VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------
NGÔ TRƢỜNG LONG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------
NGÔ TRƢỜNG LONG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
:
60.38.01.02
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa ................ 8
1.2. Nguyên tắc, nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về
văn hóa ............................................................................................................ 13
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa ........................ 19
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA
TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ...................................... 28
2.1. Các yếu tố đặc thù của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng có ảnh
hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa......................................................... 28
2.2. Thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 32
2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng .................................................................. 44
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA TẠI QUẬN CẨM LỆ ............... 51
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận
Cẩm Lệ ............................................................................................................ 51
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận
Cẩm Lệ ............................................................................................................ 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMNN
: Bộ máy nhà nước
CCHC
Trong quá trình hội nhập sự giao lưu và tiếp biến về văn hóa sẽ diễn ra
như một quy luật vận động của tự nhiên. Ngày nay điều phân biệt giữa quốc
gia này với quốc gia khác không chỉ còn là đường biên giới, mà đó là nền văn
hóa mang đậm tính dân tộc với những sắc ấn riêng biệt. Để bắt nhịp vào quá
trình phát triển chung của toàn cầu, để hòa nhập mà không bị hòa tan vào
cộng đồng chung đó đòi hỏi những nét văn hóa đặc sắc tiêu biểu của dân tộc
Việt Nam phải luôn được giữ gìn và không ngừng phát triển để tạo dấu ấn,
bản sắc riêng trong thời đại mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa
XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước đã tiếp cận và đề cập theo nghĩa rộng và bao
quát. Đồng thời chỉ ra các lĩnh vực cụ thể của văn hóa trong đời sống và trong
cấu trúc xã hội. Từ đó xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát
triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - m , thấm nhuần tinh thần dân tộc,
nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần
vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển
bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng ngàn năm lao động sáng tạo,
đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của các nền văn minh thế giới.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập kinh tế quốc tế, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đang diễn ra ngày
sâu rộng, góp phần củng cố thêm bản sắc văn hóa dân tộc, mang lại những
thành tựu nhất định, phục vụ tích cực và có hiệu quả cho quá trình phát triển
1
của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực cũng xuất hiện
những hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa như: sự suy thoái về đạo
để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân.
Là một học viên học ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính hiện
đang công tác tại cơ quan Đảng nên tôi rất muốn đưa pháp luật và các văn bản
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng tác động sâu rộng hơn đến công tác quản lý nhà
nước về văn hóa trên địa bàn quận, qua đó đóng góp một phần công sức, trí tuệ,
tháo gỡ những khó khăn và nâng tầm quan trọng của lĩnh vực văn hóa trong
tổng thể các điều kiện phát triển của địa phương. Vì vậy tôi đã chọn đề tài
“Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”
làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Quản lý nhà nước về văn hóa là đề tài thu hút nhiều cơ quan nghiên cứu
khoa học và các nhà khoa học nghiên cứu, thể hiện ở các đề tài khoa học, luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các bài viết. Kết quả nghiên cứu của nhiều công
trình khoa học về vấn đề này đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí, luận
văn, luận án, tạp chí và các ấn phẩm khoa học… Sau đây là những công trình
khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn:
GS. TS Hồ Tôn Trinh, chủ nhiệm đề tài “Hệ quan điểm về mối quan hệ
giữa văn hóa và phát triển”. Tác giả đã nêu lên cơ sở lý luận và phương pháp
luận nghiên cứu vấn đề văn hóa và phát triển trên cơ sở nghiên cứu kinh
nghiệm của thế giới và dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. GS. TS Hồ Sĩ Quý chủ nhiệm đề tài “Cơ sở phương
pháp luận của việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn
nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhâp kinh
tế”. Tác giả đã nêu lên hàng loạt vấn đề do cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại, do nền kinh tế thị trường, do toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế,
giao lưu văn hóa đang đặt ra những vấn đề mới trong nghiên cứu và phát triển
văn hóa, con người và nguồn nhân lực thế giới ở Việt Nam.
