhằm trốn tránh
không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hay thực hiện một số nghĩa vụ công
dân, đảm bảo trật tự, an toàn xã hôi.
B: Đối với việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo và hoạt động tôn giáo khác.
Nội dung này được Nhà nước khá chú trọng bởi mỗi năm ở khắp trong và
ngoài nước diễn ra rất nhiều nghi lễ cùng như hoạt động tôn giáo. Cụ thể Nhà
nước hướng dẫn các chức sắc tôn giáo nắm vững và thực hiện đúng các quy định
của Nhà nươc về hoạt động đối ngoại của các tôn giáo, về việc cử các chức sắc
hoặc tôn giáo ra nước ngoài , hay đón các đoàn tôn giáo ở nươc ngoài vào Việt
Nam.
Hàng năm, người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở phải đăng kí với chính
quyền chương trình hoạt động tôn giáo diến ra cơ sở đó, đặc biệt các ngày lễ
trong năm. Tuy nhiên khi có sự thay đổi quan trọng trong chương trình phải báo
cáo và được sự động ý của ủy ban nhân dân cấp xã.
1 :Theo quy định tại phap lệnh tín ngưỡng, tôn giáo cơ sở được tiến hành sau khi
có sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra hội nghị, đại hội
2: Việc tổ chức hội nghị, đại hội cấp trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn
giáo được tiến hành sau khi có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về
tôn giáo ở trung ương.
3: Việc tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc các trường
hợp quy định tại khoản 1 và 2 Điều nay được tiến hành sau khi có sự chấp thuận
Nhà nước. Cơ sở thờ tự của tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước để sử dụng
vào các việc công ích như trường học, bệnh viện...thì không đặt vấn đề trả lại.
Quy định này rất phù không chỉ trên cơ sở pháp luật mà còn trên cả tính nhân
đạo của tôn giáo.
E : Đối với việc đào tạo, bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo.
Nhà nước tạo điều kiện tối đa cho các tôn giáo đào tạo chức sắc, nhà tu hành
trong nước tại các cơ sở đào tạo đã được Nhà nước cho phép. Ngoài ra, các tôn
giáo có thể cử các chức sắc , nhà tu hành đi đào tạo ở nước ngoài nếu thực sự có
nhu cầu. Nhà nước còn cho phép các giảng viên giảng dạy ở các trường đào tạo
trong nước.
Bên cạnh đó các tổ chức tôn giáo phải đưa các môn học về lịch sử Việt
Nam hay pháp luật Việt Nam vào chính khóa của các trường đào tạo những
người chuyên hoạt động tôn giáo. Với quy định này, Nhà nước dã đưa đường lối,
chủ trương cũng như tôn chỉ mục đích hoạt động của đất nước đến từng tổ chức
tôn giáo, giúp nâng cao vai trò, vị thế của đất nước đối với những giáo dân, mặt
khác trực tiếp tuyên truyền trực tiếp chính sách, hay các quy định của pháp luật
nhằm giúp các giáo dân ở các tổ chức tôn giáo thực hiện đúng đương lối- chủ
trương của Đảng và Nhà nước
3: thực trạng hoạt động và ảnh hưởng của đạo Hòa Hảo đến đời sống người
Việt Nam
3.1 thực trạng hoạt động của đạo Hòa Hảo
Cùng với các chủ trương chính sách và hoạt động quản lý của nhà nước thì
hoạt động của đạo hòa hảo cũng có sự thay đổi và phát triển nhất định.
Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo ra đời ở Nam Bộ từ những năm 1939,có
số lượng tín đồ tương đối lớn và là một trong những tôn giáo ở Việt Nam đã có
tổ chức hoạt động hợp pháp. Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo cách tân, có xu
hướng nhập thế, đạo rất coi trọng hoạt động từ thiện xã hội. Vì vậy trong hiến
chương của giáo hội phật giáo Hòa Hảo đã xác định đường hướng hành đạo là