3
chính quyền từ thực tiễn huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang” của tác giả
Nguyễn Văn Phụng; luận văn “Quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện Yên
Thế, tỉnh Bắc Giang hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương... và nhiều
công trình khác.
Tuy nhiên, đề tài quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm
Lệ, thành phố Đà Nẵng hiện nay chưa có công trình nghiên cứu. Vì vậy, luận
văn này tập trung đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng quản lý của quận Cẩm Lệ về lĩnh vực văn hóa giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm
Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên
quan đến quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Từ đó, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và
nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong quản lý nhà nước về văn
hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng,
trên địa bàn cả nước nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm về văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam.
- Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về văn
hóa ở Việt Nam.
5
6
tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp hệ thống, phương
pháp so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu luận văn đã làm bổ sung và làm phong phú thêm lý
luận về sự lãnh đạo và quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa; thực
tiễn kinh nghiệm quản lý văn hóa ở quận Cẩm Lệ một quận thuộc thành phố
lớn trong khu vực miền Trung – Tây nguyên.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác lãnh đạo
thực tiễn của quận và cấp cơ sở đối với lĩnh vực văn hóa; đồng thời có thể sử
dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các trường chính trị thành phố,
các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp quận, huyện.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về
văn hóa.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
7
CHƢƠNG 1
hóa, có thể đúc kết lại: “Văn hóa là toàn bộ các giá tri vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra nhờ lao động và hoạt động thực tiễn cải tạo tự
nhiên, cải tạo xã hội và phát triển con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu của
con người và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội” [6, tr.81-81].
Như vậy, quản lý nhà nước về văn hóa là “sự quản lý của nhà nước đối
với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước
thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự
phát triển của nền văn hóa” [39, tr.1157].
Quản lý nhà nước về văn hóa có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao quát các
hoạt động quản lý của cả bộ máy nhà nước, bao gồm hoạt động lập pháp của
Quốc hội, hoạt động hành pháp của Chính phủ và các tổ chức hành chính địa
phương và hoạt động tư pháp của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân.
Thông thường, quản lý nhà nước về văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là
hoạt động quản lý của các cơ quan hành pháp, của các tổ chức hành chính nhà
nước từ trung ương đến địa phương trong lĩnh vực văn hóa.
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa
Cũng như sự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác với ý nghĩa là sự
định hướng lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá...,
quản lý nhà nước (QLNN) về văn hóa còn có một số đặc điểm đặc sắc, riêng
biệt sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý bằng pháp luật từ
Trung ương đến địa phương với mục đích cuối cùng là quản lý tất cả các mặt
của văn hóa một cách hài hòa, chuẩn mực và đúng đắn nhất.
Thứ hai, QLNN về văn hóa cũng không thể đơn tuyến. Bởi vì văn hóa
có cơ sở là KT-XH, luôn luôn gắn liền với KT-XH, mà kinh tế xã hội ta có
nhiều thành phần thì văn hóa tất yếu cũng có nhiều thành phần. Kinh tế xã hội
của một quốc gia càng phát triển thì nền văn hóa cũng đứng trước những biến
9
vào quá trình hình thành và vận động của hệ giá trị theo những mục tiêu định
sẵn. Hệ giá trị vốn ổn định nhưng vẫn có sự chuyển đổi dưới tác động của
không gian, thời gian và chủ thể.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, là năng
lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người, là trụ cột phát triển bền
vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại. Một quốc gia có nền tảng văn
hóa hòa nhập và phát triển thì nhân dân phát huy được sức mạnh khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo to lớn và bản sắc văn hóa. Ngày nay, trong
bối cảnh toàn cầu hóa thì vai trò của văn hóa càng được khẳng định, nhất là
trong điều tiết, cân bằng sự phát triển của đất nước, không để sự phát triển
nhanh, nóng, dẫn tới những hệ lụy khó lường cả về kinh tế, văn hóa, xã hội,
v.v. Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai
trò rất quan trọng.
Thứ nhất, trên phương diện vĩ mô, QLNN về văn hóa sẽ góp phần định
hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các
chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục
tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc.
Thứ hai, trên phương diện vi mô, QLNN về văn hóa giúp tạo ra sự ổn
định và đồng thuận trong xã hội thông qua hoạt động quản lý văn hóa trong
các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai
lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn
hóa. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa ngày càng được kiện toàn
theo hướng thiết thực, hiệu quả. Xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật đồng bộ, có giá trị pháp lý cao trên lĩnh vực văn hóa, tạo điều
kiện để hoạt động quản lý ngày càng thuận lợi. Qua đó, đã tạo điều kiện cho
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong kinh doanh và hoạt động văn
11
1.2. Nguyên tắc, nội dung, hình thức và phƣơng pháp quản lý nhà
nƣớc về văn hóa
1.2.1. Nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hóa
Nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hóa là những tư tưởng, quan điểm
chỉ đạo tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa theo một
thể thống nhất. QLNN về văn hóa phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân
làm chủ. Đảng lãnh đạo thông qua các quan điểm, chủ trương, chính sách thể
hiện trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị; thông qua việc xây dựng bộ máy,
đội ngũ cán bộ của Đảng tham gia vào bộ máy chính quyền nhà nước.
Thứ hai, nguyên tắc nhà nước quản lý là thực hiện quyền lực chính trị
của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thể hiện qua Hiến pháp, luật và các văn
bản dưới luật để quản lý, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương
đến địa phương, ủy ban văn hóa xã hội của Quốc hội, xây dựng cơ chế chính
sách, bộ máy cán bộ công chức, viên chức nhà nước để thực thi các nhiệm vụ
về văn hóa.
Thứ ba, nguyên tắc nhân dân làm chủ thông qua Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội…từ đó nhân dân tham gia xây
dựng, đóng góp và giám sát việc thực hiện công tác quản lý văn hóa của nhà
nước.
Thứ tư, nguyên tắc phân định quản lý hành chính và quản lý sự nghiệp
văn hóa. Cần phân định rõ chức năng quản lý hành chính nhà nước về văn hóa
thông tin bộ, vụ, cục, UBND tỉnh, sở, phòng…quản lý bằng luật pháp, phi lợi
nhuận và chức năng hoạt động sự nghiệp văn hóa của các đơn vị nghiệp văn
hóa từ trung ương đến địa phương như: nhà hát, các đoàn nghệ thuật, bảo
tàng, thư viện, trung tâm văn hóa thông tin, viện nghiên cứu
13
14
- Trong quản lý nhà nước về văn hoá – xã hội, nhà nước ban hành các
chính sách nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹp của văn hoá
truyền thống, xây dựng nếp sống văn hoá mới… Bên cạnh đó cũng ban hành
nhiều văn bản pháp luật quy định những khuôn mẫu ứng xử trong xã hội như
Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình; hay Quy chế thực hiện nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội do Thủ tướng Chính phủ ban hành
ngày 25/11/2005…
- Trong quản lý nhà nước về di sản văn hoá: nhà nước ban hành các
chính sách và pháp luật để phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hoá. Luật Di sản văn hoá năm 2001 là một văn bản pháp lý quan
trọng.
1.2.2.2. Xây dựng bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện quản lý nhà
nước về văn hoá
Trước tiên, xây dựng bộ máy quản lý chính là việc lập ra bộ máy hoạt
động và tuyển dụng nhân sự cho bộ máy này. Bộ máy quản lý bao gồm: Cơ
quan có chức năng quản lý nhà nước về văn hoá là Chính phủ; Bộ văn hoá,
thể thao và du lịch (cấp trung ương); UBND là cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá trong địa
phương mình theo quy định của pháp luật. Hiện nay, hệ thống tổ chức bộ máy
quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa ngày càng được kiện toàn và củng cố.
Công tác “chuẩn hóa” cán bộ bước đầu phát huy tác dụng; đội ngũ cán bộ
quản lý ngành văn hóa được đảm bảo về phẩm chất chính trị, chuyên môn,
nghiệp vụ, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học,…
Việc tổ chức thực hiện QLNN về văn hóa bao gồm một khối lượng
công việc rất lớn trong đó quan trọng là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;
xây dựng và chỉ đạo quy hoạch, kế hoạch; ban hành và tổ chức thực hiện các
dưới luật được ban hành để giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
trong lĩnh vực văn hóa, bởi lẽ hoạt động văn hóa là rất rộng, liên quan hầu hết
16
đến các vấn đề trong đời sống xã hội nên tùy vào từng lĩnh vực mà có những
văn bản pháp luật điều chỉnh cụ thể, đối với lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố
cáo: Luật tiếp công dân năm 2013, Luật khiếu nại Luật tố cáo và các văn bản
hướng dẫn thi hành, Luật xử lý vi phạm hành chính…; đối với xử lý vi phạm
trong lĩnh vực văn hóa áp dụng: Luật Di sản vǎn hóa, Luật Điện ảnh, Luật
Thể dục thể thao, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Du lịch, Luật Bình đẳng giới, Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Quảng cáo, Pháp lệnh Thư viện,…Từ đó,
các cơ quan QLNN về văn hóa tiến hành giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý
khi có sai phạm xảy ra, ví dụ như tại điều 71, chương VI, luật di sản văn hóa
2001 quy định: “Người nào vi phạm các quy định của pháp luật về di sản văn
hóa thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.”
Trong xu hướng xã hội hoá văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảy
sinh ngày càng nhiều, vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý cần phải
được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức
hoạt động một cách chặt chẽ với các bộ, ngành khác. Như vậy mới có khả
năng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý nhà nước về
văn hoá đã đề ra.
1.2.3. Hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về văn hóa
Hình thức quản lý nhà nước về văn hóa là sự biểu hiện ra bên ngoài của
hoạt động quản lý, cùng loại về nội dung, tính chất và phương thức tác động
của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực
của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách nhằm
đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa.
giới hạn do pháp luật quy định.
Phương pháp QLNN được thể hiện dưới những hình thức như: ban
hành VBQPPL, ban hành văn bản ADQPPL, thực hiện các hoạt động khác
mang tính pháp lý.
18
Ngoài ra, phương pháp QLNN về văn hóa phải được tiến hành trong
khuôn khổ của pháp luật, nhất là những phương pháp có tính chất hạn chế
quyền của đối tượng quản lý. Các phương pháp này được pháp luật quy định
chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng.
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về văn hóa
1.3.1. Chính sách và pháp luật
1.3.1.1. Chính sách
Chính sách văn hóa là những cơ chế ưu tiên của nhà nước để phát triển
một lĩnh vực văn hóa hay một đối tượng văn hóa nào đó trong xã hội, chẳng
hạn như chính sách phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa, chính sách ưu tiên cho văn nghệ sĩ, chính sách bảo tồn các giá
trị văn hóa truyền thống... Chính vì vậy, trong một giai đoạn thời gian nhất
định, một địa phương cụ thể chính sách quản lý ảnh hưởng to lớn đến sự phát
triển hay suy thoái của văn hóa.
Thứ nhất, chính sách văn hóa giúp xây dựng và định hướng hoạt động
QLNN về văn hóa. Những cơ chế, mục đích trong chính sách văn hóa là cái
đích thực hiện của công tác quản lý; các cơ quan chức năng liên quan phải
thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để hoàn thành những chỉ tiêu, cơ chế ưu
tiên trong chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước.
Thứ hai, chính sách văn hóa tạo ra những cơ chế đặc thù giúp phát triển
văn hóa một cách lộ trình và hợp lý. Tùy theo tình hình thực tế của địa bàn mà
ở đó sẽ có những chính sách cụ thể nhằm áp dụng để phát triển văn hóa một
cách tốt nhất, bởi lẽ để có một chính sách đúng đắn thì các cơ quan lãnh đạo